Luận văn về Biện pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục để xây dựng trường THCS đạt chuẩn quốc gia ở tỉnh Quảng Nam - Pdf 26

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Xã hội hóa giáo dục là một tư tưởng chiến lược được Đảng và Nhà nước ta
xác định ngay từ khi hình thành nền giáo dục cách mạng. Quan điểm đó được
Đảng chỉ đạo xuyên suốt qua đường lối phát triển giáo dục và được khẳng định là
xây dựng một nền giáo dục “Của dân, do dân, vì dân, được xây dựng trên
nguyên tắc khoa học, dân tộc và đại chúng”. Từ sau các mạng tháng 8 năm 1945,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành sắc lệnh 146/SL ngày 10/8/1946, trong đó
khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Người kêu gọi “Toàn dân
tham gia diệt giặc dốt theo phương châm: Người biết dạy cho người chưa biết …
ai cũng phải học”. Người xác định ba nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục nước
nhà là “Đại chúng hóa, dân tộc hóa, khoa học hóa và tôn chỉ phụng sự lý tưởng
quốc gia và dân chủ”. Từ đó đến nay tư tưởng này đã được Đảng ta khẳng định
qua nhiều văn kiện.
Ngày 11 tháng 01 năm 1979, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 14-
NQ/TW về cải cách giáo dục và đã xác định phương châm “ Phối hợp những cố
gắng đầu tư của Nhà nước với sự đóng góp của nhân dân, của các ngành, các cơ
sở sản xuất và sức lao động của thầy trò trong việc xây dựng trường sở, phòng
thí nghiệm, xưởng trường, vườn trường”.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII khẳng
định: “Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân.
Mọi người đi học, học thường xuyên, học suốt đời. Phê phán thói lười học. Mọi
người chăm lo cho giáo dục. Các cấp ủy và tổ chức kinh tế xã hội, các gia đình
và cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp Giáo dục
- Đào tạo. Kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội,
tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi nơi, trong cộng đồng, trong tập
thể ”.
- 1 -
Đến Đại hội Đảng lần thứ IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định “Nhà nước ta
dành tỷ lệ thích đáng, kết hợp đẩy mạnh xã hội hóa phát triển giáo dục - đào tạo.
Huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho giáo dục - đào tạo. Đẩy

xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia. Vì vậy để việc xây dựng trường THCS đạt
chuẩn quốc gia ở tỉnh Quảng Nam trong những năm tới đạt được kết quả tốt hơn
cần phải có những biện pháp tích cực hơn. Một trong những biện pháp tích cực
nhất đó là thực hiện tốt biện pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục để xây
dựng trường THCS đạt chuẩn quốc gia.
Công tác xã hội hóa giáo dục để xây dựng trường THCS đạt chuẩn quốc gia
ở tỉnh Quảng Nam là sự đòi hỏi bức thiết để đẩy mạnh sự phát triển giáo dục
theo tình hình thực tế của tỉnh nhà hiện nay. Bởi lẽ, Quảng Nam là một trong
những tỉnh được thành lập sau, điều kiện kinh tế xã hội đang còn nhiều khó khăn,
vì vậy cần phải có các biện pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục thật tốt để
huy động mọi nguồn lực tham gia xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục nói
chung và trường THCS đạt chuẩn quốc gia nói riêng.
Theo các văn kiện và nghị quyết của Đảng ta về xã hội hóa giáo dục, thì việc
xây dựng các biện pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục để xây dựng trường
THCS đạt chuẩn quốc gia ở tỉnh Quảng Nam hiện nay là sự phù hợp và đáp ứng
các chủ trương của Đảng và Nhà nước. Trong Quyết định số 20/2005/QĐ-
BGD&ĐT ngày 24 tháng 6 năm 2005 về việc phê duyệt Đề án “Quy hoạch phát
triển xã hội hóa giáo dục giai đoạn 2005-2010” của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo có ghi: “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện liên kết các lực
lượng xã hội (Mặt trận Tổ quốc, Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam, Đoàn TN
CS HCM, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân, Hội Khuyến học, Hội
Cựu chiến binh, Ban đại diện cha mẹ học sinh, …) để tạo ra ảnh hưởng tích cực
- 3 -
đối với giáo dục và đào tạo, tập hợp các lực lượng xã hội tham gia xây dựng môi
trường nhà trường từ cơ sở hạ tầng, cảnh quan, nề nếp kỷ cương dạy-học đến các
mối quan hệ bên trong nhà trường và quan hệ nhà trường với xã hội, hỗ trợ nhà
trường tổ chức các hoạt động ngoại khóa … Củng cố và phát triển diễn đàn Đại
hội giáo dục các cấp để thu thập ý kiến đóng góp của mọi lực lượng xã hội, thể
hiện trách nhiệm của xã hội đối với sự nghiệp phát triển giáo dục.”
Với những lý do nêu trên, tôi thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học: “Biện

6. Phạm vi nghiên cứu:
6.1. Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu khía cạnh quản lý công tác xã hội hóa giáo
dục để xây dựng trường THCS đạt chuẩn quốc gia ở tỉnh Quảng Nam.
6.2. Giới hạn khách thể điều tra:
- Lãnh đạo, cán bộ chuyên trách của Sở Giáo dục và Đào tạo.
- Lãnh đạo Đảng, chính quyền, đại diện các ban, ngành ở một số huyện,
thị xã và các xã, phường
- Một số Phòng Giáo dục. (Lãnh đạo, chuyên viên)
- Hiệu trưởng các trường THCS đạt chuẩn quốc gia.
- Hiệu trưởng các trường THCS chưa đạt chuẩn quốc gia.
- Đại diện các đoàn thể các nhà trường và Giáo viên THCS để tham khảo.
7. Các phương pháp nghiên cứu:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích nghiên cứu các tài liệu có
liên quan
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra viết, tổng kết kinh nghiệm,
phương pháp chuyên gia…
8. Cấu trúc luận văn: Luận văn gồm 3 phần: Mở đầu; Nội dung; Kiến nghị và
Kết luận.
- 5 -
Nội dung
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC
Ơ
1.1. Khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định rằng :"Cách mạng là sự nghiệp của
quần chúng". Thực tiễn cách mạng nước ta hơn bảy mươi năm qua đã minh
chứng cho điều đó là hoàn toàn đúng đắn. Cũng vì thế mà suốt trong quá trình
lãnh đạo cách mạng của mình, Đảng ta luôn vận động, tập hợp nhân dân tham gia
xây dựng và phát triển mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực giáo
dục-đào tạo. Quan điểm Êy được thể hiện khá rõ trong thư gửi cán bộ, thầy giáo,
cô giáo, công nhân viên, học sinh nhân dịp bắt đầu năm học mới, (ngày 16. 10.

rất coi trọng việc học, quý mến thầy giáo và quan tâm đến công tác giáo dục thế
hệ trẻ. Dưới thời phong kiến và Pháp thuộc, tuy Nhà nước chỉ mở trường dạy học
dành cho con em các quan lại, các nhà chức trách và con cái nhà giàu nhưng đại
bộ phận nhân dân lao động cũng đã tự lo liệu để cho con em mình được đi học
bằng cách gởi con cho các thầy đồ dạy hoặc do dân tự mở lớp mời thầy về dạy.
Việc nhân dân tự chăm lo cho con em mình được học hành bằng cách kẻ Ýt
người nhiều, kẻ góp công, người góp của bồi dưỡng thầy giáo; cũng như việc
động viên, cổ vũ, tôn vinh người học thành đạt vốn là việc làm của nhân dân ta
đã có từ thời xa xưa. Sự chăm lo vật chất và động viên tinh thần cho người dạy
và người học Êy đã nói lên sự quan tâm của xã hội đối với công tác giáo dục; hay
- 7 -
nói một cách khác, xã hội hóa giáo dục ở nước ta đã xuất phát từ truyền thống
hiếu học và tôn sư trọng đạo này.
Trải qua nhiều thời kỳ, nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, xã hội hóa giáo
dục ở nước ta đã có những bước phát triển mới; nhất là từ khi Đảng Cộng Sản
Việt Nam ra đời lãnh đạo cách mạng tháng 8 thành công, quan điểm giáo dục của
Đảng và Bác Hồ đã được khởi xướng và dấy lên nhiều phong trào học tập rầm
rộ. Khẩu hiệu “Diệt giặc dốt” và sắc lệnh thành lập Nha bình dân học vụ của
Chính phủ đã mở đầu cho nền giáo dục của dân, do dân và vì dân. Cách mạng là
sự nghiệp của quần chúng, giáo dục là một bộ phận của cách mạng, do đó giáo
dục cũng là sự nghiệp của quần chúng. Đáp ứng lời kêu gọi diệt giặc dốt của Bác
Hồ và Chính phủ, phong trào học tập được nhân dân hưởng ứng sôi nổi, phong
trào lan ra rộng khắp từ thành thị đến nông thôn, đâu đâu cũng có người đi học,
đâu đâu cũng có các lớp xóa nạn mù chữ. Tư tưởng giáo dục của Hồ Chủ Tịch có
tính thuyết phục cao và đem lại hiệu quả to lớn. Hình thức tổ chức dạy- học được
thực hiện theo khẩu hiệu hành động “ Người biết chữ dạy người chưa biết, chồng
dạy vợ, cha dạy con”. Ai biết chữ đều có thể tham gia dạy bình dân học vụ. Quan
điểm giáo dục của Đảng và Bác Hồ đã thực sự đi vào lòng dân và đã khơi dậy
được truyền thống hiếu học của dân tộc, tạo nên một sức mạnh tổng hợp vượt
qua mọi khó khăn thử thách để “ai cũng được học hành”. Từ đấy Đảng và nhân

và nâng cao lên một tầm mới.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai của BCH TW khóa VIII đã chính thức đề
cập đến nội dung của công tác xã hội hóa giáo dục: “Nhà nước cần đầu tư nhiều
hơn cho giáo dục nhưng vấn đề rất quan trọng là phải quán triệt sâu sắc và tiến
hành tốt các nguồn đầu tư, mở rộng phong trào xây dựng, phát triển giáo dục
trong nhân dân, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội… Phải coi đầu tư cho
- 9 -
giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển… Phải coi đầu
tư cho phát triển là một trong những hướng chính, tạo điều kiện cho giáo dục đi
trước và phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Huy động toàn xã hội
làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục
quốc dân dưới sự quản lý của của Nhà nước.” [Tr.61]
Trong văn kiện Đại hội lần VIII (1996), Đảng ta một lần nữa đã lại khẳng
định xã hội hóa là một trong những quan điểm để hoạch định hệ thống các chính
sách xã hội. Nghị quyết 90/CP của Chính phủ (tháng 8/1997) nêu rõ phương
hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa. Đến
tháng 8/1999, Chính phủ ban hành tiếp Nghị định số 73/1999 NĐ-CP về chính
sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế,
văn hóa, thể thao. Văn kiện Hội nghị lần thứ 2, BCH TW khóa VIII tiếp tục nêu
rõ vấn đề trên, khẳng định: “ Giáo dục-đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn
dân”. Văn kiện Đại hội IX (2001) yêu cầu “ Tăng cường đầu tư cho giáo dục từ
ngân sách Nhà nước và đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục-đào tạo” [12; 204].
Không riêng ở Việt Nam mà nhiều nước khác trên thế giới như ở Nhật Bản,
Hàn Quốc, Trung Quốc, Ên Độ, Inđônêxia, Philippin, các nước Châu Á Thái
Bình Dương … cũng đều rất quan tâm đến việc xây dựng và củng cố các tổ chức
phục vụ trực tiếp cho giáo dục, vì chất lượng đào tạo thế hệ trẻ. Trung Quốc đã
xác định “Cần phải đưa giáo dục lên vị trí ưu tiên cho sự phát triển”. Ên Độ cũng
huy động xã hội tham gia công tác giáo dục gắn liền với phát triển nông thôn,
huy động cộng đồng phát triển giáo dục phi chính quy.
Nh vậy, xã hội hóa giáo dục là một hệ thống định hướng hoạt động của mọi

động từ chủ thể đến khách thể làm cho hệ vận hành đến mục tiêu và chuyển từ
- 11 -
trng thỏi ny sang trng thỏi khỏc. ú l qun lý, tp hp cỏc tỏc ng qun lý
lm ny sinh ra cỏc mi quan h qun lý.
Quan im tip cn h thng cho rng: cú th xem xột cỏc hot ng qun
lý nh mt h thng hon chnh bao gm nhng nhõn t v mi quan h tng
tỏc gia cỏc nhõn t t c mc tiờu ó xỏc nh.
Theo lý thuyt h thng, cú th coi h thng xó hi ch ngha Vit Nam l
mt h thng ln bao gm nhiu h thng nh (H thng giỏo dc o to, h
thng kinh t, h thng vn hoỏ, h thng chớnh tr, ) Mi h thng nh bao
gm nhng h thng nh hn:
S mi quan h gia GD-T trong h thng kinh t xó hi
Mi loi h thng chu s tỏc ng v chu s chi phi tỏc ng qua li bi
- 12 -
Giáo
dục và
đào tạo
Hệ thống chính
trị
Hệ thống kinh
tế
Hệ thống
vănhoá
Thị trờng lao
động
các hệ thống đồng cấp và bản thân nó có tính độc lập tương đối, có chức năng và
nhiệm vụ riêng, vận hành và phát triển bởi những tác động qua lại theo những
quy luật riêng của những nhân tố bên trong hệ thống đó.
Các mối quan hệ nêu trên được thể hiện:
- Quan hệ cung cầu giữa các hệ thống lớn: giữa đào tạo-sử dụng-thị trường

thích (khuyến khích/ tạo động cơ ) và ra quyết định.
Hệ thống thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng, là sức mạnh của công tác
quản lý. Thông tin là mạch máu lưu thông tin tức giữa các bộ phận đảm bảo cho
toàn bộ hệ thống hoạt động, đảm bảo sự thống nhất trong quản lý. Quá trình quản
lý phụ thuộc chặt chẽ vào các thông tin. Vai trò của thông tin trong quản lý rất
quan trọng: Là cơ sở, chất liệu hình thành các quyết định quản lý. Chất lượng
hiệu quả của quyết định quản lý phụ thuộc vào tính đầy đủ, chính xác, kịp thời
của thông tin.
Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý và hệ thống thông tin được biểu
diễn thành sơ đồ sau:

- 14 -
LËp kÕ ho¹ch
KiÓm tra Th«ng tin
ChØ ®¹o
Tæ chøc
Sơ đồ 2: Các chức năng quản lý và thông tin trong quản lý
Nh vậy, đối với mỗi hệ thống hoạt động quản lý có thể phân chia thành 4
nội dung lớn: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch, kiểm tra
đánh giá các hoạt động và việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Trong những
điều kiện cần thiết có thể điều chỉnh lại kế hoạch, hoặc mục tiêu hoặc các hoạt
động cụ thể hoặc có thể đồng thời điều chỉnh hai hoặc ba nhân tố cho phù hợp.
1.2.3. Khái niệm quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý
trong lĩnh vực công tác giáo dục. Nói một cách đầy đủ hơn, quản lý giáo dục là
hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể
quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các
cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài. Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng
xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội.

nghĩa rộng nhất, cho dù quá trình
đó diễn ra có ý thức, có kế hoạch
như mong muốn hay không, ở đâu
và lúc nào đi nữa.
- Là quá trình học tập của cá nhân
diễn ra trong suốt cuộc đời để hòa
nhập vào xã hội.
- Có quan hệ chủ yếu là cá nhân-
xã hội. Cá nhân phải hội nhập tự
giác, tích cực vào cộng đồng xã
- Là hoạt động có chủ định, có kế hoạch,
hướng vào các mục tiêu xác định và diễn
ra trong các thiết chế đặc thù nh ở nhà
trường.
- Là quá trình học tập của cá nhân diễn
ra mang tính giai đoạn.
- Có quan hệ chủ yếu là người dạy-
người học. Là quá trình truyền đạt và lĩnh
hội tri thức, kinh nghiệm sống.
- 16 -
hội.
- Là quá trình cá nhân học tập các
chuẩn mực của nhóm và xã hội để
hòa nhập vào cộng đồng xã hội loài
người.
- Là quá trình hình thành những tri thức
khoa học của thế giới, lý tưởng đạo đức,
hình thành nhân sinh quan nhằm phát
triển cả đức- trí- thể- mỹ cho con người.
Nhưng trong thực tế, không Ýt người cán bộ kể cả quần chúng còn có nhận

giáo dục đã trở thành một quan điểm để hoạch định hệ thống các chính sách xã
hội, Nhà nước giữ vai trò nòng cốt.
Nh vậy, kể từ khi đất nước đổi mới đến nay, thuật ngữ "Xã hội hóa" được
dùng chính thức trong các văn kiện của Đảng. Khái niện xã hội hóa đã hàm chứa
một tư tưởng chiến lược, một quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với sự phát triển
của đất nước ở một giai đoạn mới trong nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
1.3.2. Khái niệm xã hội hóa giáo dục
Giáo dục là một nhân tố quan trọng đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển
của xã hội loài người. Điều này chứng tỏ không thể tách giáo dục ra khỏi đời
sống xã hội. Giáo dục chính là một phương tiện để xã hội đổi mới và phát triển.
Xã hội hóa giáo dục là quá trình giáo dục gia nhập và hòa nhập vào cộng
đồng; đồng thời xã hội tiếp nhận giáo dục như là một công việc chung mà mọi cá
nhân, đoàn thể, tổ chức, bộ máy đều có trách nhiệm tham gia.
Xã hội hóa giáo dục có tác dụng tích cực đến quá trình xã hội hóa con
người, xã hội hóa cá nhân. Thực hiện xã hội hóa giáo dục là duy trì mối liên hệ
phổ biến có tính quy luật giữa cộng đồng và xã hội, làm cho giáo dục phát triển
phù hợp với sự vận động của xã hội. Nội dung quy luật này là ở chỗ: Mọi người
- 18 -
phải làm giáo dục để giáo dục cho mọi người. Nghĩa là xã hội hóa giáo dục có
hai phương diện: Mọi người có trách nhiệm, nghĩa vụ chăm lo phát triển giáo
dục và giáo dục là nhằm mục đích phục vụ cho mọi người, tạo điều kiện để mọi
người ở mọi độ tuổi, ở mọi vùng được học tập, học thường xuyên, học suốt đời
nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống.
Hai phương diện trên đã nêu rõ hai yêu cầu cơ bản thuộc về bản chất giáo
dục là: xã hội hóa trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi người đối với giáo dục và xã
hội hóa về quyền lợi giáo dục nghĩa là mọi người có quyền được thụ hưởng mọi
thành quả của giáo dục.
Hai yêu cầu này có quan hệ chặt chẽ và có sự tác động lẫn nhau, trong đó
xã hội hóa quyền lợi giáo dục là mục tiêu, cốt lõi của xã hội hóa giáo dục, làm

Là tăng cường nguồn lực ngân
sách Nhà nước cho GD.
Là đa dạng hóa các nguồn đầu tư: nhân
lực, vật lực, tài lực, trí lực cho GD.
Là phát triển loại hình chính quy,
công lập.
Là phát triển đa dạng các loại hình GD
chính quy và phi chính quy: Công lập,
bán công, dân lập, tư thục.
Mọi người đều được có trách
nhiệm, nghĩa vị chăm lo đến sự
phát triển sự nghiệp giáo dục của
đất nước.
Mọi người đều có trách nhiệm đối với sự
phát triển của sự nghiệp GD vừa có
quyền lợi được thụ hưởng những thành
quả do GD mang lại.
Mọi người đều được học tập. Mọi người đều được học tập, học thường
xuyên, học suốt đời; tiến tới một xã hội
học tập.
Là giải pháp tình thế trong hoàn
cảnh đất nước còn nghèo, kinh
phí đầu tư cho giáo dục còn hạn
hẹp.
Là tư tưởng chiến lược và phương thức
tất yếu để phát triển sự nhiệp giáo dục.
Là sù tham gia của liên ngành và cộng
đồng, là con đường để thực hiện dân chủ
hóa và công bằng giáo dục nhằm nâng
cao chất lượng GD cuộc sống.

nghiệp giáo dục là: Người người đều đi học, học thường xuyên, học suốt đời, do
- 21 -
đó toàn xã hội sẽ là một xã hội học tập. Trong các văn bản trước đó, vấn đề xã
hội hóa giáo dục mới chỉ dừng ở mức độ phát triển quy mô giáo dục. Từ quan
điểm trên của Đảng, chúng ta nhận thức rõ được xã hội hóa công tác giáo dục là
một tư tưởng lớn, một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Đây là sự kế
thừa và phát huy truyền thống hiếu học, đề cao sự học, chăm lo sự học của nhân
dân ta trải qua hàng nghìn năm lịch sử. Đây cũng là bài học lớn của lịch sử xây
dựng hơn 50 năm nền giáo dục cách mạng. Lần đầu tiên công tác xã hội hóa giáo
dục được gọi bằng một khái niệm mới mang tính tổng quát là xã hội hóa sự
nghiệp giáo dục.
Gần đây hơn, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX thêm một lần nữa khẳng
định, đồng thời với chủ trương chuẩn hóa, hiện đại hóa cần tiếp tục "Tăng đầu tư
cho giáo dục từ nhân sách Nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đào tạo.
Khuyến khích mạnh mẽ các thành phần kinh tế đầu tư phát triển giáo dục ở tất cả
các bậc học, đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội phát triển đa dạng các hình
thức đào tạo, đẩy mạnh việc xây dựng các quỹ khuyến khích tài năng, các tổ
chức khuyến học, bảo trợ giáo dục" [12; 204]
Trong Nghị định 90/CP bgày 21/8/1999 của Chính phủ cũng đã cụ thể hóa
quan điểm xã hội hóa sự nghiệp lá quá trình tuyên truyền vận động và tổ chức để
đông đảo, rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các đơn vị tổ chức, đoàn thể trong xã
hội cùng tham gia vào sự nghiệp phát triển giáo dục, là sự cộng đồng trách nhiệm
chung của mọi người để xây dựng và phát triển một môi trường giáo dục lành
mạnh, đa dạng hóa sự đầu tư vào các hình thức giáo dục dưới sự quản lý của Nhà
nước.
1.3.3. Xã hội hóa giáo dục là một nhân tố để xây dựng trường THCS đạt
chuẩn quốc gia
Tại Đại hội IX của Đảng, xã hội hóa được coi là một trong ba phương
hướng để đẩy mạnh sự phát triển Giáo dục- Đào tạo đi vào thế kỷ XXI: "Tiếp tục
- 22 -

năng có hạn của cơ sở vật chất, của tài chính đáp ứng sự phát triển đó. Hơn nữa
công tác xây dựng trường THCS đạt chuẩn quốc gia lại có yêu cầu khá cao về
một nhà trường vừa chuẩn về khâu tổ chức quản lý, về đội cán bộ quản lý, ngũ
giáo viên, nhân viên, trường, lớp, trang thiết bị, môi trường giáo dục vừa đòi hỏi
chất lượng đào tạo phải đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội ngày càng cao. Do
đó công tác xã hội hóa giáo dục đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc đầu
tư xây dựng trường THCS đạt chuẩn quốc gia; hay nói một cách khác, xã hội
hóa giáo dục là nhân tố quyết định để xây dựng trường THCS đạt chuẩn quốc
gia.

1.3.4. Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: "Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành,
phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo
nhu cầu phát triển xã hội".
Xét từ phương diện quản lý giáo dục theo hướng xã hội hóa thì có thể hiểu
đây chính là quản lý công tác xã hội hóa giáo dục.
Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục trước hết là xây dựng cơ chế vận hành
của hoạt động xã hội hóa, tạo hành lang để hoạt động xã hội hóa đi đúng quỹ
đạo, theo mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đặt ra.
Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục có những cách làm khác nhau, cũng
giúp cho công tác quản lý có những phương pháp linh hoạt và thích hợp với từng
điều kiện, từng hoàn cảnh cụ thể. Nếu quản lý theo phương pháp máy móc, cứng
nhắc sẽ rơi vào tình trạng hành chính hóa, làm thui chột tính năng động của hoạt
động xã hội hóa. Nếu quản lý nghiêng về phương pháp dễ dãi, giản đơn sẽ đẩy
hoạt động xã hội hóa vào những sai lầm, nhất là huy động các nguồn thu.
- 24 -
Quản lý công tác xã hội hóa đòi hỏi phương pháp mềm dẻo, linh hoạt, tạo
được phong trào, định hướng được phong trào, phát huy dân chủ trong nhân dân,
tăng cường nguồn lực của xã hội và cộng đồng cho Giáo dục - Đào tạo.
Quản lý công tác xã hội hóa giáo dục không hoàn toàn là công việc của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status