luận văn công nghệ sinh học Nghiên cứu chế biến tinh bột thành tinh bột biến tính để ứng dụng trong tinh bột hoà tan và công nghiệp giấy - Pdf 27

Phan Quốc Phong Đồ án tốt
nghiệp
Mở đầu
Nước ta nằm ở vùng nhiệt đới nên có nhiều điều kiện thuận lợi về tự nhiên để
phát triển nông nghiệp. Trong những năm gần đây nước ta sản xuất ra rất nhiều
lương thực, nhu cầu nhân dân được đáp ứng đầy đủ, một phần lương thực đã được
xuất khẩu nhưng chủ yếu là gạo. Các cây lương thực khác như ngô, khoai, sắn
cũng được trồng ở nhiều nơi và có sản lượng cao. Theo niên giám thống kê năm
1998, diện tích trồng khoai lang là 4018 ha, sản lượng 2399900 tấn /năm. Diện tích
trồng sắn 2777400 ha, sản lượng 2211500 tấn/năm. Với nguồn tinh bét khoai và
sắn dồi dào như vậy thì trên thực tế ta chỉ sử dụng trực tiếp cho chăn nuôi là chủ
yếu, còn phần để chế biến thành các sản phẩm có giá trị còn Ýt. Đời sống nhân dân
ở các vùng trồng khoai và sắn rất khó khăn vì sắn và khoai có giá trị thương phẩm
thấp, những vùng đó lại chỉ thích hợp cho các loại cây trên phát triển. Để từng
bước tháo gỡ khó khăn thì việc nghiên cứu làm tăng giá trị sử dụng, đa dạng các
sản phẩm từ các nguyên liệu rẻ tiền là cần thiết. Một trong những biện pháp là sản
xuất tinh bột biến tính để sử dụng trong công nghiệp thực phẩm và các ngành công
nghiệp khác. Nhu cầu về tinh bột biến tính ở nước ta rất lớn và chủ yếu phải nhập
khẩu. Để nâng cao đời sống nhân dân, sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có em được
giao nhiệm vụ :″Nghiên cứu chế biến tinh bột thành tinh bột biến tính để ứng dụng
trong tinh bột hoà tan và công nghiệp giấy”.
Nội dung bao gồm:
-Xác định một số đặc tính của tinh bét khoai và sắn.
PHẦN I
1
Phan Quốc Phong Đồ án tốt
nghiệp
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
I. Tinh bét
Trong thiên nhiên, tinh bột là hợp chất hữu cơ rất phổ biến và dồi dào chỉ sau
xenluloza. Tinh bột là nguồn dự trữ năng lượng chủ yếu của cây trồng. Nó có mặt

0
chiều cao là 9,71A
0
. Các nhóm Hydroxyl của các gốc glucoza
được bố trí phía ngoài xoắn ốc, bên trong là các nhóm C-H. Kích thước bên trong
vòng phải đủ lớn để chứa được phân tử Iôt, Butanol. Phân tử lượng của amiloza
trong khoảng 50.000-160.000. Theo Stepanenko thì amiloza có hai loại:
+Amiloza có mức độ trùng hợp tương đối thÊp ( khoảng 2000) thì không có cấu
trúc bất thường và bị phân ly hoàn toàn bởi β-amilaza
+Amiloza có mức độ trùng hợp lớn (trên 6000)có cấu trúc án ngữ với β-amilaza
nên chỉ bị phân giải 60%.
Hình 1.
I.1.1.2.Các tính chất của amiloza
Amiloza dễ tan trong nước Êm và tạo nên dung dịch có độ nhớt không cao.
Dung dịch của amiloza không bền khi nhiệt độ hạ thấp các dung dịch đậm đặc của
amiloza nhanh chóng tạo gel tinh thể và các chất kết tủa không thuận nghịch.
Hiện tượng tinh bột đã được hồ hoá chuyển trở về trạng thái ban đầu là hiện
tượng thoái hoá. Hiện tượng này là kết quả của sự tạo thành liên kết hydro giữa các
phân tử amiloza vừa có nhóm hydroxyl vừa có nhóm tiếp nhận hydro giữa các
3
Phan Quốc Phong Đồ án tốt
nghiệp
phân tử amiloza mạch đã dãn thường định hướng với nhau dễ dàng và tự do hơn
giữa các phân tử amilopectin cứng nhắc. Sự thoái hoá chỉ liên quan chủ yếu đến
amiloza. Qúa trình thoái hoá giồm ba giai đoạn:
+Đầu tiên các mạch được uấn thẳng lại.
+Tiếp theo vá hydrat bị mất và các mạch được định hướng
+Cuối cùng là sự tạo thành liên kết hydro giữa các nhóm hydroxyl của amiloza
Tốc độ thoái hoá chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như pH, nhiệt độ, nồng độ dịch
và sự tồn tại của các ion kim loại. Tốc độ thoái hoá tăng khi nhiệt độ giảm và cực

màu xanh tím với I
2
và khả năng hấp thụ này rất thấp .
I.2 Tính chất của tinh bét
I.2.1 Tính lưỡng chiết
Cấu trúc tinh thể của tinh bột được tao thành nhờ liên kết hydro giữa các phân
tử amyloza và các mạch nhánh của amylopectin tạo nên các mixen. Cấu trúc này
ảnh hưởng đến sự xuyên qua của ánh sáng vào hoạt tinh bột, làm lệch mặt phẳng
của ánh sáng phân cực, nhờ thế mà ta có thể quan sát được tính lưỡng chiết của
tinh bét hay còn gọi là hiện tượng chữ thập đen khi quan sát ở dưới kính hiển vi
I.2.2. Nhiệt độ hồ hoá
5
Phan Quốc Phong Đồ án tốt
nghiệp
Ở nhiệt độ thấp trong nước, hạt tinh bột không có sự thay đổi về hình dạng bên
ngoài đáng kể. Khi tăng nhiệt độ lên, hạt tinh bét trong dịch huyền phù bắt đầu
trương lên cùng với sự hút nước tăng dần. Tính lưỡng chiết sẽ mất đi khi hạt tinh
bột tiếp tục giãn nở, hút nước nhiều hơn, trở nên trong hơn, thể tích và độ nhớt
tăng lên và thu được hồ tinh bét.
Nhiệt độ hồ hoá không phải là nhiệt độ xác định mà là một khoảng (bảng 1.1),
thấp nhất là nhiệt độ mà ở đó phân tử tinh bột đầu tiên mất lưỡng tính chiết và cao
nhất là nhiệt độ mà ở đó chỉ còn 10% tinh bột giữ được tính lưỡng chiết.
Bảng 1.1Khoảng nhiệt độ hồ hoá của một sốloại tinh bét
Tinh bét Nhiệt độ mất tính lưỡng chiết
o

C
Thấp nhất Trung bình Cao nhất
Ngô nếp 62 66 70
Ngô tẻ(55%amyloza) 67 80 100

tố, độc tố và enzin.
-Thịt sắn là phần chủ yếu của củ, bao gồm các tế bào nhu mô thành mỏng . Bên
ngoài có tế bào nhu mô là xelluloza, pentozan, bên trong là các hạt thịt sắn, nhiều
nhất ở lớp vỏ ngoài và giảm giần vào trong .

Thành phần Tỷ lệ %
Nước 70,25
Tinh bét 21,45
Protein 1,12
Chất béo 0,40
Xelluloza 1,10
Đường 5,13
Tro 0,54
Bảng 2.2 Thành phần hoá học của sắn
Tinh bột sắn là thành phần hoá học chính của củ sắn. Tinh bột sắn có kích thước
15÷80 µm. Dưới kính hiển vi hạt tinh bột sắn có hình dạng tròn. bầu dục. Tinh bột
7
Phan Quốc Phong Đồ án tốt
nghiệp
sắn cũng bao gồm hai cấu tử amiloza và amilopectin. Hàm lượng hai cấu tử này
khác với các tinh bột khác. Hàm lượng amiloza của tinh bột sắn từ 12÷18% ,
amylopectin78÷80%. Nhiệt độ hồ hoá trong khoảng từ 58
0
C÷68
0
C nhiều tác giả
cho rằng 51÷79
0
C (Nguyễn Tố Tâm) 61÷80,5
0

Tro 1
Bảng 2.3 Thành phần hoá học của sắn
Hạt tinh bét khoai lang hình trống, kích thước nhỏ hơn tinh bột sắn, đường
kính 10 µm, tỷ lệ các chiều khoảng 1/2. Trong củ khoai lang có nhều mủ, chứa sắc
tố, tamin và các Emzim là những chất sinh mầu nên tinh bét khoai lang không có
màu trắng như tinh bột sắn.
II.Tinh bột biến tính
II.1 Khái niệm chung
Tinh bột biến tiÕn là tinh bột được sản xuất từ tinh bột thường dưới tác dụng
của các tác nhân gây biến tính như axit, kiềm nhiệt độ, enzim.
Với mỗi một sản phẩm thực phẩm hoặc các sản phẩm khác đòi hỏi một dạng
tinh bột hoặc dẫn xuất tinh bột. Để có loại tinh bét phù hợp với yêu cầu sản xuất thì
người ta phải biến hình tinh bột. Mục đích của biến hình tinh bột là cải biến tính
chất của sản phẩm, tăng giá trị cảm quan, tạo mặt hàng mới.
Tinh bột biến tính về cảm quan không có gì khác biệt so với ban đầu. Song vÒ
cấu tạo phân tử và các tính chất có các đặc điểm khác biệt so với tinh bét ban đầu:
-Liên kết với iot yếu hơn.
-Độ nhớt của paste tinh bột ở nhiệt độ cao giảm do cấu trúc vô định
hình bị yếu khi phân cắt.
-Độ trương nở của tinh bột biến tính Ýt hơn trong thời gian hồ hoá.
-Độ hoà tan trong nước nóng tăng.
-Nhiệt độ hồ hoá cao hơn.
-Trọng lượng phân tử thấp hơn.
-Số lượng nhóm -OH trong phân tử lớn hơn.
9
Phan Quốc Phong Đồ án tốt
nghiệp
Trong nước nóng tính chất của tinh bột biến tính thay đổi rất rõ rệt so với tinh
bột thường. Các hạt tinh bột biến tính trương nở Ýt hơn trong thời gian tạo gel và
thể tính gel tạo thành cũng nhỏ hơn, cấu trúc đặc trưng tạo thành làm giảm độ nhớt

C thời gian 120 phót.
+Nguyễn Thị Minh Hạnh và cộng sự đã nghiên cứu và đưa ra phương pháp sản
tinh bột từ tinh bột sắn bằng HCl 8% , nhiệt độ 30
0
C thời gian 5 ngày .
10
Phan Quốc Phong Đồ án tốt
nghiệp
+Nguyễn Văn Hùng nghiên cứu và đưa ra chế độ công nghệ sản xuất tinh bột hoà
tan và tinh bột sắn biến tính từ tinh bột bằng axit HCl 1,5% .
-Tinh bột hoà tan:
Nhiệt độ xử lý 45
0
C , Thời gian 270 phót
Nhiệt độ xử lý 50
0
C , Thời gian 210 phót
Nhiệt độ xử lý 55
0
C , Thời gian 120 phót
-Tinh bột sử dụng trong công ngiệp giấy , HCl 1,5%
Nhiệt độ xử lý 45
0
C , Thời gian 270 phót
Nhiệt độ xử lý 50
0
C , Thời gian 40 phót
Nhiệt độ xử lý 55
0
C , Thời gian 20 phót

thế cho các chất béo trong các sản phẩm như bơ , mỡ gâỳ
Trong công nghiệp dệt thì tinh bột biến tính được dùng kéo tăng độ dài, dai sợi
dọc của vải dệt và làm mịn mặt vải.
Trong công nghiệp giặt là sử dụng tinh bột biến tính nhàm tăng khả năng thẩm
thấu qua vải và dàn đều tinh bột lên mặt vảI, khi là vải sẽ đẹp hơn.
Trong công nghiệp giấy sử dụng tinh bột biến tính nhàm tăng khả năng độ bền
của giấy, khả năng in mực lên giấy dễ dàng.
Trong y dược tinh bột biến tính làm tá dược và thuốc dập viên, chúng được
trọn vào các hoạt chất của các loại thuốc viên dạng nén.
Như vậy tinh bột biến tính có phạm vi sử dụng rất rộng lớn, nếu đáp ứng được
các yêu cầu về kỹ thuật thì việc sản xuất tại Việt nam tinh bột biến tÝnh sẽ mang
lại hiệu quả kinh tế và nhiều thuận lợi về mặt xã hội.
III. Các enzim thuỷ phân tinh bét
Các enzim thuỷ phân tinh bột đã được sử dụng từ rất lâu mặc dù lúc đó người
ta chưa có khái niệm gì về chúng. Mốc đánh dấu sự khởi đầu của các nghiên cứu
về enzim là phát minh của nhà bác học người Nga Kieckhôp vào năm 1814 khi sử
dụng dịch chiết từ bột đại mạch nảy mầm để chuyển hoá dịch hồ tinh bột thành
đường.
Các enzim thuỷ phân tinh bột được xếp vào nhóm 3.2 theo Khoá phân loại
enzim quèc tế; đây là nhóm các enzim thuỷ phân mối liên kết glucozit.
12
Phan Quốc Phong Đồ án tốt
nghiệp
Ngày nay nhờ công nghệ gen phát triển, Khoá phân loại enzim được hoàn
chỉnh hơn. Chỉ riêng đối với các enzim thuỷ phân liên kết glucozit, năm 1991 trong
ngân hàng gen thế giới mới có hơn 300 trình tự gen được xác dịnh và xắp xếp
thành 35 họ (family) thì đến năm1996 số trình tự gen được xác định đã là hơn 950
và được xếp thành 57 họ. Enzim thuỷ phân tinh bột có các loại chủ yếu sau:
II.1. Alpha-amylaza (EC.3.2.1.1)
Alpha-amylaza ( α-1,4-D-glucan-glucanohydrolaza ) hay còn gọi là endo-

có một số Ýt dextrim với mối liên kết α-1,6-glucozit tại điểm phân nhánh.
Cơ chế thuỷ phân dựa trên nguyên lý tác động liên kết định hướng của các
nhóm chức nhận proton và điện tử của enzim với cơ chất, làm suy yếu mối liên kết
cần thuỷ phân do kết quả của việc tạo nên phức enzim cơ chất. Liên kết này lại một
lần nữa bị yếu đi dưới tác dụng của một trong các axit amin tính axit đong vai trò
là chất cho proton tới nguyên tử oxy O. Khi liên kết glucozit bị đứt sẽ tạo nên một
ion oxycacboni. Ion này được ổn định điện bởi một điện tích âm của một axit amin
khác trong trung tâm xúc tác. Cuối cùng ion oxycacboni kÕt hợp với một phân tử
nước và hai oligosacarit được tạo thành, tách ra khái trung tâm hoạt động của
enzim. Cơ chế này được Jerebchov giải thích theo sơ đồ ().
Các axit amin tham gia vào tâm xúc tác của α-amylaza được xác định gồm 2
axit Aspartic và Glutamic. Điều đó chứng minh bằng phương pháp đột biến định
hướng.
II.1.2. Các tính chất riêng của α-amylaza
Alpha- amylaza thu nhận từ những nguồn khác nhau, ngoài những tính chất
chung như đã trình bày ở trên, còn có nhiều tính chất riêng. Nhũng tính chất này
14
Phan Quốc Phong Đồ án tốt
nghiệp
tạo nên sự đa dạng của α-amylaza. Chính sự đa dạng này làm cho các nghiên cứu
về α-amylaza ngày càng phong phú và thu hút được nhiều sự quan tâm.
II.1.2.1.Trọng lượng phân tử
Trọng lượng phân tử (MW) của α-amylaza phụ thuộc vào thành phần axit
amin của mạch polypectit cấu tạo nên nó. Protein enzim do gen α-amylaza quyết
định. Sự đa dạng sinh học rất lớn của gen α-amylaza dẫn đến sự đa dạng về MW
protein enzim.
Trọng lượng phân tử của α-amylaza từ nấm mốc, nấm men và cả động vật
thực vật có sự khác biệt nhau không nhiều. Thường gặp nhất ở nhóm này là các α-
amylaza có MW 50.000÷60.000 Da.
II.1.2.2. Ảnh hưởng của pH lên hoạt động của α-amylaza

pH
opt
nằm ở vùng pH khác nhau.
II.1.2.3. Ảnh hưởng của nhiệt độ lên hoạt động của α-amylaza
Nhiệt độ và pH là hai yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động của α-
amylaza. Bất kỳ một nghiên cứu nào về α-amylaza cũng đIều đề cập đến các tính
chất này. Enzim α-amylaza có nguồn gốc khác nhau có t
opt
rất khác nhau.
Phần lớn α-amylaza của thực vật, động vật và một số loài vi sinh vật có nhiệt
độ tối ưu nằm trong khoảng 40÷50
0
C.
Ở một số loài vi khuẩn ưa lạnh người ta tìm thấy α-amylaza thích nghi
lạnh( cold- adaptable α-amylase). Tuy nhiên các nghiên cứu về enzim này còn rất
hạn chế.
Được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất là nhãm enzim có t
opt
cao. Các enzim
này được gọi là enzim chịu nhiệt (thermostable α-amylase).
Giới hạn phân biệt giữa α-amylaza chịu nhiệt với các enzim khác chưa có tác
giả nào xác định cụ thể. Tuy nhiên hầu hết các công trình có liên quan đến α-
amylaza chịu nhiệt cho thấy t
opt
của enzim lớn hơn 65
0
C. Phần lớn các α-amylaza
này điều có nguồn gốc từ vi sinh vật.
II.1.2.4. Các chất kìm hãm hoạt động của α-amylaza
Các chất kìm hãm hoạt động của enzim có cơ chế tác động hoàn toàn khác với

vừa đóng vai trò ổn
định cấu trúc vừa đóng vai trò là chất hoạt hoá dị lập thể. Còn ở dạng thứ hai,
Ca
+2
chỉ tham gia ổ định cấu trúc bậc ba của enzim
Theo Heinen và Lauwes, Ca
+2
chỉ có tác dụng làm tăng độ bền nhiệt và hoạt
tính của α-amylaza ở nhiệt độ cao. Ở nhiệt độ thấp Ca
+2
hoàn toàn có thể được thay
thế bằng các ion kim loại hoá trị 2 thuộc nhóm kiềm thổ, trong khi đó ở nhiệt độ
cao Ca
+2
không thể thay thế được bằng các ion kim loại khác. Ở một sè Ýt α-
amylaza của cổ khuẩn, Ca
+2
không ảnh hưởng tới hoạt tính cũng như độ bền nhiệt
của enzim. Alpha-amylaza của chủng B. licheniformis MY10bị ức chế và giảm độ
bền nhiệt bởi Ca
+2
.
II.1.2.6. Ảnh hưởng của một số ion kim loại lên hoạt độ α-amylaza của chủng
3BT2 và chủng tái tổ hợp.
Bảng 3.2

Hoá chất Nồng độ, mM
Tương quan hoạt tính α-amylaza, %
17
Phan Quốc Phong Đồ án tốt

của α-amylaza. Kết quả trên cho thấy glyxerin và NaCl điều làm
giảm hoạt độ của nước nên có thể sử dụng làm chất bảo quản enzim cho chủng
3BT2. EDTA ngược lại là chất khử Ca
2+
nên làm giảm hoạt tính α-amylaza. Cu
2+
làm giảm hoạt tính α-amylaza mạnh nhất ( gần 80% ) ở nồng độ 5 mM.
III.2. Beta-amylaza (EC.3.2.1.2)
Niếu α-amylaza thuỷ phân mọi liên kết α-1,4-glucozit nội mạch giải phóng
ra chủ yếu dextrim thì β-amylaza là enzim thuỷ phân mối liên kết α-1,4-glucozit ở
ngoại mạch giải phóng ra chủ yếu là maltoza. Beta-amylaza (α-1,4-glucan-
maltohydrolaza) hay còn gọi là exoamylaza chủ yếu có nguồn gốc thực vật ( từ
mầm đại mạch,lúa mì, đỗ xanh, khoai lang ). Ở vi sinh vật, enzim này rất Ýt gặp.
Cho tới nay người ta mới chỉ tìm thấy β-amylaza ở một vài vi khuẩn thuộc các
giống Bacillus, Pseudomonas, Clostridium và xạ khuẩn thuộc giống
Streptomyces .Tham gia vào cơ chế tác dụng của β-amylaza thường có nhóm
18
Phan Quốc Phong Đồ án tốt
nghiệp
cacboxyl thể hiện tính ưa proton và một số nhóm imidazol thể hiện tính ưa
electron. ( Hình 3)
Các β-amylaza có pH tác dụng tối ưu trong khoảng 5÷6 và nhiệt độ tối ưu
khoảng 50
0
C và kém bền nhiệt. Các β-amylaza của vi khuẩn thường bền nhiệt hơn
so với β-amylaza của thực vật.
Enzim này thuỷ phân các liên kết α-1,4-glucozit của amylopectin và amyloza
từ đầu không khử của mạch và giải phóng ra maltoza có dạng β và ngừng lại ở vị
trí α-1,4-glucozit sát với vị trí α-1,6-glucozit của amylopectin. Các enzim thuỷ
phân tinh bột ngoại mạch nhưng không thuộc nhóm β-amylaza là các amylaza tạo

cho
nấm mốc.
+Xác định hoạt tính
Một đơn vị Kilo Novo Alpha Amylaza là lượng enzim cần thiết để thuỷ phân
5,26 g tinh bét trong 1h theo phương pháp tiêu chuẩn của hãng Novo. Để xác định
alpha amylaza những điều kiện sau được áp dụng:
Chất nền : Tinh bột hoà tan
Hàm lượng Canxi : 0,0043M
Thời gian phản ứng : 7÷12’
Nhiệt độ : 37
0
C
pH : 5,6
+Ứng dông : Termamyl được dùng trong các nghành công nghiệp là cồn, tinh bét,
bia, đường, dệt.
Trong kỹ nghệ nấu cồn, Termamyl được dùng để phân tán tinh bét khi nghiền
và chưng cất. Và ở giai đoạn này, cũng lợi dụng được độ ổn định nhiệt của enzim.
Hơn nữa rất có thể thực hiện việc chưng cất không cần điều chỉnh pH và thêm Ca
mặc dù các điều kiện có hơi khác với điều kiện tối ưu. Điều này do phạm vi pH
tương đối lớn và việc đòi hỏi Canxi của enzim tươmg đối thấp. Nó làm cho quy
trình sản xuất được đơn giản và mức độ rủi ro của cặn bẩn Canxi được giảm thiểu
trong cột chưng cất.
20
Phan Quốc Phong Đồ án tốt
nghiệp
Trong kỹ nghệ tinh bét, Termamyl được dùng cho việc dịch hoá liên tục tinh
bét trong nồi hơi hoặc trong những thiết bị tương tự hoạt động ở nhiệt độ từ 105
0
-
110

nghiệp
nồng độ 30% trong cùng đIÒu kiện nhiệt độ và pH ở các nồng độ ion Ca
2+-
khác
nhau (ppm). Các số liệu được so sách có cùng trị giá đương lượng DE và trong
phạm vi từ 0 ÷ 12.
Bảng 1: Độ ổn định của Termamyl (thời gian, phút cần thiết để mất 50% hoạt tính)
93
0
C 98
0
C 103
0
C 107
0
C

Ion Ca2+ 70 ppm
PH 6.5 1500 400 100 40
PH 6.0 800 200 75 20
PH 5.5 300 200 25 10

Ion Ca 2+ 20ppm
PH 6.5 450 125 40 10
PH 6.0 250 75 20 5
PH 5.5 100 25 5 2

Ion Ca+ 5ppm
PH 6.5 150 40 10 4
PH 6.0 75 20 5 2

Bét Fungamyl 180 S được tiêu chuẩn hoá với bột mì.
Loại vi năng MG 35.000 là dạng dễ chảy tuột, không bụi với kích thước cầu từ
trung bình xấp xỉ 300 microns.
Các loại sản phẩm:
Fungamyl 800L 800 FAU/g
Fungamyl 1600S 1600 FAU/g
Fungamyl 180S 180 FAU/g
Fungamyl MG 35000 35000 SKB/g
Xác định hoạt tính
Một đơn vị alpha-amylase từ nấm mốc (1 FAU) là lượng enzim cần thiết để phân
huỷ 5.25g tinh bét (Merck, Amylum solubile erg B6 batch 9947275)trong 1 giê
23
Phan Quốc Phong Đồ án tốt
nghiệp
theo phương pháp tiêu chuẩn của Novo để xác định hoạt tính dựa theo điều kiện
sau đây:
Chất nền tinh bột hoà tan
Thời gian phản ứng 7-20 phót
Nhiệt độ 37
0
c
PH 4.7
Bản miêu tả chi tiết phương pháp phân tích của Novo luôn có sắn khi yêu cầu.
Tiêu chuẩn đóng gói
Fungamyl dạng lọng luôn có sẵn ở dạng thùng sắt 250kg và can nhựa 30kg.
Fungamyl 1600 S và 180 S có sẵn trong thùng 25 kg và Fungamyl MG 35000 có
sẵn ở dạng thùng 40kg.
Bảo quản:
Khi Fungamyl được chứa ở 5
0

maltoza cao cấp, chẳng hạn như sản phẩm 45 – 60 % đường maltoza hay là đường
glucoza cao cấp (DE 60-70: 35 – 43 % glucoza, 30 – 37 % maltoza. Sản phẩm
đường glucoza cao độ có thể được chế tạo từ một dung dịch đã dịch hoá với
enzim. Sản phẩm đường glucoza cao độ có thể chế tạo từ dung dịch tinh bột có DE
42 đã dịch hoá với enzim hay với axit (sử dụng Fungamyl và AMG)
Trong công nghiệp chế tạo bia, Fungamyl được dùng trong giai đoạn lên men
để gia tăng hệ thống lên men của nước mưa. Độ lên men có thể gia tăng đến 2-55
alpha- 1,6 limit dextrin còn lại trong bia.
Trong công nghiệp chế tạo cồn, Fungamyl có thể sử dụng trong giai đoạn dịch
hoá tinh bét trong nồi nấu cháo nếu thiết bị có sẵn phù hợp với dịch hoá tại nhiệt
độ thấp (55-60%)
Trong kỹ nghệ làm bánh (bisqui hay bánh mỳ), Fungamyl được sử dụng để hỗ
trợ hàm lượng thấp của alpha – amylase chứa trong bột tiểu mạch. Sự áp dụng của
Fungamyl sẽ gia tăng cấu tạo và thể tích của bánh.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status