Luận văn thạc sỹ: Vượt rào cản kỹ thuật của EU đối với hàng công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam - Pdf 26



Tự do hóa thương mại là một quá trình lâu dài gắn chặt với quá trình đàm
phán để cắt giảm thuế quan và rào cản phi thuế quan. Các nước, đặc biệt là các
nước công nghiệp phát triển, một mặt luôn đi đầu trong việc đòi hỏi phải đàm
phán để mở cửa thị trường và thúc đẩy tự do hóa thương mại, mặt khác lại đưa ra
các rào cản khác tinh vi và phức tạp hơn thông qua các tiêu chuẩn kỹ thuật và
các biện pháp hành chính nhằm bảo hộ sản xuất trong nước. Khó khăn được
nhân lên do các biện pháp này được mệnh danh là để bảo vệ người tiêu dùng
trong nước chứ không phải là các rào cản trong thương mại quốc tế.
Đẩy mạnh xuất khẩu là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà
nước ta. Chủ trương này đã được khẳng định trong các văn kiện Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VIII và IX nhằm mục tiêu thực hiện thành công sự nghiệp
công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Trong những năm vừa qua, xuất khẩu
của Việt Nam cũng đã đạt được những thành công đáng kể với kim ngạch xuất
khẩu năm 2010 là 71,63 tỷ USD. Bên cạnh những thành công, xuất khẩu Việt
Nam cũng gặp không ít khó khăn do các rào cản thương mại, đặc biệt là các rào
cản kỹ thuật. Vì vậy, việc đối phó và vượt qua được các rào cản kỹ thuật này
không phải là vấn đề mới mẻ nhưng vẫn là vấn đề khó khăn đối với các doanh
nghiệp Việt Nam.
Liên minh Châu Âu là một trong những đối tác thương mại quan trọng và
là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai, sau Mỹ của Việt Nam. Theo số liệu thống kê
sơ bộ năm 2010, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang EU đạt 10 tỷ USD,
chiếm 13,9% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng 15,9% so với năm 2009. Tuy
nhiên trong vài năm gần đây tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang
EU có xu hướng giảm sút. Một trong những nguyên nhân là do hàng Việt Nam
còn nghèo nàn về chủng loại, chất lượng thấp chưa có độ đồng đều, trong khi đó
1
EU là một trong những thị trường khó tính trên thế giới với hàng rào kỹ thuật
cao và nghiêm ngặt.
Trong số các mặt hàng xuất khẩu sang EU của Việt Nam, hàng công

văn sẽ thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận về rào cản kỹ thuật và vượt rào cản kỹ thuật
+ Phân tích thực trạng vượt rào cản kỹ thuật của EU của hàng công nghiệp
Việt Nam, từ đó rút ra đánh giá và nhận xét xác đáng về mặt thành công, mặt hạn
chế cũng như nguyên nhân gây ra các hạn chế đó
+ Trên cơ sở triển vọng và thách thức vượt rào cản kỹ thuật cũng như
phương hướng và mục tiêu vượt rào cản kỹ thuật, tác giả đề xuất một số giải
pháp vượt rào cản kỹ thuật của EU đối với hàng công nghiệp xuất khẩu của Việt
Nam
'()*!"#
Phương pháp luận: Phương pháp duy vật biện chứng và lịch sử làm nền
tảng trong quá trình phân tích và kết luận vấn đề nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin: Luận văn sử dụng các dữ liệu thông tin
thứ cấp dựa trên số liệu thống kê của Việt Nam cũng như của EU về tình hình thị
trường, lượng hàng hóa xuất nhập khẩu; cũng như thông tin thứ cấp được công
bố để so sánh, phân tích, khái quát thực hiện các phán đoán suy luận.
Phương pháp xử lý thông tin: Sử dụng các phương pháp thống kê và phân
tích định lượng. Luận văn sẽ tập trung vào phân tích định tính hơn là phân tích
định lượng để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu.
3
+,-#.!"#
Luận văn sẽ tập trung vào nghiên cứu để tìm câu trả lời cho các câu hỏi
nghiên cứu sau:
+ Với trình độ sản xuất hàng công nghiệp hiện nay của Việt Nam, những quy
định nào của EU sẽ trở thành rào cản kỹ thuật?
+ Các rào cản kỹ thuật đó xây dựng có hợp lý và minh bạch không?
+ Các giải pháp vượt rào cản kỹ thuật của các doanh nghiệp Việt Nam đã hiệu
quả chưa?
/012#3#45
Ngoài lời mở đầu, kết luận và các phụ lục, luận văn được kết cấu thành ba

Do tính chất đa dạng và phức tạp của rào cản phi thuế quan nên rất khó
để đưa ra được một định nghĩa chính xác cho rào cản phi thuế quan. Theo định
5
nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), “các hàng rào phi
thuế quan là các biện pháp biên giới nằm ngoài phạm vi thuế quan có thể được
các quốc gia sử dụng, chủ yếu trên cơ sở lựa chọn để hạn chế hàng nhập khẩu
vào nội địa” [6]. Định nghĩa này của OECD chủ yếu dựa trên phạm vi áp dụng
của các biện pháp phi thuế quan, đó là biên giới quốc gia.
Định nghĩa về rào cản phi thuế quan của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Á (ASEAN) lại tuân theo hệ thống phân loại của UNCTAD, theo đó các rào cản
phi thuế quan được xác định theo bốn tiêu chí: phụ phí đối với khách hàng, các
biện pháp kỹ thuật, các yêu cầu về đặc tính của sản phẩm và các biện pháp độc
quyền. Tuy nhiên, trong định nghĩa của ASEAN đã bỏ sót một số điểm đáng lưu
ý như các biện pháp tài chính và các biện pháp kiểm soát giá.
Tại Việt Nam, một trong những định nghĩa về rào cản phi thuế quan được
sử dụng nhiều nhất là định nghĩa của Bộ Thương Mại (nay là Bộ Công Thương):
ngoài thuế quan, tất cả các biện pháp khác dù là theo quy định pháp lý hay tồn
tại trên thực tế, ảnh hưởng đến mức độ và phương hướng nhập khẩu được gọi là
các rào cản phi thuế quan[6]. Định nghĩa này nhấn mạnh đến mức độ phân biệt
đối xử đối hàng nhập khẩu nhằm mục đích bảo hộ nền sản xuất trong nước.
Tổng hợp từ những định nghĩa trên, tác giả cho rằng rào cản phi thuế
quan là các biện pháp không phải là thuế quan mà sử dụng các biện pháp hành
chính (các quy định pháp lý) và các quy định về kỹ thuật (như các tiêu chuẩn kỹ
thuật đối với các sản phẩm, quy trình sản xuất, vận chuyển …) nhằm mục đích
hạn chế sự xâm nhập của hàng hóa nước ngoài vào thị trường nội địa, bảo vệ
hàng hóa và người tiêu dùng trong nước. Mục tiêu của các rào cản phi thuế quan
là bảo vệ sự an toàn và lợi ích người tiêu dùng trong nước đồng thời bảo vệ môi
trường trong nước. Tuy nhiên, hiện nay phần lớn các nước công nghiệp phát
triển thường sử dụng các biện pháp này như những rào cản để hạn chế hàng hóa
nhập khẩu nhằm mục đích bảo hộ nền sản xuất trong nước.

Mặc dù hiện nay còn rất nhiều định nghĩa khác nhau về rào cản kỹ thuật
đối với thương mại, nhưng theo tác giả có thể hiểu một cách đơn giản là “rào
cản kỹ thuật đối với thương mại là một hình thức bảo hộ mậu dịch đang được
các quốc gia sử dụng có hiệu quả theo đó các nước nhập khẩu đưa ra các quy
định, tiêu chuẩn khắt khe đối với hàng hóa nhập khẩu. Các quy định, tiêu chuẩn
này có thể liên quan tới toàn bộ quá trình sản xuất từ thu gom nguyên vật liệu,
sản xuất, phân phối và tiêu dùng; đồng thời nó cũng có thể liên quan đến trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp xuất khẩu.”
Trước xu hướng, các rào cản kỹ thuật đang được các quốc gia sử dụng
ngày một nhiều hơn và tính chất phong phú, phức tạp của các rào cản này, các
thành viên WTO đã thông qua Hiệp định về các Rào cản kỹ thuật đối với
Thương mại (Agreement on Technical Barries to Trade). Hiệp định này thừa
nhận sự cần thiết của các biện pháp kỹ thuật đồng thời kiểm soát các biện pháp
này nhằm đảm bảo các nước thành viên sử dụng đúng mục đích và không biến
các biện pháp này thành công cụ bảo hộ.
1.1.2.Đặc điểm rào cản kỹ thuật của EU
Các rào cản kỹ thuật của EU có những điểm giống như các rào cản kỹ
thuật của các quốc gia phát triển khác. Các rào cản kỹ thuật của EU rất đa dạng,
phức tạp và được sử dụng không giống nhau ở các quốc gia và vùng lãnh thổ
khác nhau do các rào cản kỹ thuật thường được thể hiện trong các chính sách
thương mại và các chính sách hoặc cơ chế quản lý trong tổng thể hệ thống pháp
luật của một quốc gia. Các rào cản kỹ thuật thường bao gồm nhiều loại khác
nhau và mỗi loại rào cản lại có những vị trí và vai trò nhất định trong việc tác
động vào các dòng chảy thương mại quốc tế để điều chỉnh các dòng chảy này
theo hướng có lợi nhất, đáp ứng mục tiêu và yêu cầu xác định của mỗi quốc gia.
Rào cản kỹ thuật được EU sử dụng ngày càng nhiều với mức độ ngày
càng tinh vi và phức tạp hơn. Trong xu thế toàn cầu hóa và tự do hóa thương
8
mại, hầu hết các quốc gia đều cam kết dỡ bỏ dần các rào cản phi thuế quan nói
chung và rào cản kỹ thuật nói riêng nhưng thực tế thì các rào cản này được dỡ bỏ

,*S#TU!##VQRHWX&
1.2.1.Bộ tiêu chuẩn EN
Thị trường EU là một thị trường bao gồm nhiều thị trường quốc gia thành
viên, vì vậy vấn đề tiêu chuẩn hóa tại thị trường EU mang nhiều tính chất mới.
Trước đây, mỗi quốc gia Châu Âu đều có bộ tiêu chuẩn của riêng mình như
NEN của Hà Lan, DIN của Đức, BSI của Anh, AFNOR của Pháp. Tuy nhiên,
hiện nay EU đang tạo ra những tiêu chuẩn thống nhất cho toàn Châu Âu để thay
thế cho hàng ngàn tiêu chuẩn của các quốc gia thành viên. Các mức yêu cầu tối
thiểu cho sản phẩm đang và sẽ được đưa ra trong thời gian tới. Các nước thành
viên vẫn được phép bổ sung thêm các quy định riêng để bảo vệ nền sản xuất
trong nước của mình, nhưng bất kỳ một sản phẩm nào đáp ứng đủ các yêu cầu
tối thiểu thì vẫn được phép tự do lưu thông trong EU.
Bộ tiêu chuẩn EN được xây dựng bởi ba cơ quan: CEN (Ủy ban Tiêu
chuẩn hóa Châu Âu), CENELEC (Ủy ban Tiêu chuẩn hóa Kỹ thuật điện tử Châu
Âu), và ETSI (Viện Tiêu chuẩn Viễn thông Châu Âu). Bộ tiêu chuẩn này bao
gồm các quy định về đặc tính kỹ thuật, quy trình sản xuất, đóng gói, vận
chuyển… đối với hàng hóa được sản xuất và tiêu thụ trên thị trường Châu Âu.
Hàng hóa nhập khẩu không phải là đối tượng điều chỉnh của bộ tiêu chuẩn này,
tuy nhiên do bộ tiêu chuẩn này phản ánh yêu cầu của thị trường đối với hàng hóa
được tiêu thụ tại đây nên việc đáp ứng các yêu cầu của bộ tiêu chuẩn này sẽ tạo
điều kiện thuận lợi cho hàng hóa nước ngoài thâm nhập và cạnh tranh được trên
thị trường này.
10
1.2.2.Tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO 9000
Tổ chức quốc tế về Tiêu chuẩn hóa (ISO) đã đưa ra Bộ Tiêu chuẩn quản
lý chất lượng ISO 9000 vào năm 2000 với mục đích tạo ra một hệ thống tiêu
chuẩn được chấp nhận ở mức độ quốc tế về việc đảm bảo chất lượng và có thể
được áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.
Tại EU các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không bắt buộc phải tuân
theo Bộ tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO 9000. Tuy nhiên những lợi ích mà

- Cơ sở hạ tầng
- Môi trường làm việc
*Tạo sản phẩm
- Hoạch định sản phẩm
- Xác định các yêu cầu liên quan đến khách hàng
- Kiểm soát thiết kế
- Kiểm soát mua hàng
- Kiểm soát sản xuất và cung ứng dịch vụ
- Kiểm soát thiết bị đo lường
*Đo lường phân tích và cải tiến
- Đo lường sự thỏa mãn của khách hàng
- Đánh giá nội bộ
12
- Theo dõi và đo lường các quá trình
- Theo dõi và đo lường các sản phẩm
- Kiểm soát sản phẩm không phù hợp
- Phân tích dữ liệu
- Hành động khắc phục
- Hành động ngăn ngừa
1.2.3.Nhãn hiệu CE đối với các sản phẩm công nghiệp chế tạo
Nhãn hiệu CE (European Conformity) là nhãn hiệu tuân
thủ theo quy định của Châu Âu và là sự tuyên bố của nhà
sản xuất về việc thực hiện đúng theo các quy định của
Châu Âu. Tuy nhiên, nhãn hiệu CE không phải là chứng
nhận về chất lượng sản phẩm của nhà sản xuất vì CE chú
trọng đến sự an toàn của người tiêu dùng và bảo vệ môi trường thiên nhiên hơn
là chất lượng sản phẩm. Hiện nay, không phải tất cả các sản phẩm nhập khẩu vào
Châu Âu đều phải gắn mắc CE. Việc gắn mác này chỉ bắt buộc đối với 23 nhóm
sản phẩm có tên trong danh sách “Cách tiếp nhận mới” – New Approach Guide,
bao gồm các sản phẩm như: máy móc, thiết bị điện, đồ chơi, dụng cụ y tế….Nếu

ngành công nghiệp hoạt động trên thị trường EU. Chương trình này khuyến
khích các ngành công nghiệp có khả năng gây ô nhiễm cao sử dụng các hệ thống
quản lý việc bảo vệ môi trường.
Tháng 9/1996 Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa đã ban hành bộ tiêu
chuẩn quốc tế về môi trường ISO 14000 bao gồm các quy định cụ thể và hướng
dẫn sử dụng. Như vậy, đối với các doanh nghiệp của EU có thể lựa chọn áp dụng
14
một trong hai hệ thống tiêu chuẩn về môi trường kể trên, nhưng đối với các
doanh nghiệp xuất khẩu vào EU thì hệ thống tiêu chuẩn ISO 14000 là đáng quan
tâm hơn vì tiêu chuẩn EMAS chỉ dành cho các doanh nghiệp có trụ sở tại EU.
Việc áp dụng các hệ thống tiêu chuẩn về môi trường này chỉ dành cho các doanh
nghiệp ở EU, tuy nhiên nếu doanh nghiệp xuất khẩu có thể có được chứng chỉ
này thì sẽ thuận lợi hơn trong việc thâm nhập thị trường EU - một thị trường
đang đặt vấn đề giữ gìn và bảo vệ môi trường thành mối quan tâm hàng đầu.
*Cấu trúc của hệ thống ISO 14000
♦ YA'[[: Quản lý môi trường – Quy định và hướng dẫn sử dụng
♦ YA'[[': Hệ thống quản lý môi trường - Hướng dẫn chung về nguyên
tắc, hệ thống và kỹ thuật hỗ trợ
♦ YA'[[: Hướng dẫn đánh giá môi trường – Nguyên tắc chung
♦ YA'[: Hướng dẫn đánh giá môi trường – Quy trình đánh giá – Đánh
giá hệ thống quản lý môi trường
♦ YA'[: Hướng dẫn đánh giá môi trường - Chuẩn cứ trình độ của
chuyên gia đánh giá
Trong hệ thống ISO 14001 là tiêu chuẩn trong hệ thống tiêu chuẩn ISO
14000 quy định các yêu cầu đối với một Hệ thống quản lý môi trường. Các yếu
tố của hệ thống được chi tiết hóa thành văn bản. Tiêu chuẩn ISO 14001 được ban
hành lần đầu tiên vào năm 1996 và phiên bản mới nhất được ban hành vào năm
2004 có ký hiệu là ISO 14001: 2004. Chứng chỉ ISO 14001: 2004 chứng nhận
rằng Doanh nghiệp có một hệ thống quản lý giúp cho doanh nghiệp đó sản xuất
trong các điều kiện làm ảnh hưởng đến môi trường trong phạm vi cho phép.

- Kiểm soát sự không phù hợp và xác định trách nhiệm trong trường hợp
đó.
- Lập báo cáo về quá trình thực hiện và kết quả sau khi kiểm tra, đo
lường.
- Lên kế hoạch, tiến hành sửa đổi, khắc phục.
Lãnh đạo cấp cao nhất xem xét lại toàn hệ thống.
1.2.5.Bao bì và phế thải bao bì
Bao bì là một phần không thể thiếu của hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa
xuất nhập khẩu; vì vậy việc xử lý phế thải bao bì sau khi sản phẩm được sử dụng
để hạn chế nguồn rác thải sinh hoạt trong việc bảo vệ môi trường là vấn đề đang
được quan tâm hiện nay.
Những vấn đề liên quan đến bao bì và phế thải bao bì được Liên minh
Châu Âu quy định khá chặt chẽ trong Chỉ thị 94/62/EEC. Chỉ thị này quy định
cụ thể về thành phần của bao bì như tỷ lệ kim loại nặng trong bao bì và những
yêu cầu trong việc sản xuất bao bì. Chỉ thị này đã được đưa vào luật của các
quốc gia thành viên và cũng được áp dụng đối với cả hàng hoá nhập khẩu vào
EU.
Theo chỉ thị 94/62/EEC, phế thải bao bì là các loại bao bì hoặc các vật
liệu làm bao bì được thải ra sau các quá trình vận chuyển, phân phối và tiêu dùng
như các loại túi nilông được thải ra sau khi sử dụng sản phẩm, các container sau
quá trình chuyên chở hàng hoá…
Chỉ thị 94/62/EEC cũng đưa ra các yêu cầu cụ thể đối với quá trình sản
xuất và thành phần của các bao bì như sau:
•Thể tích và khối lượng của bao bì được giới hạn đến mức tối thiểu để duy
trì mức độ đảm bảo vệ sinh và an toàn cho sản phẩm bên trong bao bì và cho
người sử dụng.
17
•Bao bì phải được thiết kế, sản xuất, sử dụng theo cách thức cho phép tái
sử dụng hay thu hồi, bao gồm tái chế và hạn chế đến mức tối thiểu tác động đối
với môi trường khi chất phế thải bao bì bị bỏ đi.

18
•Trong điều kiện sử dụng bình thường, bao bì phải đảm bảo được việc tái
sử dụng một số lần nhất định cả về tính chất vật lý và các đặc trưng của bao bì.
•Sức khoẻ và sự an toàn của người lao động phải được đảm bảo trong quá
trình sản xuất bao bì.
•Nếu bao bì không được tái sử dụng trong một thời gian dài và có thể trở
thành phế thải thì việc thu hồi bao bì phải đáp ứng được những yêu cầu đặc biệt
cho từng trường hợp cụ thể.
Các điều kiện cụ thể đối với việc thu hồi và tái chế bao bì:
•Đối với các loại bao bì thu hồi dưới dạng vật liệu có thể tái sử dụng, các
bao bì này phải được sử dụng làm vật liệu để sản xuất ra sản phẩm có thể bán
được với một tỷ lệ nhất định trong tổng lượng vật liệu được sử dụng để sản xuất
ra sản phẩm đó sao cho phù hợp với quy định của Châu Âu. Mức tỷ lệ này được
quy định khác nhau, phụ thuộc vào loại vật liệu được sử dụng làm bao bì.
•Với những loại bao bì được thu hồi dưới dạng phế phẩm năng lượng thì
chúng phải thu được lượng calo tối thiểu cho phép.
•Lượng bao bì được tái chế hay đốt để thu lại năng lượng phải chiếm từ 50-
60% khối lượng bao bì.
•Đối với các loại bao bì không thể tái sinh hoặc tái sử dụng, phải đốt thì
lượng khí thải độc hại thoát ra phải đảm bảo không làm ảnh hưởng đến môi
trường.
Trên đây là những quy định chung nhất của Châu Âu về bao bì và phế thải
bao bì. Tuy nhiên, việc thực hiện chỉ thị này ở mỗi quốc gia là khác nhau, với
những hình thức khác nhau. Với các doanh nghiệp Việt Nam đang muốn xuất
khẩu vào EU, việc nắm vững và tuân thủ những quy định này là điều quan trọng.
Việc tuân thủ nghiêm túc những quy định này không chỉ giúp các doanh nghiệp
19
Việt Nam có được lòng tin đối với người tiêu dùng EU mà còn giúp hạn chế ô
nhiễm môi trường từ rác thải sinh hoạt ở Việt Nam.
Bên cạnh những tiêu chuẩn chung về bao bì và phế thải bao bì, EU còn có

tra phân loại đối với các sản phẩm khác nhau, giấy chứng nhận do cơ quan này
cấp sẽ được các quốc gia thành viên khác chấp nhận.
Đối với mặt hàng giày dép, nhãn mác là một trong những yêu cầu bắt
buộc, những thông tin trên nhãn mác sản phẩm giày dép và da phải đảm bảo
cung cấp đủ thông tin cần thiết cho người sử dụng. Nhãn hiệu cần phải có đầy đủ
thông tin về các bộ phận của đôi giày như phần trên, lót, đế trong và đế ngoài và
phải được thể hiện bằng hình ảnh hoặc câu chữ. Chỉ thị này đưa ra các yêu cầu
về nhãn mác chủ yếu là liên quan đến chất liệu sản xuất giày dép. Quy định này
có hiệu lực thống nhất đối với tất cả các quốc gia thành viên của EU.
1.2.8.Quy định trách nhiệm xã hội SA 8000
Với mục tiêu hạn chế sự cạnh tranh của các sản phẩm được sản xuất tại
các nước đang phát triển với giá nhân công rẻ xuất khẩu vào thị trường EU, EU
đã đưa ra các quy định về trách nhiệm xã hội như một loại rào cản đối với các
sản phẩm này. Tiêu chuẩn SA 8000 quy định trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp về lao động trẻ em, lao động cưỡng bức, sức khỏe và an toàn của người
lao động, quyền tự do về thành lập các hiệp hội đàm phán tập thể, chống phân
biệt đối xử, các quy định về giờ làm việc và chế độ tiền lương. Việc đáp ứng đầy
đủ các quy định này là tương đối khó khăn với các doanh nghiệp Việt Nam, đặc
biệt là các doanh nghiệp có sử dụng nhiều lao động như dệt may, giày dép; và
việc được công nhận đã đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn SA 8000 còn khó khăn hơn.
1.2.9.Quy định đăng ký, đánh giá và cấp phép sử dụng hóa chất (REACH)
REACH là Quy chế về đăng ký, đánh giá, cấp phép sử dụng hóa
chất trong sản xuất. Từ năm 2008 các quy định của REACH bắt đầu có hiệu lực,
21
theo đó các doanh nghiệp muốn xuất khẩu hay sử dụng hóa chất thì đều phải
đăng ký và xin phép sử dụng các loại hóa chất này.
Mục tiêu chính của REACH là để đảm bảo một mức độ cao về bảo vệ sức
khỏe con người và môi trường chống lại các rủi ro tiềm ẩn gây ra bởi hóa chất,
thúc đẩy phương pháp thử nghiệm thay thế, sự lưu thông tự do của các chất trên
thị trường EU và tăng cường khả năng cạnh tranh và đổi mới.

1.3.1.Các nguồn lực nội tại
Các doanh nghiệp cần tận dụng nguồn lực nội tại để có thể có các biện
pháp vượt rào cản hiệu quả. Các nguồn lực nội tại của doanh nghiệp giúp các
doanh nghiệp có thể phản ứng kịp thời trước những rào cản kỹ thuật, đồng thời
đây cũng là yếu tố dài hạn quyết định đến năng lực vượt rào cản, cũng như năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp cần đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển,
công nghệ sản xuất nhằm nâng cao khả năng phát triển sản phẩm mới cũng như
23
fAG96
9:6L(
,*#d
3e_
96@
97J,
6L(6g
96@,9:
,h(
953e
PM
?
M
NO
#4
96@96<(
06i
cải tiến công nghệ để có thể đáp ứng được những yêu cầu của nhà nhập khẩu EU
về chất lượng, quy cách sản phẩm. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng cần
nâng cao năng lực tài chính, đầu tư vào việc cải thiện cơ sở vật chất, chất lượng
nguồn nhân lực của mình để đáp ứng tốt nhất các yêu cầu về trách nhiệm xã hội

lực từ nội tại của doanh nghiệp đó. Tuy nhiên, năng lực này sẽ được nhân lên
hay bị phân tán đi bởi sự liên kết của doanh nghiệp với các yếu tố môi trường
kinh doanh như Nhà nước, các hiệp hội ngành hàng, các đối tác nhập khẩu….
1.3.2.Nguồn lực liên kết giữa Nhà nước và doanh nghiệp
Nhà nước là một nguồn lực liên kết quan trọng bậc nhất đối với doanh
nghiệp trong việc vượt rào cản thương mại nói chung và rào cản kỹ thuật nói
riêng, đặc biệt là trong điều kiện hội nhập ở một nước đang phát triển như nước
ta. Nhà nước có nhiệm vụ tạo môi trường kinh doanh thuận lợi nhất để doanh
nghiệp có thể phát huy hết khả năng nội tại của mình trong việc vượt rào cản kỹ
thuật.
Nhà nước cần phối hợp với các doanh nghiệp trong việc xây dựng hình
ảnh, thương hiệu quốc gia trước hết là trên những thị trường trọng điểm sau đó là
trên toàn bộ thị trường xuất khẩu của quốc gia. Vấn đề này bao gồm các hoạt
động như ngoại giao, hỗ trợ, các hoạt động marketing quảng bá hình ảnh của
quốc gia. Các hoạt động này thường do Cơ quan xúc tiến thương mại quốc gia
(CQXTTMQG) chịu trách nhiệm thực hiện, cơ quan này hoạt động trên cơ sở là
lợi ích của quốc gia chứ không phải là lợi ích của một doanh nghiệp hay một
nhóm doanh nghiệp cụ thể nào. Hoạt động của CQXTTMQG cần có sự phối hợp
chặt chẽ với các doanh nghiệp trong hoạt động marketing ở các thị trường nước
ngoài. Sự phối hợp này được thể hiện ở hai cấp độ: CQXTTMQG tiến hành các
hoạt động quảng bá hình ảnh của đất nước tại thị trường xuất khẩu và các doanh
nghiệp tiến hành quảng bá cho sản phẩm cụ thể của mình tại thị trường đó. Ở cấp
độ thứ nhất, CQXTTMQG tiến hành tổ chức các hoạt động quảng bá hình ảnh
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status