SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM, NĂM HỌC 2010-2011
ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO KỸ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN về
MỘT TÁC PHẨM VĂN XUÔI CHO HỌC SINH KHỐI 12
THI TỐT NGHIỆP.
0O0
A/ ĐẶT VẤN ĐỀ:
1/ Trong chương trình Ngữ văn 12, các tác phẩm - đoạn trích văn xuôi
chiếm một vị trí quan trọng. Vì thế, trong đề thi tốt nghiệp và đại học-cao
đẳng, câu hỏi về tác phẩm văn xuôi luôn chiếm một tỷ lệ cao, khoảng 50 %
trở lên. Ở phần phần riêng dành cho phần lựa chọn, nếu đề theo chương trình
cơ bản là thơ, thì đề theo chương trình Nâng cao sẽ là văn xuôi, và ngược
lại. Trong thực tế, khi kiểm tra và thi tốt nghiệp hay đại học cao đẳng, học
sinh chúng ta lại thích lựa chọn câu hỏi về tác phẩm, đoạn trích văn xuôi
nhiều hơn. Nhiều em học chương trình cơ bản vẫn cứ chọn đề ở phần Nâng
cao miễn là có câu hỏi về văn xuôi. Có thể do nhiều lý do sau:
@ Học sinh không tự tin với dạng đề phân tích một bài thơ - đoạn thơ,
đòi hỏi sự cảm nhận tinh tế, trình bày phải biểu cảm.
@ Nhiều em ngộ nhận với dạng đề nghị luận về tác phẩm văn xuôi dễ
hơn, bởi các em đã nắm cốt truyện, nhân vật, nội dung tác phẩm…Diễn đạt
không cần nhiều sự biểu cảm.
Thế nhưng, thực tế cho thấy, các câu hỏi về tác phẩm văn xuôi phong
phú, đa dang hơn, yêu cầu cao hơn về việc hiểu đề và xây dựng hệ thống
luận điểm. Đặc biệt trong những năm gần đây, cùng với việc đổi mới kiểm
tra đánh giá, nhiều câu hỏi nhằm kiểm tra mức độ Thông hiểu và vận dụng
tập trung nhiều về nghị luận một tác phẩm- đoạn trích văn xuôi, khiến không
ít học sinh bỡ ngỡ, như: phân tích ý nghĩa nhan đề truyện, tình huống truyện,
chi tiết- tình tiết truyện, đặc sắc nghệ thuật truyện, giá trị hiện thực, giá trị
nhân đạo, …
Trong khi đó, trong chương trình Ngữ văn lớp 12, phân môn Làm văn
chiếm vị trí nhỏ bé, chưa hình thành cho học sinh những kỹ năng phân tích
văn, chất sử thi, nghệ thuật trần thuật, tình huống truyện, cách kết thúc
truyện…nên không xây dựng đủ các luận điểm.
@ Chỉ nói về nội dung tác phẩm, chưa biết và ít phân tích nghệ thuật
tác phẩm.
Những hạn chế sai sót trên dẫn đến kết quả của bài làm không cao.
Từ những thực tế đó, qua quá trình giảng dạy ở khối 12, chúng tôi mạnh dạn
đề xuất một vài kinh nghiệm dưới đây, nhằm NÂNG CAO KỸ NĂNG
LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM, ĐOẠN TRÍCH VĂN
XUÔI.
Giáo viên : Nguyễn Văn Tường 2
B/ NỘI DUNG:
Để làm được, làm tốt kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm, đoạn
trích văn xuôi, đầu tiên, chúng ta cần trang bị cho học sinh những kiến thức
và kỹ năng cần thiết sau:
@ Nhận biết các dạng đề.
@ Các yêu cầu ( luận điểm ) phải có ở mỗi dạng đề.
@ Cách đánh giá nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm văn xuôi.
Do vậy, để bài học Nghị Luận về Một Tác Phẩm, Đoạn Trích Văn Xuôi
( Ngữ văn 12, tập 2, trang 34-36 ) và bài Ôn tập phần Làm văn ( tiết
100,101,102) thật sự hiệu quả, giáo viên cần cung cấp cho học sinh các kiến
thức và kỹ năng trên, sau đó cho học sinh tiến hành luyện tập với hai bài tập
ở sách giáo khoa và những bài tập minh họa tương ứng. Trong các bài kiểm
tra định kỳ và các giờ trả bài, phần nghị luận văn học, chúng ta vừa cho học
sinh luyện tập, vửa củng cố và uốn nắn những sai sót.
I/ Dạng đề 1: Phân tích ý nghĩa nhan đề tác phẩm.
a/ Cách làm bài: cần nêu được các ý sau:
@ Xuất xứ của nhan đề: phải nói rõ nhan đề ấy được lấy từ đâu, trong hay
ngoài tác phẩm. Đặc biết chú ý với những trường hợp tác giả có quá trình
lựa chọn, thay đổi nhan đề tác phẩm. Thông thường, nhà văn thường đặt
nhan đề bằng những cách quen thuộc như:
Cách mạng tháng Tám.
2/ Dạng đề Phân tích ý nghĩa tình huống truyện.
a/ Cách làm bài: cần đảm bảo các ý cơ bản sau:
- Giới thiệu tác giả tác phẩm.
- Trình bày tóm lược tình huống truyện
- Ấn tượng và nhận xét về tình huống truyện: sự độc đáo, sức hấp dẫn,
đóng góp vào sự phát triển cốt truyện và nhân vật.
- Ý nghĩa của tình huống truyện trong việc thể hiện chủ đề.
b/ Những tác phẩm có tình huống truyện cần chú ý:
- Vi hành của Nguyễn Ái Quốc
- Hạnh phúc của một tang gia, trích Số đỏ của Vũ Trọng Phụng
- Vợ Nhặt của Kim Lân
- Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu
- Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi
c/ Ví dụ minh họa:
Phân tích tình huống truyện Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh
Châu.
- Giới thiệu Nguyễn Minh Châu và truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa
- Tái hiện tình huống truyện
- Ấn tượng và đặc sắc của tình huống: hấp dẫn, độc đáo và đầy nghịch lý:
cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp nhưng cảnh đời thì đen tối, người vợ tốt lại bị
chồng ngược đãi, người có thiện chí giúp đỡ lại bị nạn nhân từ chối
quyết liệt…
- Ý nghĩa chủ đề của tình huống:
+ Giá trị hiện thực: phản ánh hiện thực cuộc sống mưu sinh, nạn bạo
hành gia đình
+ Giá trị nhân đạo: bày tỏ cái nhìn nhân đạo của tác giả về cuộc sống,
con người.
Giáo viên : Nguyễn Văn Tường 4
+ Bày tỏ quan niệm nghệ thuật: người nghệ sĩ và nghệ thuật phải gắn bó
gắn liền, làm nên nhân vật; ngôn ngữ nhân vật; cách kể về nhân vật…
* Một số dạng đề quen thuộc trong chương trình Ngữ văn 12, được vận
dụng trong các kỳ thi tốt nghiệp và đại học cao đẳng.
@ Về đặc điểm nội dung:
- Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ của
Tô Hoài.
- Phân tích nhân vật Tràng trong Vợ Nhặt của Kim Lân.
- Phân tích nhân vật Tnu trong Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành.
Giáo viên : Nguyễn Văn Tường 5
- Vẻ đẹp của người đàn bà hàng chài trong Chiếc Thuyền Ngoài Xa của
Nguyễn Minh Châu.
- Phân tích nhân vật Việt, Chiến trong Những đứa con trong gia đình của
Nguyễn Thi.
@ Về đặc điểm nghệ thuật:
- Phân tích diễn biến tâm lí nhân vật Mị trong đêm xuân tình, đêm mùa
đông
- Phân tích diễn biến tâm lí bà cụ Tứ trong Vợ nhặt
- Nhận xét về nghệ thuật xây dựng Việt trong Những đứa con trong gia
đình
b/ Phân tích nhân vật theo một nhận định so sánh:
@ Phương pháp làm bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhân vật
- Phân tích những đặc điểm của nhân vật, tập trung phân tích sâu những
đặc điểm liên quan đến nhận định-so sánh.
- Khẳng định tính đúng, hay của nhận định về nhân vật
- Nêu ý nghĩa của nhận định, so sánh về nhân vật.
@ Ví dụ:
- Trong Chữ người tử tù, vì sao nhà văn lại ví tấm lòng của Viên quản
ngục như “ một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc
luật đều hỗn loạn xô bồ !” ?
+ Nhà văn thương cảm sâu sắc, mở ra hướng giải quyết hiện thực: sự
thương yêu, lòng cưu mang và niềm lạc quan giúp những người nông dân
nghèo khổ vượt qua cái chết, nạn đói.
@ Phân tích giá trị nhân đạo:
* Cách làm bài:
Ý 1: Giới thuyết về giá trị nhân đạo
Ý 2: Giá trị nhân đạo được thể hiện trong tác phẩm:
+ Nhà văn thấu hiểu đồng cảm nỗi khổ của nhân vật.
+ Tố cáo sự tàn ác của các thế lực bất lương.
+ Phát hiện, khẳng định, ngợi ca những giá trị, phẩm chất, vẻ đẹp của
con người.
+ Tin tưởng trân trọng những ước mơ, khả năng của con người vào
cuộc sống.
Ý 3: Đánh giá mức độ thành công, sự mới mẻ hay sâu sắc của tư tưởng
nhân đạo.
* Ví dụ: Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm Vợ Nhặt, Vợ chồng A
Phủ.
b/ Phân tích một khía cạnh về nghệ thuật
@ Phân tích đặc sắc nghệ thuật của truyện: phân tích theo các ý đã nói ở
cuối trang 5.
@ Phân tích tình huống truyện: đã tách riêng thành một dạng đề ( dạng đề
2, trang 4 )
@ Phân tích khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn:
* Cách làm bài: phần thân bài
Ý 1: Giới thuyết khái quát về khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
Ý 2: Biểu hiện của khuynh hướng sử thi trong tác phẩm, qua các phương
diện: + đề tài
+ chủ đề
+ nhân vật chính
+ giọng điệu
- Giúp nhận diện đúng các dạng đề, xác định đúng trọng tâm yêu cầu đề
bài.
- Giúp học sinh chủ động xây dựng các luận điểm, luận cứ đầy đủ, sát
đúng với đáp án chấm của kì thi. Tránh các hiện tượng lạc đề, lạc ý,
thiếu ý, sắp xếp ý lộn xộn, hay viết lan man, kể lể dài dòng về tác phẩm
mà không đạt được các yêu cầu của đề ra.
- Giúp mạnh dạn đánh giá mức độ thành công về nội dung chủ đề và đặc
sắc nghệ thuật của tác phẩm văn xuôi, tránh đánh giá chung chung, xa lạ
với tác phẩm. Tránh lối học thuộc lòng bài từ sách vở hay văn mẫu.
Giáo viên : Nguyễn Văn Tường 8
Nếu chúng ta cung cấp đầy đủ các dạng đề, các ý cần phải có ở mỗi đề
bài, và thực hiện luyện tập nhiều qua các bài kiểm tra thường xuyên, các đợt
kiểm tra học kỳ, thi thử…học sinh sẽ làm bài tốt hơn, đạt điểm cao hơn
trong các kỳ thi tốt nghiệp và đại học cao đẳng.
II/ TÍNH KHẢ THI VÀ KẾT QUẢ VẬN DỤNG CỦA ĐỀ TÀI:
1/ Với sáu dạng đề chính như vậy, chúng ta sẽ lồng ghép trang bị kiến thức
lý thuyết, cho luyện tập và củng cố, chỉnh sửa cho học sinh ở những tiết học
sau:
- Bài Nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi: 01 tiết ( PPCT: 63 )
- Ôn tập Phần Làm văn: 02 tiết ( PPCT 94, 95)
- Ôn tập văn học : 04 tiết ( tiết 49, tiết 100,101,102 )
- Các tiết bài viết nghị luận văn học: bài viết số 3, 4, 5, 6, 7.
- Các tiết trả bài viết về nghị luận văn học 3, 4, 5, 6, 7: 07 tiết.
Việc vận dụng các dạng đề này sẽ giúp chúng ta có nhiều câu hỏi phong
phú cho các bài kiểm tra. Do đó tính khả thi sẽ rất cao, rất dễ dàng vận
dụng.
Đặc biệt, trong quá trình ôn tập cho học sinh thi tốt nghiệp, học sinh sẽ
được luyện tập nhuần nhuyễn hơn.
2/ Đánh Giá Kết Quả Vận Dụng Đề Tài:
Năm học qua, với ý thức trách nhiệm của một tổ trưởng, người viếtĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC SỞ GD-ĐT: Giáo viên : Nguyễn Văn Tường 11