ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN NGỮ VĂN 9- HỌC KÌ II
A. PHẦN VĂN :
I.Văn nghị luận:
a) Một số điểm cần chú ý về hoàn cảnh ra đời bài viết
- Bài viết “Chuẩn bị hành trang” của Vũ Khoan đăng trên Tạp chí Tia sáng năm 2001 và được
in vào tập “Một góc nhìn của trí thức” NXB Trẻ 2002. Khi đưa vào SGK người biên soạn đặt
nhan đề bài viết “Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới”.
- “Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới” là bài nghị luận của Phó Thủ tướng Vũ Khoan đề cập
tới những vấn đề vừa có ý nghĩa thời sự, cấp thiết vừa có ý nghĩa lâu dài. Tác giả viết bài này
đầu năm 2001, khi đất nước ta cùng toàn thế giới bước vào năm đầu tiên của thế kỷ mới. Ở thời
điểm chuyển giao thời gian đặc biệt có ý nghĩa, người ta thường có nhu cầu nhìn lại, kiểm điểm
lại mình trên chặng đường đã qua và chuẩn bị hành trang đi tiếp chặng đường mới. Đối với dân
tộc ta, bước vào thế kỷ mới cũng là tiếp tục một hành trình đầy triển vọng của công cuộc đổi mới
toàn diện, nhằm vượt qua tình trạng chậm phát triển, nghèo nàn, lạc hậu, đi vào công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Mặt khác đây cũng là con đường đầy khó khăn, thách thức, đòi hỏi mọi người, đặc
biệt là thế hệ trẻ phải thực sự đổi mới vươn lên mạnh mẽ để đáp ứng yêu cầu của thời đại.
b) Nội dung
* Đây là bài nghị luận về một đề tài vừa cấp thiết vừa có tính lâu dài, vừa là của đất nước vừa là
của từng người (trước hết là các bạn trẻ), vừa là một bài xã luận, vừa là một văn bản chỉ đạo, vừa
là một ý kiến riêng, vừa là ý kiến của vị lãnh đạo cấp cao, vừa có tính chất vấn đề đời sống, vừa
có tính chất vấn đề tư tưởng, đạo lí đặc biệt bài văn chứa đựng một triết lý nhân văn có giá trị
muôn thuở : “Con người quyết định tất cả”.
* Luận điểm cơ bản của bài (vấn đề nghị luận) được nêu ngay từ đầu để làm căn cứ triển
khai “Lớp trẻ Việt Nam cần nhận ra những cái mạnh, cái yếu của con người Việt Nam để rèn
những thói quen tốt khi bước vào nền kinh tế mới”.
* Hệ thống luận cứ của bài văn :
(1) Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới thì quan trọng nhất là sự chuẩn bị bản thân con người.
(2) Bối cảnh của thế giới hiện nay và những mục tiêu, nhiệm vụ nặng nề của đất nước.
(3) Những cái mạnh, cái yếu của con người Việt Nam cần được nhận rõ khi bước vào nền kinh tế
trong thế kỷ mới.
- Đây là luận cứ trung tâm, quan trọng nhất của cả bài nên được tác giả triển khai cụ thể và phân
c Nghệ thuật
- Sử dụng biện pháp nhân hóa, ẩn dụ, từ ngữ gợi hình đặc sắc > làm cho mọi vật như có
hồn
- Hình ảnh gần gũi, quen thuộc nhưng mới lạ, đầy sáng tạo > tạo một ấn tượng mạnh,
khó phai trong lòng người đọc
- Thể thơ 5 chữ ngắn gọn, súc tích
- Mạch thơ uyển chuyển, nhẹ nhàng > làm cho người đọc cảm nhận được cái mờ ảo khi
bầu trời chuyển từ mùa hạ sang thu.
- Có chọn lọc ngôn từ miêu tả tinh tế
2. Nói với con:
a) Tác giả, tác phẩm
- Tác giả: Nhà thơ Y Phương tên khai sinh la Hứa Vĩnh Sước, dân tộc Tày, sinh năm 1948;
quê ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng. Y Phương nhập ngũ năm 196; phục vụ quân
đội đến năm 1981 chuyển về công tác tại Sở Văn hóa – Thông tin Cao Bằng. Từ năm
1990, ông là Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, Ủy viên Ban Chấp hành Hội
Nhà văn Việt Nam khóa VI. Thơ ông thể hiện tâm hồn, chân thật, mạnh mẽ, trong sáng,
cách tư duy giàu hình ảnh con ngời miền núi. Năm 2007, Y Phương được tặng giải
thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật
- Tác phẩm: Sáng tác năm 1980, in trong tập Thơ Việt Nam 1945-1985
b) Nội dung: Qua bài thơ Nói với con, bằng những từ ngữ hình ảnh giàu sức gợi cảm, Y
Phương đã thể hiện tình cảm gia đình ấm cúng, ca ngợi truyền thống cần cù, sức sống
mạnh mẽ của quê hương và dân tộc mình. Bài thơ giúp ta hiểu thêm về sức sống và vẻ
đẹp tâm hồn của một dân tộc miền núi, gợi nhắc tình cảm gắn bó với truyền thống, với
quê hương và ý chí vươn lên trong cuộc sống.
c) Nghệ thuật:
- Biện pháp điệp từ, ý đối xứng , ẩn dụ
- Sử dụng câu cảm thán.
- Biện pháp đối lập, so sánh. Đặc biệt tác giả đã sử dụng thành công thành ngữ
- Âm điệu tha thiết, trìu mến.
3. Mùa xuân nho nhỏ:
b.Nghệ thuật:
- Lựa chọn ngôi kể phù hợp, cách kể chuyện tự nhiên.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật, nhất là miêu tả tâm lí.
- Ngôn ngữ giản dị, vừa mang tính khẩu ngữ vừa đậm chất trữtình.
- Câu văn ngắn, nhịp điệu dồn dập, gợi không khí chiếntrường.
c. Tóm tắt văn bản:
"Những ngôi saoxa xôi" kể về cuộc sống chiến đấu của ba cô thanh niên xung phong – tổtrinh sát
mặt đường – Phương Định, Nho và chị Thao. Họ sống trong một cái hang,trên cao điểm tại một
vùng trọng điểm ở tuyến đường Trường Sơn những năm chốngMỹ. Công việc của họ là quan sát
máy bay địch ném bom, đo khối lượng đất đá đểsan lấp hố bom do địch gây ra, đánh dấu những
quả bom chưa nổ và phá bom. Côngviệc nguy hiểm, luôn phải đối mặt với cái chết, nhưng cuộc
sống của họ vẫnkhông mất đi niềm vui hồn nhiên của tuổi trẻ, những giây phút thảnh thơi,
thơmộng. Họ rất gắn bó, yêu thương nhau dù mỗi người một cá tính. Trong một lầnphá bom,
Nho bị thương, hai người đồng đội hết lòng lo lắng và chăm sóc choNho. Một cơn mưa đá vụt
đến và vụt đi đã gợi trong lòng Phương Định bao hoài niệm, khát khao.
d.Tác giả
- Lê Minh Khuê sinh năm 1949, quê ở huyện Tĩnh Gia, tỉnhThanh Hóa.
- Trong kháng chiến chống Mĩ, gia nhập thanh niên xung phongvà bắt đầu viết văn vào đầu
những năm 70.
- Lê Minh Khuê là cây bút nữ chuyên về truyện ngắn.
- Trong những năm chiến tranh, truyện của Lê Minh Khuê viếtvề cuộc sống chiến đầu của tuổi
trẻ ở tuyến đường Trường Sơn.
- Sau năm 1975, tác phẩm của nhà văn bám sát những chuyểnbiến của đời sống xã hội và con
người trên tinh thần đổi mới.
e.Tác phẩm:
- Truyện "Nhữngngôi sao xa xôi" ở trong số những tác phẩm đầu tay của Lê Minh Khuê,viết năm
1971, lúc cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc đang diễn ra các liệt.Văn bản đưa vào sách
giáo khoa có lược bớt một số đoạn.
- Truyện ngắn được đưa vào tuyển tập “Nghệ thuật truyện ngắn thế giới” xuất bản ở Mĩ.
2. Bố của Xi-Mông
3. Con chó Bấc
a) Tác giả: Jack London (1876-1916) là nhà văn Mĩ. Ông từng trải qua thời thanh niên vất
vả, từng phải làm nhiều nghề để kiếm ăn và sớm tiếp cận với tư tưởng chủ nghĩa xã hội.
Vì những lẽ đó, ông thường được so sánh với Mác-xim Go-rơ-ki của Nga. J.London là
tác giả của nhiều tiểu thuyết nổi tiếng như Tiếng gọi nơi hoang dã (1903), Sói biển
(1904), Nanh trắng (1906), Gót sắt (1907),…
b) Tác phẩm: Văn bản Con chó bấc được trích trong tiểu thuyết The Call of the Wild
(Tiếng gọi nơi hoang dã)
c) Nội dung, ý nghĩa: Đoạn trích bộc lộ những nhận xét tinh tế của tác giả về con chó Bấc
đồng thời thể hiện tình cảm của tác giả đối với loài vật
d) Nghệ thuật
- Không sử dụng nhân hóa một cách triệt để. Chỉ qua lời kể chuyện cũng đã bộc lộ “tâm
hồn” của con chó Bấc
- Nhà văn đứng ngoài quan sát miêu tả chứ không nhập vào nhân vật, đóng vai nhân vật.
- Truyện vẫn rất sinh động, chân thật, nhờ tài năng quan sát, vốn hiểu biết và tình cảm của
tác giả đối với loài vật.
e) Tóm tắt tác phẩm: Truyện kể về số phận con chó Bấc bị bắt đưa lên miền Bắc để kéo xe
trượt tuyết, chuyển bưu kiện, thư từ rồi kéo xe cho những người tìm vàng. Từ một con
chó khỏe mạnh, tinh khôn Bấc đã chuyển qua tay nhiều ông chủ tàn bào, độc ác. Chỉ có
Thoóc- tơn là ông chủ duy nhất cảm hóa được Bấc bằng trái tim nhận hậu. Nhóm tìm
vàng của Thoóc- tơn cùng lũ chó tiến sâu mãi vào vùng rừng núi miền bắc hoang vu, lạnh
lẽo. Sống giữa thiên nhiên hoang dại, khắc nghiệt, tiếng gọi của rừng thẳm, của bản năng
và tổ tiên hoang dữ cứ dần dần thức tỉnh Bấc. Bấc thành một con chó to lớn hung dữ,
ranh ma. Nhưng rồi Thoóc- tơn và nhóm tìm vàng bị những người da đỏ giết chết thảm
trong rừng. Bấc đã theo tiếng gọi hoang dã của bầy sói rừng và trở thành một con sói
hoang, sói thần khủng khiếp.
B. PHẦN TIẾNG VIỆT:
I. Liên kết câu và liên kết đoạn văn
Các đoạn văn trong một văn bản cũng như các câu trong một đoạn văn phải liên kết chặt chẽ với
nhau về nội dung và hình thức.
chính xác, sinh động.
2. Cách làm bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí
• Muốn làm tốt bài nghị luận về tư tưởng đạo lí, ngoài các yêu cầu chung đối với mọi
bài văn, cần chú ý vận dụng các phép lập luận, giải thích, chứng minh, phân tích, tổng
hợp.
• Dàn bài chung
- Mở bài: Giới thiệu vấn đề tư tưởng, đạo lí cần bàn luận
- Thân bài
+ Giải thích, chứng minh nội dung vấn đề tư tưởng đạo lí.
+ Nhận định, đánh giá vấn đề tư tưởng đạo lí đó trong bối cảnh của cuộc sống riêng,
chung
- Kết bài: Kết luận, tổng kết, nêu nhận thức mới, tỏ ý khuyên bảo hoặc tỏ ý hành động.
• Bài làm cần lựa chọn góc độ riêng để giải thích, đánh giá và đưa ra được ý kiến của
người viết.
II. Nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)
1. Khái niệm
- Nghị luận vê tác phẩm truyện hoặc đoạn trích là trình bày những nhận xét đánh giá của
mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể.
- Những nhân xét, đánh giá về truyện phải xuất phát từ ý nghĩa của cốt truyện,tính cách, số
phận của nhân vật và nghệ thuật trong tác phẩm được người viết phát hiện và khái quát.
- Các nhận xét đánh giá về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) trong bài nghị luận phải rõ
ràng, đúng đắn, có luận cứ và lập luận thuyết phuc
- Bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) cần có bố cục mạch lạc, có lời văn
chuẩn xác, gợi cảm.
2. Cách làm bài nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn
trích
• Bài nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích có thể bàn về chủ đề, nhân vật, cốt
truyện, nghệ thuât của truyện.
• Bài làm đảm bảo đầy đủ các phần của một bài nghị luận.
- Mở bài: giới thiệu tác phẩm (tùy theo yêu cầu cụ thể của đề bài) và nêu ý kiến đánh giá