Vận dụng dạy học theo dự án trong giảng dạy môn Trang bị điện tại Trung tâm Việt - Đức, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TPHCM - Pdf 27


1

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
I.1 Lý do khách quan
Xu thế toàn cầu hóa đang là đặc điểm chi phối của thời đại, thời đại mà khoa học,
kỹ thuật và công nghệ giữa các quốc gia trên toàn thế giới gần như chuyển từ “tròn”
sang “phẳng”. Thị trường lao động là một trong những yếu tố quyết định sự thành
bại của một quốc gia trong thời đại toàn cầu ngày nay. Sự thay đổi nhanh chóng của
khoa học công nghệ làm cho phần lớn lực lượng lao động trên thị trường lao động
rơi vào sự lạc hậu so với thời đại. Làm thế nào để giúp họ vượt qua xu thế của thời
đại là câu hỏi được nhiều quốc gia “đặt hàng” cho ngành giáo dục vào đào tạo:
- Đương kim Tổng thống Mỹ đã phát biểu: “Hãy rõ ràng – Chúng ta đang thất bại
với nhiều con em của chúng ta. Chúng ta đang gởi họ đến với nền kinh tế của Thế
kỷ XXI thông qua môi trường giáo dục của Thế kỷ XX - Let’s be clear — we are
failing too many of our children. We’re sending them out into a 21st century
economy by sending them through the doors of 20th century schools’
1

- Việt Nam chúng ta cũng đã có rất nhiều quyết sách, chiến lược cho giáo dục và
đào tạo, cụ thể như:
+ Điều 5 khoản 2 luật giáo dục 2005: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người
học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”.
+ Điều 4 luật dạy nghề 2006: “Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật
trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với
trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong
công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt
nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn,
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.

Đông Phương (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam) tại buổi tọa đàm về “Định
vị lại nền giáo dục Việt Nam” diễn ra vào ngày 01.03.2012 thì giáo dục nghề
nghiệp Việt Nam vẫn tồn tại rất nhiều bất cập chưa có giải pháp tháo gỡ, một
trong những bất cập đó là doanh nghiệp chê sản phẩm đào tạo, nếu đào tạo
theo đúng yêu cầu của doanh nghiệp thì sẽ sai quy trình, lệch chuẩn
3
.

2
. Trích: “Chiến lược phát triển Kinh tế – Xã hội 2011-2020”
3
. 9h,
04.03,2012.

3

Về phương pháp giảng dạy: Trong giáo dục và đào tạo cũng đang diễn ra cuộc
cách mạng về phương pháp dạy học. Bản chất của cuộc cách mạng này là phải
chuyển từ phương pháp truyền tin sang các phương pháp tổ chức, điều khiển để
người học tự mình tìm tòi, phát hiện và chiếm lĩnh nội dung học vấn bằng chính
hành động và thao tác của họ. Đổi mới phương pháp dạy học theo xu hướng này đòi
hỏi phát huy cao độ tính tích cực của cả thầy và trò. Tính tích cực của thầy thể hiện
ở sự tổ chức, điều khiển người học thực hiện phương pháp học để tìm tòi, lĩnh hội
tri thức, phát hiện những khó khăn mà họ sẽ gặp phải trên con đường thực hiện
phương pháp học để tìm ra những can thiệp mang tính trợ giúp hợp lý, hiệu quả
Tính tích cực của trò thể hiện ở chỗ tự giác, tích cực thực hiện các nhiệm vụ nhận
thức do thầy đề xuất, nỗ lực ý chí theo đuổi việc học đến cùng đạt được mục đích
học đã xác định, tự kiểm tra và điều chỉnh việc học của mình.
Hệ phương pháp dạy học tích cực, lấy hoạt động của người học làm trung tâm được
xem như là một trong các hệ thống phương pháp có thể đáp ứng được các yêu cầu

nhưng không hạ thấp vai trò hướng dẫn của giáo viên?
Xuất phát từ những lý do trên và những ưu điểm của dạy học theo dự án, người
nghiên cứu chọn đề tài “Vận dụng dạy học theo dự án trong giảng dạy môn
Trang bị điện tại Trung tâm Việt - Đức, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật
Thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu.
II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề xuất các giải pháp triển khai DHTDA môn Trang bị điện nhằm phát huy tính
tích cực, độc lập học tập của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Nhiệm vụ 1: Trình bày cơ sở lý luận của DHTDA như: Lịch sử DHTDA, mục đích
DHTDA, phân loại DHTDA, tiến trình DHTDA, đặc điểm DHTDA.
Nhiệm vụ 2: Khảo sát thực trạng dạy học môn Trang bị điện tại Trung tâm Việt -
Đức, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành Phố Hồ Chí Minh.
Nhiệm vụ 3: Đề xuất các giải pháp vận dụng và triển khai DHTDA môn Trang bị
điện tại Trung tâm Việt – Đức như:
- Cấu trúc lại chương trình môn học theo hướng các dự án dạy học,
- Quy trình DHTDA,
- Xây dựng hồ sơ dạy học cho ba dự án dạy học,

5

- Tiêu chí đánh giá,
- Kiểm nghiệm sư phạm,
- Hội thảo khoa học và đánh giá.
IV GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Nếu vận dụng DHTDA trong giảng dạy môn Trang bị điện như các giải pháp của
người nghiên cứu đề xuất thì học sinh:
- Hứng thú, tìm tòi, khám phá.
- Tăng năng lực tư duy, năng lực xử lý, giải quyết các vấn đề từ thực tiễn sản xuất.
- Nâng cao năng lực giao tiếp, năng lực làm việc nhóm…

3. Xây dựng hồ sơ dạy học cho ba dự án dạy học thuộc 2 chuyên đề “mạch khóa
chéo” và “mạch hỗn hợp”. Cụ thể: (a) dự án thực hành: “TỦ ĐIỆN ĐÓNG MỞ
CỬA XÍ NGHIỆP”; (b) dự án thực hành: “TỦ ĐIỀU KHIỂN CHUÔNG – ĐÈN
THI GAME SHOW”; (c) dự án hỗn hợp: “HỆ THỐNG ĐIỆN CẦU TRỤC”.
VIII CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và phụ lục, luận văn gồm ba chương, mỗi
chương đều có phần kết luận. Sau đây là tiêu đề của các chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về dạy học theo dự án
Chương 2 Thực trạng dạy học môn Trang bị điện tại Trung tâm Việt - Đức
Chương 3: Vận dụng dạy học theo dự án trong giảng dạy môn Trang bị điện và kiểm
nghiệm sư phạm tại Trung tâm Việt - Đức.

7

B. PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC THEO DỰ ÁN
1.1 KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Dạy học theo dự án (DHTDA) không phải là một ý tưởng mới, cũng không phải là
một phần bổ sung mà là một phần không thể thiếu của dạy và học. Bắt nguồn từ ý
niệm “cần làm gì thì học cái ấy” của các nhà giáo dục theo Chủ nghĩa thực dụng ở
Mỹ vào đầu thế kỷ XX (John Dewey 1911, William H. Kilpatrick 1918…).
DHTDA đã được học thuyết hóa vào đưa vào ứng dụng trong giáo dục ở nhiều cấp
độ từ Giáo dục Mầm non cho đến đào tạo nghề hay ở các bậc nghiên cứu cao hơn
(Đại học, Sau đại học). Tuy nhiên, nhìn xa hơn vào quá khứ của việc dạy và học thì
khái niệm “dự án” và việc sử dụng dự án trong giáo dục – dạy nghề đã có từ rất
sớm, ví dụ ở Pháp vào khoảng thời gian 1670 hay ở Ý từ thế kỷ XV
4

Bắt đầu từ những năm 1960 của thế kỷ XX, DHTDA được sử dụng giảng dạy tại

.
Đến thế kỷ XVII, nhà sư phạm vĩ đại J.A.Komenski (1592-1670) cho rằng dạy học
phải làm như thế nào để người học tự tìm tòi, suy nghĩ để tự nắm bắt lấy bản chất
của sự vật và hiện tượng.
Các nhà giáo dục ở thế kỉ XVIII và XIX như Pestalozzi (1746-1827), Disterverg
(1790-1866), K.D.Usinxki (1824-1870) đã nhấn mạnh cách làm cho người học
giành lấy kiến thức bằng con đường tự khám phá, tự tìm tòi.
(7)
DHTDA là một trong những quan điểm dạy học hướng vào người học, tích cực hóa
người học. Liên quan đến vấn đề này có một số quan điểm, tư tưởng giáo dục trên
thế giới, đặc biệt là thuyết kiến tạo, trong đó phải kể đến các tác giả như:
- John Dewey (1859 – 1952) – nhà giáo dục học người Mỹ đã đưa quan niệm
được sự ủng hộ của nhiều nhà giáo dục trên thế giới, đó là “Learning by doing”
(học qua làm), ông cho rằng: Vai trò của người làm công tác giáo dục không
phải là “nhào nặn” đứa trẻ và truyền đạt các tri thức, mà là giúp trẻ phát triển
những phẩm chất của nó, tự học bằng cách hoạt động, bằng cách đối đầu với
thực tế, tự làm lấy những thử nghiệm của mình, vì suy nghĩ là xem xét và giải
quyết các khó khăn
(8)
. Dewey là người đầu tiên đưa ra quan niệm về dạy học
hướng vào người học và phân tích một cách sâu sắc nhất, theo ông, quá trình
hướng vào người học đảm bảo cho họ phân tích kinh nghiệm của mình, khuyến
khích người học trở nên biết, tự chỉ đạo và tự chịu trách nhiệm nhiều hơn. Các

6
. Trần Vọng Hoành: Bài học Luận ngữ của Khổng Tử. NXB Trẻ, 2008
7
. Thái Duy Tuyên: Những vấn đề cơ bản của giáo dục hiện đại. NXB Giáo Dục, 2007.
8
. Nguyễn Dương Khư: Chân dung các nhà tâm lý – Giáo dục thế kỷ XX. NXB Giáo Dục, 1997,

độc lập và làm việc với nhóm
12
.
- Các Trung tâm đào tạo của Siemens AG trên toàn lãnh thổ Cộng Hòa Liên
Bang Đức đều đã triển khai “phương pháp dự án” (Projektunterricht) từ thập
niên 90 của thế kỷ XX.
139
. Đặng Thành Hưng: Các lý thuyết và mô hình giáo dục hướng vào người học ở phương tây. Viện
Khoa học Giáo dục. Hà Nội, 2001, trang 19.
10.
Phan Trọng Ngọ: Dạy học và Phương pháp dạy học trong nhà trường. NXB Đại học Sư phạm,
2005, trang 57.

11.


12
. The Online Resource for Project Based Learning. .
13
. Siemens AG Leipzig, 01.2006

10

M.ludwig
14
đã tóm lược lịch sử hình thành DHTDA trên thế giới qua hình 1.1


Ở nhà trẻ và các trường dạy nghề
Italien

Các Học viện Hoàng gia đầu
tiên được thành lập:
1433 Neapel
1447 Florenz
1460 Rom

Phương pháp dự án được
đưa vào các ý tưởng trong
Sư phạm và Triết học
ROUSSEAU (1712-1778)
PESTALOZZI (1767-1835)
MARX (1818-1883)
Phương pháp dự án

bắt đầu
được áp dụng ở Pháp
Academie Royale de Architecture
(khoảng 1670).
Ecole Polytechnique (khoảng 1794).
Ecole Centrale (khoảng 1829) Phương pháp dự
án bắt đầu ở Đức
1842 Karlsruhe
Dự án thủ công ở Mỹ


1.1.2 Việt Nam
Dân gian Việt Nam có câu: “Trăm hay không bằng tay quen”, “Nhất nghệ tinh, nhất
thân vinh”, điều này chứng tỏ rằng từ ngàn đời nay ông cha ta đã coi trọng việc dạy
nghề thông qua hình thức thực hành.
Dạy học nói chung và phương pháp dạy học tại các cơ sở đào tạo của Việt Nam
trong nhiều năm qua đã có nhiều thay đổi theo hướng phát huy tính tích cực của
người học và ít nhiều đã thu được những kết quả nhất định, tuy nhiên, về cơ bản vẫn
chưa đáp ứng được những đòi hỏi của nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ sự
nghiệp Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước. Vì vậy, giáo dục nói chung và giáo
dục nghề nghiệp nói riêng ở nước ta hiện nay cần phải đổi mới một cách mạnh mẽ,
cơ bản và toàn diện hơn nữa. Trong đó, vấn đề nổi bật nhận được sự quan tâm của
toàn ngành và xã hội là vấn đề đổi mới phương pháp, phương tiện và hình thức tổ
chức dạy học.
Phương pháp dạy học ở các trường đào tạo nghề (trung cấp, cao đẳng, đại học) được
nhiều nhà giáo dục quan tâm, nghiên cứu như Nguyễn Ngọc Quang, Đặng Vũ Hoạt,
Hà Thị Đức, Lưu Xuân Mới, Đặng Thành Hưng,… Theo Lưu Xuân Mới, phương
pháp đào tạo nghề cần tập trung vào việc cải tiến phương pháp dạy và học theo hai
hướng: tăng cường áp dụng các phương pháp sư phạm tích cực hướng vào việc đặt
và giải quyết vấn đề; áp dụng công nghệ dạy học, tận dụng tối đa những công cụ và
công nghệ mới mà các thành tựu to lớn của khoa học và công nghệ mang lại. Mục
tiêu quan trọng nhất của việc giảng dạy ở trường dạy nghề là dạy cách học cho
người học
15
.
Còn Trần Hồng Quân cho rằng: Người thầy phải đảm nhận một trách nhiệm mới là
chuẩn bị cho người học thật nhiều tình huống phong phú, chứ không phải là nhồi
nhét kiến thức vào đầu học sinh. Thầy giáo không còn là người truyền đạt kiến thức
có sẵn, mà là người định hướng, đạo diễn cho người học tự mình khám phá ra chân
lý, tự mình tìm ra kiến thức
16

Học Theo Dự Án như hình thức dạy Lý thuyết và Thực hành trong Dạy nghề. Áp
dụng vào một trường Dạy nghề ở Tỉnh Bình Dương” (Masterarbeit: “Analyse des
Projektunterrichts als Instrumentarium der praktischen und theoretischen
BerBeispiel einer Fachschule in Binh Dương” (Magdeburg, 10.2007). Tuy nhiên,
sau khi tốt nghiệp, Nguyễn Khải Duy Việt đã chuyển công tác nên không có điều
kiện để tiếp tục theo đuổi ước vọng của mình.
- ThS. Giáo dục học Nguyễn Như Khương với Luận văn: “Áp dụng “Dạy học theo
dự án” vào quá trình dạy học môn giáo dục học ở Trường Đại học Sư phạm Kỹ
thuật Thành phố Hồ Chí Minh”. Hồ Chí Minh, 11. 2009.
17
. Debbi Candau; Jennifer Doherty; Robert Hannafin; John Jugde; Judi Yost; Paige Kuni: Intel
Teach to the Future. Chương trình Dạy học cho tương lai của Intel. Phiên bản VN 2.1 -1.0 (Tài liệu
chương trình dạy thí điểm tháng 9.2004).
18.
Microsoft – Partners in Learning. Dùng công nghệ thông tin để cải tiến việc dạy và học.
19
. />lai/55092806/202/, 12.03.2011

13

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Vận dụng:
Đem tri thức lý luận dùng vào thực tiễn
20

Dạy học
“Dạy học là một hoạt động diễn ra trên hai tuyến song hành giữa người dạy và

. Bùi Hiền; Nguyễn Văn Giao; Nguyễn Hữu Quỳnh; Vũ Văn Tảo: Từ điển giáo dục học. NXB Từ
Điển Bách Khoa, 2001, trang 62.
22
. Bùi Hiền; Nguyễn Văn Giao; Nguyễn Hữu Quỳnh; Vũ Văn Tảo: Từ điển giáo dục học. NXB Từ
Điển Bách Khoa, 2001, trang 186.
23
. Nguyễn Kim Thân; Hồ Hải Thụy; Nguyễn Đức Dương: Từ điển Tiếng Việt. NXB Văn Hóa Sài
Gòn, 2005, trang 485.
24
. Bechler K.J, Lange D. (Hrsg): DIN Normen im Projektmanagement. Bonn, 2005.

14

vài khía cạnh nào đó về bản chất của PPDH ở một lĩnh vực nghiên cứu nhất định:
- Theo quan điểm của nhà giáo dục học B. P. Exipop thì PPDH là phương tiện, cách
thức, con đường đạt tới những mục đích nhất định, để giải quyết những nhiệm vụ
nhất định.
- Theo quan điểm của các nhà tâm lý học thì PPDH được xem là phương thức tổ
chức dạy học với sự vận động của nội dung dạy học như: phương thức lĩnh hội
chung (theo V. V. Davudov và D. B. Elconin); phương thức lĩnh hội bằng chương
trình hóa (theo B. F. Skiner); phương thức lĩnh hội tài liệu theo các giai đoạn (theo
P. Ia. Galperin).
- Theo quan điểm của lý luận dạy học thì PPDH được xem như là “phương án kết
hợp các thủ thuật giảng dạy và học tập nhằm đạt mục đích dạy học” (B. P. Exipop,
M. A. Danilova, T. A. Ilina); “…cấu trúc vận hành có hệ thống hoạt động của GV
và HS, trong đó phương pháp học là hàng đầu, còn phương pháp dạy là sự tổ chức
học tập” (V. Okon), “… nhân tố tích hợp hoạt động dạy và học”(M. N. Xkatkin, I.
la Lerner); và “…hình thức vận động của nội dung dạy học, phù hợp với mục đích
của lý luận dạy học mà GV đặt ra trước mình và trước HS trong một thời điểm học
tập nào đó” (E. I. Petropxki)

- Về bản chất: PPDH là cấu trúc có tính tự giác tham gia vào tiến trình dạy học, làm
cho nội dung dạy học tồn tại và vận động trong mối quan hệ biện chứng với nhau.
- Dấu hiệu bản chất của PPDH là tính hướng đích. Mỗi PPDH chỉ có duy nhất một con
đường biểu hiện trong hiện thực, đó là thông qua nội dung dạy học.
Ba đặc điểm cơ bản của PPDH là
27
:
- Liên quan đến phạm trù hoạt động: Hoạt động bao gồm nhiều mặt như tổ chức, nhận
thức, kích thích động cơ, kiểm tra, đánh giá, giao tiếp (cách ứng xử, thái độ, cử chỉ) và
giải quyết tình huống.
- Liên quan đến phạm trù lý luận: PPDH tồn tại khách quan, dựa trên những nguyên lý
khoa học xác định chứ không phải là kinh nghiệm.
- Liên quan đến phạm trù nghệ thuật: Cùng áp dụng một mô hình PPDH giống nhau
nhưng mức độ thành công tùy thuộc tài năng và sự sáng tạo của mỗi GV. Như vậy
việc sử dụng PPDH có tính nghệ thuật và phụ thuộc vào năng lực và sở trường của
từng GV.
Dạy học theo dự án:
Việc vận dụng và gọi tên của hình thức dạy và học này (DHTDA) phân hóa theo
thời gian và khu vực. Đơn cử: “Dạy Học Theo Dự Án – Projektunterricht
Đức
/
Project – based – Learning
Anh
“, “Phương pháp Dạy học theo Dự án –
Projektmethodde
Đức
/ Project – method
Anh
” hoặc “Dạy học định hướng theo
Dự án – Projektorientierte Ausbildung

- DHTDA có tên gốc tiếng Anh là Project based learning (PBL), đôi khi được gọi
tắt “dạy học dự án”, hoặc “học tập dựa trên dự án”.
- Theo tài liệu “Dạy học cho tương lai”
31
của Intel, DHTDA là phương pháp dạy học
hướng học sinh đến việc tiếp thu kiến thức và kỹ năng thông qua quá trình giải quyết
một bài tập tình huống, được gọi là một dự án (project) mô phỏng môi trường mà các
em đang sống và sinh hoạt. Tuy nhiên do đặc điểm chuyên môn và mục tiêu tập huấn,
các hoạt động thực hành ở đây chủ yếu chỉ giới hạn trong việc thực hành với máy tính.
- “DHTDA là một phương pháp dạy học, trong đó người học dưới sự chỉ đạo của
GV thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp mang tính thực tiễn với hình thức
làm việc nhóm là chủ yếu. Nhiệm vụ này được thực hiện với tính tự lực cao trong
toàn bộ quá trình học tập, tạo ra những sản phẩm có thể trình bày, giới thiệu”
32

- Theo (BIE) - tổ chức nghiên cứu và phát triển phi lợi nhuận của Mỹ được
thành lập năm 1987, nghiên cứu về DHTDA và dạy học giải quyết vấn đề, PBL
là phương pháp dạy học giúp người học tham gia vào việc học thông qua quá
trình tìm hiểu mở rộng bằng các câu hỏi xác thực, phức tạp và thực hiện các
sản phẩm, bài tập một cách cẩn thận
3329
. PGS.TS Đỗ Hương Trà: Dự án Việt - Bỉ
30
. Nguyễn Văn Cường: Dạy học Project hay dạy học theo dự án. Thông báo khoa học trường Đại
học Sư phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội. 1997.
31
. Chương trình Dạy học cho Tương lai của Intel (chương trình thí điểm tháng 9.2004)

giả sử dụng khái niệm PPDA theo nghĩa rộng, không phải một PPDH cụ thể.
- DHTDA với tư cách là một HTDH: theo quan niệm này, trong DHTDA có nhiều
phương pháp cụ thể khác nhau được sử dụng, do đó đây là một hình thức dạy học.
- DHTDA được hiểu theo nghĩa rộng nhất như một quan điểm, mô hình hay nguyên
tắc dạy học. Theo quan điểm này, người ta muốn mở rộng phạm vi ứng dụng của
DHTDA.
Mặc dù có nhiều cách phát biểu khác nhau, nhưng các định nghĩa về DHTDA đều
nói đến các điểm cơ bản sau:
- Đặt người học vào vị trí trung tâm của việc học.

34
. The Online Learning with Multimedia.
35
. Susan J. Wolff, Ed.D. "Relationships among People and Spaces: Design Features for the
Optimal Collaborative, Project-Based Learning Experience.", Oregon State University.
trang 3.
36
. Nguyễn Thị Diệu Thảo: Luận Án Tiến Sĩ Giáo Dục Học “dạy học theo dự án và vận dụng trong
đào tạo giáo viên trung học cơ sở môn công nghệ”. Hà Nội, 2008, trang 36

18

- Tăng cường khả năng làm việc độc lập cũng như làm việc trong môi trường đội – nhóm.
- Làm cho người học cảm thấy việc học là thú vị, không gượng ép, không phải chịu
quá nhiều sức ép và sự ràng buộc.
1.3 DẠY HỌC THEO DỰ ÁN
1.3.1 Mục đích của dạy học theo dự án
Herbert Gudjons đã chỉ ra ba vướng mắc chính của giáo dục hiện đại:
37
:

- Hoạt động: Không chỉ tương thích tốt với “Thuyết nhận thức hiện đại”, DHTDA
cũng tiếp cận sâu sắc với các mô hình hoạt động tiêu biểu (ví dụ như Piaget, Aebli
hay Galperin). Mặt khác mục tiêu của dạy học theo dự án không chỉ đơn thuần là
kiến thức chuyên ngành và riêng lẻ, mà đó là những sản phẩm của hoạt động, sự
học không chỉ bằng đầu mà còn là sự vận hành tổng hợp của cả cơ thể.
Còn theo Bộ Giáo dục Singapore và Cục Giáo dục Hồng Kông:
- Nhằm tạo cơ hội cho HS tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập, và áp dụng
một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống, giúp HS củng cố kiến thức và xây dựng
các kỹ năng hợp tác, giao tiếp và học tập độc lập, chuẩn bị hành trang cho các em
trong sự nghiệp học tập suốt đời và đối mặt với các thử thách trong cuộc sống.
38

- Nhằm tìm hiểu sâu về một chủ đề cụ thể với mục tiêu tạo cơ hội để HS thực
hiện nghiên cứu vấn đề thông qua việc kết nối các thông tin, phối hợp nhiều kỹ
năng, giá trị và thái độ nhằm xây dựng kiến thức và phát triển khả năng và thái
độ học tập suốt đời. Các chủ đề trong học theo dự án chủ yếu liên quan đến
việc học và đời sống hàng ngày của HS, có thể nằm trong các môn học tích hợp
hoặc nằm ngoài chương trình.
39

Theo người nghiên cứu, DHTDA trong một chừng mực nào đó có thể giải quyết
được câu hỏi của Herbert Gudjons:
- Không cào bằng khả năng, đòi hỏi, nhu cầu của mỗi cá nhân người học trong một
tập thể.
- Kết hợp giữa học - ứng dụng - truyền đạt, kiến thức và sự hiểu biết đạt được thông
qua sự gắn kết giữa những ví dụ, dẫn chứng và tình huống thực tế.
- Cách ứng xử, kỹ năng làm việc nhóm, đoàn kết và thái độ cộng tác trong công việc
mang tính dân chủ. Ý nghĩa của công việc chung và trách nhiệm mang tính xã hội.

38

Hình 1.2: Cách thức hình thành một dự án liên môn
40
. Apel H.J, Knoll, M: Aus Projekten Lernen. Muenchen, 2001
Học phần X môn A
Học phần Y môn B

Học phần Z môn C

Dự án
hoàn
chỉnh
21

1.3.2.2 Theo Wolfgang Emer/Klaus-Dieter Lenzen
41

Trong một
lớp học với
nhiều môn
Trong 1 chương trình
đào tạo (nhiều chuyên
ngành hợp tác ra một
dự án)
Trình bày kết quả cho hội đồng chuyên môn
Trình bày kết quả cho
toàn thể nhà trường
Trong 1
môn

- Làm việc nhóm
- Báo cáo kết quả
- Tổ chức
- Làm việc có định
hướng
-…….
Trong 1
lớp
tương tự
Trong 1 năm học
tương tự

ngành, các dự án học tập có ý nghĩa thực tiễn xã hội, góp phần gắn việc học tập
trong nhà trường với thực tiễn sản xuất.
(2) Định hướng vào sự hứng thú của người học: Sự hứng thú của người học được
“đánh thức” khi họ được chủ động tham gia vào quá trình đi tìm kiến thức, bởi việc
học được diễn ra thoải mái và không gượng ép, cũng như là được tổ chức sao cho
người học không cảm thấy bị quá sức.
(3) Tự tổ chức và tự chịu trách nhiệm trong việc học: Người học sẽ được hướng dẫn
và tạo điều kiện để có thể tự lên kế hoạch cho việc học tập, làm việc, nghiên cứu
của mình trong một dự án, giáo viên sẽ đảm nhận vai trò người hướng dẫn, giúp đỡ
hay như một nhà tư vấn, cũng vì thế mà người học sẽ đảm nhận gần như trọn vẹn
trách nhiệm trong lúc quá trình học được diễn ra.
(4) Mang ý nghĩa thực tế xác đáng: Dự án được thực hiện không chỉ đơn thuần bởi
sự hiếu kỳ hay hứng thú riêng lẻ. Người học sẽ đạt kết quả học tập tốt hơn khi cảm

42
. Frey; Kart: Die Projektmethode “Der Weg zum bildenden Tun”. Weinheim/Base. Beltz-Verlag,
2005, trang 22.

23

nhận được mức độ quan trọng của dự án mà họ tham gia. Ở một mức độ nào đó có
thể nói: Hoạt động học tập trong dự án mang tính trọn vẹn theo cấu trúc giải quyết
vấn đề của các nhà nghiên cứu khoa học.
(5) Định hướng mục tiêu trong việc lập kế hoạch của dự án: Trong dự án không chỉ
bao gồm những hoạt động mang tính thử nghiệm, mà các mục tiêu của dự án phải
được hoạch định (bởi người học) một cách rõ ràng từ những giai đoạn đầu của dự án.
(6) Định hướng sản phẩm: Đây có thể nói là một đặc điểm rất riêng của dạy học
theo dự án. Kết quả của mỗi một dự án là một sản phẩm (thực hành hoặc lý thuyết)
mang tính khách thể hoặc chủ thể, có thể được sử dụng, công bố.
Quan trọng hơn là chất lượng của quá trình dẫn đến sản phẩm. Đó là chất lượng của

hiệu quả nhất hoặc làm thế nào để khơi dậy tinh thần làm việc, học tập khi có thành
viên chán nản

Hình 1.4: Các đặc điểm của dạy học theo dự án

ĐẶC ĐIỂM
DHTDA
Định hướng
thực tiễn
Định hướng vào
sự hứng thú
Tự tổ chức và tự
chịu trách nhiệm
Định hướng
sản phẩm
Mang ý
nghĩa thực tế
Tổng hợp các

43
, tiến trình thực hiện phương pháp dự
án được thực hiện qua 4 bước sau:
1. Giai đoạn quyết định: Xác định mối quan tâm của người học và quyết định chủ
đề dự án.
2. Giai đoạn lập kế hoạch: Lên kế hoạch tiến trình dự án, mục tiêu, xác định các
công việc và các nhiệm vụ phải làm.
3. Giai đoạn tiến hành: Thu thập, xử lý, đánh giá thông tin, hoàn thành công việc
theo nhóm.

43
. Phan Thị Hồng Vinh: Phương pháp dạy học giáo dục học. NXB Đại học Sư phạm. 2007, trang
167.

Trích đoạn Dự án thực hành: “TỦ ĐIỀU KHIỂN CHUÔNG – ĐÈN THI GAME SHOW” Nội dung và chuẩn bị kiểm nghiệm Nội dung hội thảo TỰ NHẬN XÉT VỀ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỀ TÀ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status