Tiểu luận: Các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học
Mục lục
Học viên: Nguyễn Minh Thắng – Sengthong Hatsachaly – Douangsavanh Houngtheva 1
Tiểu luận: Các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một nước khí hậu nhiệt đới, gió mùa, rất thích hợp cho việc trồng những
loại cây nhiệt đới: dứa, chuối, đu đủ, Trong đó đu đủ là loài cây dễ trồng, ra quả
sớm, sản lượng cao, chu kỳ kinh tế ngắn và có thể trồng xen trồng gối với các cây lâu
năm khác đồng thời toàn bộ thân, lá, quả của cây được sử dụng với nhiều mục đích
trong cuộc sống của con người, nên cây đu đủ được trồng với nhiều mục đích khác
nhau. Ngoài việc lấy quả ăn tươi, nguyên liệu cho chế biến, đu đủ còn được trồng để
lấy nhựa, dùng làm ra để chăn nuôi.
Với mong muốn có một cái nhìn tổng quan và đầy đủ về cây đu đủ, và cũng như là
hiểu rõ hơn về tác dụng của lá đu đủ trong việc phòng chống bệnh ung thư, chúng em
xin trình bày bài tiểu luận: “Tổng quan về cây đu đủ, các thành phần hóa học và khả
năng phòng chống ung thư của lá cây đu đủ”
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng bài tiểu luận của chúng em vẫn còn nhiều sai sót,
chúng em kính mong giảng viên PGS.TS. Đỗ Thị Hoa Viên nhận xét tận tình để bài
tiểu luận của chúng em được tốt hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn !
Học viên
Nguyễn Minh Thắng
Sengthong Hatsachaly
Douangsavanh Houngtheva
Học viên: Nguyễn Minh Thắng – Sengthong Hatsachaly – Douangsavanh Houngtheva 2
Tiểu luận: Các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học
I. TỔNG QUAN VỀ CÂY ĐU ĐỦ
1. Nguồn gốc, phân bố
Đu đủ (danh pháp khoa học: Carica papaya) là một cây thuộc Họ Đu đủ. Đây là cây
thân thảo to, không hoặc ít khi có nhánh, cao từ 3-10 m. Lá to hình chân vịt, cuống
dài, đường kính 50-70 cm, có khoảng 7 khía. Hoa trắng hay xanh, đài nhỏ, vành to
chúng được trồng nhiều ở tỉnh đồng bằng, dọc theo các con sông, trên các loại đất phù
sa, dốc tụ, phù sa cổ và nhiều loại đất khác, nhưng vùng đu đủ có thể kể đến là Hà
Tây, Hà Nam, Hưng Yên, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc (Miền Bắc), Lái Thiêu, Tiền
Giang, Sông Bé (cũ), các tỉnh Tây nguyên, (Miền Nam). Diện tích trồng đu đủ của
cả nước ước khoảng 10.000-17.000 ha với sản lượng khoảng 200 – 350 ngàn tấn quả.
2. Đặc điểm thực vật
Hình 1: Cây đu đủ
Thân đu đủ là cây thân thảo nhiệt đới đạt chiều cao 2 – 10m với đường kính gốc
có thể đạt 30cm. Cây ít hoặc không phân nhánh có màu tối sấm các đốt sít nhau và
được phân biệt bởi các vết cuống lá đã rụng. Thân cây có cấu tạo đặc biệt, phần trong
của thân lá các mô mềm, xốp, dòn có nhiệm vụ dự trữ các chất dinh dưỡng (có thể làm
thức ăn thay rau, chăn nuôi) khi cây còn sung sức và trở nên xốp rỗng khi cây già yếu.
Học viên: Nguyễn Minh Thắng – Sengthong Hatsachaly – Douangsavanh Houngtheva 5
Tiểu luận: Các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học
Độ cứng của thân cây là do các mộ mạch dẫn tạo thành lớp bó mạch bao quanh và nếu
lớp mô này bị tồn thương hoặc bị bệnh thì thân cây dễ bị gãy, đổ dễ dàng. Trên thân
có các mô phân sinh bên có thể hình thành chồi song phần lớn chúng đều ở trạng thái
ngủ.
Lá đu đủ bản rộng và chia thành thùy. Số lượng các thùy lá thay đổi và tăng dần
theo vị trí lá trên thân và thường đạt số thùy là ổn định khi cây đã đạt 8- 9 lá với số
thùy biến động từ 7-8 thùy. Phiến lá đạt kích thước từ 60-100cm và cuống lá đạt độ
dài 70-90cm. Lá rất mẫn cảm với sương muối, gió lạnh cũng như điều kiện ngoại cảnh
bất thuận lợi như hạn, úng, thiếu dinh dưỡng biểu hiện bằng các phản ứng ra lá chậm,
phiến lá héo rũ, hoại tử mô lá, rụng sớm…
Trong các tháng có nhiệt độ cao, dinh dưỡng nước đầy đủ, đu đủ có thể ra 9-14 lá.
Về mùa đông từ tháng 11 đến tháng 2 tốc độ ra lá chậm đi nhiều chỉ đạt 1-2 lá/tháng.
Khi cây được 22-27 lá thật cây bắt đầu ra hoa, số lá trên cây nhiều hay ít có liên quan
chặt chẽ đến năng suất của cây. Một cây đạt trung bình từ 13- 17 lá xanh hoạt động thì
tỷ lệ hoa đậu quả và quả phát triển bình thường, nếu đạt được 25-30 lá hoạt động thì
năng suất sẽ cao và ổn định.
chung khi quả chín trong thời gian ít mưa, nhiệt độ cao và quả càng có nhiều hạt thì
phẩm chất của quả càng tốt. Vỏ quả mỏng rất dễ dập nát nên ít chịu vận chuyển.
Hình 2: Quả và hạt đu đủ
Học viên: Nguyễn Minh Thắng – Sengthong Hatsachaly – Douangsavanh Houngtheva 7
Tiểu luận: Các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học
Mỗi quả có một số lớn hạt và có thể đạt 1000-1.400 hạt trong điều kiện được thụ
phấn, thụ tinh tốt. Hạt có màng mỏng bao quanh và chứa dầu nên dễ
mất sức nảy mầm. Hạt nảy mầm tốt khi nhiệt độ 35 độ C, dưới 23 độ C hay cao hơn
44 độ C để ức chế này mầm của hạt.
3. Các giống đu đủ đang trồng hiện nay
Do có khả năng giao phấn rất lớn và nhân giống bằng hạt nên số lượng các giống đu
đủ được trồng khá nhiều. Theo thống kê của các nhà khoa học thì có đến hơn 70 giống
đu đủ và đang được trồng ở các nước nhiệt đới. Tuy nhiên, do khả năng giao phấn
lớn nên các giống bị phân ly rất mạnh làm phẩm cấp giống bị giảm, thậm chí bị “mất”.
Một số giống chủ yếu được trồng hiện nay bao gồm các giống sau :
Đu đủ ta :
Là nhóm giống bao gồm các giống mang tên gọi là đu đủ ta, được trồng phổ biến
ở vùng trung du, miền núi phía Bắc, vùng bán sơn địa của vùng đồng bằng sông
Hồng. Đặc tính chung của nhóm này là cây sinh trưởng khỏe, lá xanh đậm song phiến
lá mỏng, cuống lá dài, mảnh nhỏ và thường có màu xanh. Cây cao 2-8m, khá chống
chịu với điều kiện bất thuận, chịu sâu và bệnh (các loại bệnh khảm lá). Quả nhỏ tạo
thành chùm 1-3 quả. Thịt quả màu vàng, mỏng, vỏ quả mỏng rất dễ dập nát. ít chịu
vận chuyển.
Đu đủ Mêhicô :
Là giống nhập nội trong những năm 70 của thế kỷ XX. Cây đạt chiều cao trung
bình 2-4m, gốc thân to, khỏe và các đốt rất sít nhau. Lá xanh đâm, phiến lá dày, cuống
lá to, màu xanh. Quả dài, tương đối đặc ruột, vỏ quảsù xì dày khá chịu vận chuyển, đạt
trọng lượng trung bình 0.8-1.2kg/quả. Thịt quả màu vàng, chắc phẩm chất khá song
hơn nhiều xơ. Đây là giống có tỷ lệ cây lưỡng tính và cấy cái cao, yêu cầu thâm canh
và dễ nhiễm bệnh hoa lá.
bị nhiệm bệnh khảm song dễ mẫn cảm với bệnh đốm vòng trên lá và đặc biệt trên quả.
Là giống có tỷ lệ cây cái rất cao (đạt đến 60% số cây) còn lại là cây lưỡng tính vì vậy
thường có hiện tượng thiếu phấn làm quả phát triển không đều và cần phải thụ phấn
bổ khuyết cho hoa cái. Là giống yêu cầu thâm canh cao, thích trống ở các tính phía
Bắc. Ở miền Nam giống đu đủ Trạng nguyên đã được trồng nhiều ở các tỉnh
miền Đông như : Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, và các tỉnh
miền Tây như : Tiền Giang, Long An, Đồng Tháp, Bến Tre, An Giang, Sóc Trăng…
Giống đu đủ trạng nguyên là giống lai, cây sinh trưởng mạnh cho năng suất cao,
phẩm chất tốt, chịu mưa, chịu nhiệt, kháng bệnh, không có cây đực quả dài khi chín
Học viên: Nguyễn Minh Thắng – Sengthong Hatsachaly – Douangsavanh Houngtheva 9
Tiểu luận: Các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học
có màu đỏ đẹp, thịt dày chắc và dài, độ ngọt cao, thơm ngon, thích hợp vận chuyển đi
xa bảo quản được lâu. Ăn được hoặc làm sinh tố rất ngon và bổ dưỡng.
Các giống đu đủ khác :
Ngoài các giống trên trong sản xuất còn có trồng các giống khác như : Đu đủ
CuBa, đu đủ ĐHNN, đu đủ Ấn Độ… song số lượng không nhiều và đang mất dần do
sự hiện diện của các giống lai của Đài Loan và Thái Lan.
4. K% thuật trồng cây đu đủ
a. Thời vụ trồng
Miền Bắc: Vụ xuân: trồng tháng 2 - 4, vụ thu: trồng tháng 8 - 10.
Miền Trung: vụ xuân trồng vào tháng 12 - 1, vụ hè thu trồng tháng 5 – 6.
Miền Nam: trồng vào đầu mùa mưa (tháng 4 – 5). Những vùng chủ động tưới tiêu
trồng vào cuối mùa mưa (tháng 10 – 11).
b. Chuẩn bị cây con
- Hạt giống ngâm trong nước 2 – 4 giờ, vớt ra, ủ trong khăn ẩm 1 – 2 ngày.
- Đất gieo hạt: trộn đều 2 phần đất + 1 phần phân chuồng hoai mục, cho hỗn hợp vào
các túi bầu kích thước 7 x 10 cm khoảng 2/3 túi (các túi bầu đã đục lỗ).
- Gieo hạt vào trong bầu đất: mỗi bầu gieo một hạt, sau đó phủ một lớp đất mỏng và
tưới nhẹ.
- Khi cây con có 3 – 5 lá thật, cao 15 – 20 cm thì đem trồng .
+ Lần 3: 160 - 200 g urê, 250 - 500 g supe lân, 60 - 90 g Kalisulfat; bón sau khi thu
hoạch quả lứa đầu
- Năm thứ 2: 300 - 400 g urê, 1000 - 1500 g supe lân, 300 - 400 g Kalisulfat; bón làm
nhiều lần.
Ở những vùng đất thiếu borax, định kỳ 1 tháng 1 lần phun axít boric nồng độ pha
loãng 500 - 1.000 lần, phun mặt dưới lá.
- Làm cỏ, xới xáo
Rễ cây đu đủ ăn nông nên phải xới nông, nhổ cỏ bằng tay để không ảnh hưởng đến rễ
cây.
- Cắm cọc giữ cây:
Vào thời kỳ cây đậu quả nhiều mà gặp gió bão có thể cắm cọc giữ cây và chặt bớt một
số lá già gần gốc để giảm bớt sức cản gió, chống đổ ngã hoặc gẫy cây.
- Tỉa cành, tỉa quả:
Ngắt bỏ những nhánh con mọc ra từ thân chính. Thời kỳ cây ra quả nhiều, cần tỉa bớt
quả nhỏ, quả bị sâu bệnh, méo mó.
Học viên: Nguyễn Minh Thắng – Sengthong Hatsachaly – Douangsavanh Houngtheva 11
Tiểu luận: Các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học
f. Phòng trừ sâu bệnh
- Sâu hại: bọ trĩ, bọ nhảy, rệp sáp, nhện đỏ, bọ xít, rầy mềm…
- Bệnh hại: khảm vàng lá, đốm hình nhẫn (hay khảm vòng), héo rũ, thối gốc.
- Đối với các sâu bệnh trên, biện pháp phòng cho hiệu quả tốt nhất là:
+ Chọn cây giống khoẻ mạnh, không bị nhiễm sâu bệnh;
+ Thường xuyên kiểm tra, phát hiện và chặt bỏ những cây bị bệnh virus;
+ Làm sạch cỏ dại, thu gom lá già trong vườn đu đủ;
+ Không nên trồng xen các loại rau cải, bầu bí, mướp trong vườn đu đủ. Hạn chế việc
làm cây bị sây sát tạo vết thương cơ giới;
+ Chăm sóc cây sinh trưởng phát triển tốt, khoẻ mạnh để tăng sức chống chịu với sâu
bệnh;
+ Có thể sử dụng một số loại thuốc như Ridomil, Daconil… để phòng trừ bệnh;
Thianmectin 0,5ME, Confidor, Trebon… để phòng trừ côn trùng.
Các sản phẩm chế biến từ quả (chín hoặc xanh) là rất phong phú và tùy thuộc vào
điều kiện sẵn có, truyền thống và vùng mà các sản phẩm chế biến khác nhau. Nhìn
chung từ quả xanh có thể chế biến thành mứt đu đủ, salat, nộm đu đủ, dưa góp và đu
đủ sấy khô dùng để muối dưa hoặc các món ăn khác. Từ quả chín phổ biến là chế biến
thành sinh tố đu đủ, mứt ướt, nước uống, đóng hộp dạng miếng có đường và nhiều sản
phẩm khác.
Học viên: Nguyễn Minh Thắng – Sengthong Hatsachaly – Douangsavanh Houngtheva 13
Tiểu luận: Các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học
II. THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ TÁC DỤNG CỦA ĐU ĐỦ VỚI SỨC KHỎE
CON NGƯỜI
1. Thành phần hóa học
Bảng 2: Giá trị dinh dưỡng trong 100g đu đủ
Đu đủ chín chứa khoảng 90% nước, 13% đường, không có tinh bột, có nhiều
carotenoid, acid hữu cơ; Các vitamin A, B, C, protid; 0,9% chất béo, xenlulo (0,5%),
canxi (35mg), phốt-pho (32mg), ma-giê, sắt, thiamin, riboflavin. Thành phần bay hơi
là các cacbua monoterpen, các dẫn xuất furanic của linalol, isothiocyanat benzyl, các
glucozid thơm và glucotropeolin.
Đu đủ xanh, ngoài các chất trên còn chứa 4% chất nhựa mủ latex màu trắng đục - là
hỗn hợp của nhiều proteaza (loại men tiêu hóa chất đạm), trong đó chất chủ yếu là
Học viên: Nguyễn Minh Thắng – Sengthong Hatsachaly – Douangsavanh Houngtheva 14
Tiểu luận: Các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học
papain. Một cây đu đủ mỗi năm cho khoảng 100g nhựa mủ, lấy nhựa khi quả còn non
trên cây.
Ngoài ra đu đủ còn có chymopapain và papaya protenaza. Để lấy nhựa mủ (papain
thô), dùng dao bén rạch dọc quả đu đủ xanh, cho mủ chảy vào bát, sau đó phơi nắng
hoặc sấy khô ở 40-600C. Tinh chế papain bằng cách hòa tan papain thô vào nước
thành dung dịch, sau đó rót vào cồn 90 độ, lọc lấy papain kết tủa rồi đem sấy.
Lá đu đủ chứa alcaloid carpain, có tác dụng giống glucozid của dương đại hoàng -
Digitalis, còn có tác dụng làm chậm nhịp tim, diệt amip. Hạt đu đủ có glucozid caricin
và myrosin.
chất nói trên.
- Tăng cường sức đề kháng
Vitamin C và A do đu đủ cung cấp cho cơ thể sẽ giúp hệ miễn dịch làm việc tốt hơn,
nhất là nguy cơ phòng chống các loại bệnh thường xuất hiện khi giao mùa như: cảm,
cúm, viêm tai
- Ngăn ngừa nguy cơ thoái hóa điểm vàng
Trên tạp chí Nhãn khoa (AOO) của Hoa Kỳ số ra đầu năm 2009, đã khuyến cáo người
ta nên ăn 3 xuất rau xanh hoa quả mỗi ngày (mỗi xuất tương đương 1 bát nhỏ), sẽ
giảm được nhiều nguy cơ mắc bệnh thoái hóa điểm vàng có liên quan đến tuổi tác
(AMRD). Cụ thể làm giảm được tới 36% nguy cơ so với những người chỉ ăn 1 - 1,5
xuất. Loại hoa quả tốt nhất có thể ngăn ngừa bệnh ARMD bao gồm: cà rốt, đu đủ vì
đây là loại quả có chứa nhiều vitamin C, A, E, carotenoid, chất chống oxy hóa. Có thể
chế biến đu đủ dưới dạng xa lát, nước ép hoặc ăn trực tiếp.
- Giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp
Mặc dù sử dụng liều cao vitamin C có thể làm tăng nguy cơ bệnh loãng xương nhưng
vitamin C có trong thực phẩm, đặc biệt là trong đu đủ lại có tác dụng bảo vệ cơ thể
trước nguy cơ mắc bệnh polyarthiritis, một dạng bệnh viêm khớp dạng thấp. Kết luận
trên được dựa theo nghiên cứu với hơn 20.000 người sử dụng vitamin C có trong đu
đủ và phát hiện thấy có tác dụng rất cao trong việc ngăn ngừa viêm nhiễm gây đau
nhức ở người bệnh.
- Tăng cường chức năng phổi
Học viên: Nguyễn Minh Thắng – Sengthong Hatsachaly – Douangsavanh Houngtheva 16
Tiểu luận: Các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học
Những người nghiện hút thuốc lá hoặc phải sống trong môi trường có khói thuốc (hút
thuốc thụ động) thì nên bổ sung thực phẩm giàu vitamin A, trong đó có đu đủ. Theo
nghiên cứu của các chuyên gia ở Đại học Kansas (Hoa Kỳ) cho thấy, đây là dưỡng
chất có tác dụng ngăn ngừa bệnh viêm nhiễm phổi và bệnh khí phế thũng
(enphysema) do hợp chất carcinogen trong khói thuốc lá và benzopyrene trong khói
thuốc lá gây ra, nó làm tăng nguy cơ thiếu hụt vitamin A ở con người, nhất là ở nhóm
người cao tuổi.
tinh hoặc nồi Inox, đường kính khoảng 30cm, cho càng nhiều càng tốt. Đổ xâm xấp
nước, đun từ từ đến khi sôi, để sôi 10 phút, sau đó tắt lửa, đậy vung để nguội dần. Sau
2 giờ đun, rót nước ra uống.
Học viên: Nguyễn Minh Thắng – Sengthong Hatsachaly – Douangsavanh Houngtheva 18
Tiểu luận: Các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học
Cách dùng:
Mỗi ngày uống 600ml chia 3 lần, mỗi lần 200ml, khi uống kèm theo 2 thìa cà phê mật
mía, uống vào lúc no. Trong thời gian uống thứ thuốc này người bệnh không phải ăn
kiêng.
Chú ý: Phải uống cùng với mật mía, uống liên tục từ 5-6 tháng trở lên mới có kết quả.
Nước lá đu đủ để ngoài dễ bị thiu và lên men nên khi nấu xong cần cho vào tủ lạnh để
uống dần.
2. Một số các nghiên cứu về việc sử dụng lá đu đủ trong việc chữa bệnh ung thư
Kết quả kiểm tra của giáo sư Nguyễn Xuân Hiền với 12 bệnh nhân qua điện thoại cho
thấy:
- 4 người (3 u phổi, 1 chửa trứng) uống được trên 5-6 tháng thì sức khỏe ổn định, lên
cân, u thu nhỏ, hết hạch cổ, đỡ ho, đỡ đau.
- 3 người bị u phổi uống được hơn 2-3 tháng thì u nhỏ đi, sức khỏe tốt hơn.
- 1 bệnh nhân u phổi khác uống được 2 tháng, bệnh tiếp tục tiến triển, đau, ho nhiều.
- 3 trường hợp chết (1 u phổi, 1 u dạ dày, 1 u gan), chỉ uống chưa được 2 tháng sau đó
chuyển thuốc Đông y khác.
- 1 trường hợp u đại tràng di căn chỉ uống chưa được 2 tháng, kết quả không mấy tiến
triển.
Theo GS. Hiền, kết quả ở 4 bệnh nhân đầu là rất đáng lưu tâm. Từ kết quả thu được,
GS Hiền nhận xét: Các trường hợp uống thuốc không đem lại hiệu quả thường rơi vào
những người bệnh nặng đã chuyển sang di căn; không uống đủ trong thời gian 5-6
tháng hoặc uống được một thời gian thì chuyển sang thuốc khác.
Trong thời gian gần đây, ở Úc và Mỹ mới có một số nhà nghiên cứu (Betty
Dllingworth, Vem Frest, giáo sư tiến sĩ Đặng Nam và một số đồng nghiệp Nhật Bản,
đã công bố trong tạp chí Journal of Ethnopharmacology số 17 – 2) tác dụng chống ung
Học viên: Nguyễn Minh Thắng – Sengthong Hatsachaly – Douangsavanh Houngtheva 20
Tiểu luận: Các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học
uống điều độ, tập luyện thể dục thể thao hợp lý, suy nghĩ lạc quan, giữ cho tinh thần
luôn thoải mái để đạt kết quả điều trị cao nhất.
Học viên: Nguyễn Minh Thắng – Sengthong Hatsachaly – Douangsavanh Houngtheva 21
Tiểu luận: Các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học
KẾT LUẬN
Khoa học ngày càng phát triển, việc nghiên cứu và tìm ra những phương thuốc mới
giúp phòng ngừa và chữa trị ung thư ngày càng có một vai trò hết sức quan trọng
trong cuộc sống. Ngoài việc sử dụng thuốc tây, ngày nay khoa học hiện đại rất chú
trọng vào việc nghiên cứu và sử dụng những hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học
(ví dụ như việc dùng lá đu đủ trong chữa trị bệnh ung thư đã đạt được một số kết quả
khả quan). Với những đặc tính ưu việt trong phòng chống chống và chữa trị bệnh ung
thư, các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học ngày càng đóng một vai trò quan
trọng trong y học hiện đại.
Học viên: Nguyễn Minh Thắng – Sengthong Hatsachaly – Douangsavanh Houngtheva 22
Tiểu luận: Các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bài giảng “Các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học”, PGS.TS Đỗ Thị Hoa
Viên, Đại Học Bách Khoa Hà Nội.
2. Sách “Cây đu đủ & kĩ thuật trồng”, GS.TSKH Trần Thế Tục – TS. Đoàn Thế Lư,
Nhà xuất bản Lao động – Xã hội.
3. Một số tài liệu trên mạng Internet:
http://csvtsnt.ning.com/forum/topics/dich-chi-t-la-u-u-tri-ung-thu?xg_source=activity
http://www.anninhthudo.vn/San-phamUng-dung/La-du-du-chong-ungthu/368747.antd
http://batkhuat.net/yhoc-ladudu-chongungthu.htm
http://news.bacsi.com/bac-si-gia-dinh/chua-benh-nhan-gian/la-du-du-co-chua-duoc-
benh-ung-thu-khong/
Học viên: Nguyễn Minh Thắng – Sengthong Hatsachaly – Douangsavanh Houngtheva 23