Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
––––––––––––––––––––––––––––––
TÔ TRÍ TUỆ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TẠI HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN ĐÌNH LONG
THÁI NGUYÊN – 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn "Một số giải pháp xây dựng nông thôn mới
tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang" là công trình nghiên cứu khoa học,
độc lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có
nguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Tô Trí Tuệ
hoàn thành luận văn.
Do điều kiện thời gian và năng lực có hạn, bản thân tôi cũng đã cố
gắng, nỗ lực hết mình đề hoàn thành Luận văn tốt nghiệp. Song sẽ không
tránh khỏi những khiếm khuyết. Rất mong được các thầy, cô, các nhà khoa
học, các đồng nghiệp tiếp tục đóng góp ý kiến chỉ bảo để tôi có thêm cơ hội
tiếp thu nâng cao kiến thức chuyên môn của bản thân.
Tôi xin cam đoan số liệu thu thập, tính toán là trung thực và được trích
dẫn rõ ràng.
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014
Tác giả
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu iii
Tô Trí Tuệ
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1. Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
2.3.5. 05 chỉ tiêu về Hệ thống chính trị 57
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở
HUYỆN HÀM YÊN 59
3.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của Hàm Yên ảnh hưởng đến
đầu tư phát triển nông nghiệp 59
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 59
3.1.2. Tình hình kinh tế Hàm Yên giai đoạn 2009-2013 62
Hàm Yên
- 63
3.2.1. Kết quả phát triển nông thôn của huyện giai đoạn 2011 - 2013 65
3.2.2. Thực trạng nông thôn huyện Hàm Yên so với bộ tiêu chí Quốc
gia nông thôn mới 67
3.2.3. Thực trạng nông thôn ở một số xã tiêu biểu 82
3.2.4. Một số kết luận về xây dựng và phát triển nông thôn mới của huyện
Hàm Yên 99
Chƣơng 4: GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN HÀM YÊN 104
4.1. Quan điểm định hướng và mục tiêu xây dựng nông thôn mới 104
4.1.1. Quan điểm định hướng 104
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu v
4.1.2. Mục tiêu 105
4.2. Một số giải pháp thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới cho
huyện Hàm Yên 107
4.2.1. Hoàn thiện chính sách, công tác điều hành quản lý 108
4.2.2. Tăng cường công tác đào tạo, tập huấn, tuyên truyền xây dựng
nông thôn mới, nâng cao nhận thức của cư dân nông thôn 110
: Hiện đại hoá
HTX
: Hợp tác xã
KHKT
: Khoa học kỹ thuật
NN&PTNT
: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
UBND
: Uỷ ban nhân dân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
62
Bảng 3.2: Kết quả phát triển kinh tế nông thôn của huyện giai đoạn
2011-2013 65
Bảng 3.3: Kết quả hoạt động sản xuất nông nghiệp của huyện 66
Bảng 3.4: Tình hình phát triển xã hội nông thôn của huyện 67
Bảng 3.5: Tiêu chí quy hoạch và phát triển quy hoạch 69
Bảng 3.6: Thực trạng tiêu chí hạ tầng kinh tế - xã hội 71
Bảng 3.7: Các nhân tố kinh tế và tổ chức sản xuất 77
Bảng 3.8: Nhóm nhân tố văn hóa - xã hội 78
- 81
Bảng 3.10: Diện tích đất đai xã Bình Xa 82
Bảng 3.11: Thực trạng quy hoạch và thực hiện quy hoạch của xã Bình Xa so
hết các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện. Xóa đói, giảm nghèo đạt kết
quả to lớn. Hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường. Dân chủ
cơ sở được phát huy. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Vị
thế chính trị của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao.
Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng,
lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng. Nông nghiệp phát triển còn kém bền
vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa
phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất; nghiên cứu, chuyển giao khoa
học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế. Việc chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ
biến vẫn là sản xuất nhỏ phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều
mặt hàng thấp. Công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm, chưa
thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn. Các
hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển
mạnh sản xuất hàng hoá. Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy
hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu kém, môi trường ngày càng ô
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 2
nhiễm; năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế. Đời sống
vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp, tỉ lệ hộ nghèo cao,
nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa; chênh lệch giàu, nghèo
giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã
hội bức xúc.
Do đó đòi hỏi phải có sự đột phá trên tất các lĩnh vực kinh tế, văn hoá,
xã hội, môi trường nhằm phát triển nông thôn bền vững, nâng cao đời sống
vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn. Ngày 04/6/2010 Thủ tướng Chính
phủ ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg về Phê duyệt Chương trình mục
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phân tích thực trạng xây dựng nông
thôn mới huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang; mục tiêu; định hướng và giải
pháp xây dựng nông thôn mới của Huyện.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn huyện Hàm
Yên tỉnh Tuyên Quang.
+ Về thời gian: Đánh giá thực trạng nông thôn huyện Hàm Yên giai
đoạn 2011 - 2013.
4. Ý nghĩa khoa học và những đóng góp của Luận văn
- Đánh giá tổng quan hiện trạng xây dựng NTM trên địa bàn huyện Hàm Yên.
- Đánh giá được những thuận lợi, khó khăn của các xã trong xây dựng
nông thôn mới.
- Đưa ra các giải pháp nhằm thực hiện thành công Chương trình xây
dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.
5. Bố cục của luận văn
Kết cấu luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham
khảo gồm có 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Thực trạng về xây dựng nông thôn mới tại huyện Hàm Yên,
tỉnh Tuyên Quang.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 4
Chương 4: Định hướng và một số giải pháp xây dựng nông thôn mới tại
huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.
khá cả về giá trị, sản lượng. Vì vậy, từ chỗ là một nước thường xuyên thiếu
lương thực, hơn thập niên qua Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 6
đứng thứ 2 trên thế giới, (tính riêng năm 2012 toàn quốc đã xuất khẩu tới 7,7
triệu tấn), đồng thời bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Ngoài gạo, Việt
Nam còn chiếm vị thế cao trong số các nước xuất khẩu về cà phê, cao su, hạt
điều. Giá trị xuất khẩu những mặt hàng nông sản khác như thủy sản, chế biến
gỗ cũng ngày càng cao và trở thành các sản phẩm chủ lực trong cơ cấu xuất
khẩu của đất nước. Cơ cấu nông nghiệp cũng chuyển dịch theo hướng tích
cực, gia tăng sản phẩm có giá trị kinh tế, có lợi thế cạnh tranh. Trong nông
nghiệp đã hình thành được một số vùng sản xuất tập trung quy mô lớn. Bên
cạnh đó, kết cấu hạ tầng trong nông nghiệp và nông thôn được tăng cường.
Chẳng hạn, công tác thủy lợi hóa đã được thực hiện hết sức mạnh mẽ, đến nay
94% diện tích lúa, 41% diện tích hoa màu trong cả nước được tưới tiêu. Việc
áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp triển khai khá rộng rãi (70%
diện tích lúa được sử dụng máy móc). Công nghệ tiên tiến, nhất là công nghệ
sinh học được ứng dụng góp phần tăng chất lượng, hiệu quả sản xuất nông
nghiệp. Nông nghiệp nước ta hiện nay tuy có tỷ trọng giảm đi trong cơ cấu
kinh tế của đất nước, xong giá trị tuyệt đối ngày càng tăng, đóng góp một
phần không nhỏ trong GDP của đất nước.
Như vậy có thể thấy nhờ các chủ trương, chính sách đúng đắn của
Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông dân và nông thôn thời gian qua, đã
cởi trói cho lực lượng sản xuất trong lĩnh vực này phát triển mạnh mẽ. Tuy
nhiên để phát triển nông - lâm- ngư nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa gắn với giải quyết tốt vấn đề nông dân, nông thôn thì vấn để
nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay còn đang đặt ra nhiều khó khăn,
nông dân không bán được hàng, bị Tiểu thương ép giá, lúc mất mùa, thiên tai,
dịch bệnh thì không được gì. Ở hoàn cảnh nào nông dân cùng là người bị thua
thiệt và vì vậy, luôn có tình trạng nông dân thường xuyên thay đổi cây trồng,
vật nuôi, không yên tâm tích lũy kinh nghiệm, sản xuất ổn định lâu dài.
(3) Mức độ giảm nghèo chung của Việt Nam tiến bộ liên tục. Tuy
nhiên, xu hướng phân hóa giàu nghèo ngày càng gia tăng, trong nội bộ khu
vực nông thôn, và đặc biệt là giữa nông thôn với thành thị. Nhiều chuyên gia
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 8
đã đưa ra con số về chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn - thành thị lên tới
trên 6,9 lần.
(4) Một vấn đề nữa là người nông dân thiếu việc làm do bị mất đất do
xu thế tích tụ ruộng đất ngay tại nông thôn và quá trình đô thị hóa và phát
triển các khu công nghiệp hiện nay (20 năm qua, 300.000 héc-ta đất nông
nghiệp bị mất đi do quá trình này). Điều này đã làm cho vấn đề thiếu việc làm
tại nông thôn và xu hướng di dân ra thành phố để mưu sinh là không thể tránh
khỏi. Song song với đó một sự thiếu hụt nữa ở khu vực nông thôn hiện nay là
tri thức và thông tin khoa học hiện đại không được chuyển giao một cách có
hệ thống. Người nông dân thiếu kiến thức, nên khó chuyển giao được khoa
học công nghệ để họ thực sự làm chủ. Điều này tiếp tục đặt họ và thế bất lợi
hơn nữa.
(5) Không chỉ vấn đề đất đai, áp lực về lao động trong nông nghiệp cũng
ngày càng lớn. Thực tế, ở nhiều địa phương hiện nay tuy có số nông dân đông,
nhưng hầu hết những người có sức khỏe đều rời quê ra các đô thị tìm việc kiếm
sống. Vì thế vào những ngày mùa cần nhiều lao động các vùng thôn quê rất thiếu
nhân lực, phải thuê với giá cao. Do đó vấn đề đặt ra tuy nông thôn thừa lao động,
thiếu việc làm nhưng có khi lao động vẫn là sức ép đối với nông nghiệp. Ngoài
Ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ Tướng Chính phủ ban hành Quyết
định số 800/QĐ-TTg về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây
dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020. Tại quyết định này, mục tiêu
chung của Chương trình được xác định là: “Xây dựng nông thôn mới có kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức
tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp,
dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn
dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo
vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân
ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa ”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 10
Như vậy, nông thôn mới là nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã hội dân chủ,
ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, đời sống vật chất, tinh thần được nâng
cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững.
1.1.2.2. Đơn vị nông thôn mới
Thông tư 54/2009/TT-BNNPTNT, ngày 21 tháng 8 năm 2009 của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc
gia về nông thôn mới quy định: Ban chỉ đạo nông thôn mới Trung ương kiểm
tra việc công nhận xã nông thôn mới ở các tỉnh để xét công nhận huyện, tỉnh
đạt chuẩn nông thôn mới cho các huyện có 75% số xã trong huyện đạt nông
thôn mới và tỉnh có 75% số huyện trong tỉnh đạt nông thôn mới.
Như vậy đơn vị nông thôn mới có 3 cấp:
- Xã nông thôn mới khi đạt 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia nông
thôn mới;
- Huyện nông thôn mới khi có 75% số xã trong huyện đạt nông thôn mới;
đòi hỏi phải được giữ gìn và phát triển trong một hoàn cảnh đặc thù. Môi
trường thành thị là nơi có tính mở cao, con người cũng có tính năng động cao,
vì thế văn hoá quê hương ở đây sẽ không còn tính kế tục. Do vậy, chỉ có nông
thôn với đặc điểm sản xuất nông nghiệp và tụ cư theo dân tộc, dòng tộc mới là
môi trường thích hợp nhất để giữ gìn và kế tục văn hoá quê hương. Ngoài ra,
cảnh quan nông thôn với những đặc trưng riêng đã hình thành nên màu sắc
văn hoá làng xã đặc thù, thể hiện các tư tưởng triết học như trời đất giao hoà,
thuận theo tự nhiên với sự tôn trọng tự nhiên, mưu cầu phát triển hài hoà cũng
như chú trọng sự kế tục phát triển của các dân tộc.
Để đảm bảo giữ gìn được văn hóa truyền thống tốt đẹp của nông thôn
nên việc xây dựng nông thôn mới nếu như phá vỡ đi các cảnh quan làng xã
mang tính khu vực đã được hình thành trong lịch sử thì cũng chính là phá vỡ
đi sự hài hoà vốn có của nông thôn, làm mất đi bản sắc làng quê nông thôn.
Điều này không những hạn chế tác dụng của chức năng nông thôn mà còn có
tác dụng tiêu cực đến giữ gìn sinh thái cảnh quan nông thôn và cảnh quan văn
hoá truyền thống.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 12
- Chức năng sinh thái: Nền văn minh nông nghiệp được hình thành từ
những tích luỹ trong suốt một quá trình lâu dài, từ khi con người thích ứng
với thiên nhiên, lợi dụng, cải tạo thiên nhiên, cho đến khi phá vỡ tự nhiên dẫn
đến phải hứng chịu các ảnh hưởng xấu và cuối cùng là tôn trọng tự nhiên.
Trong nông thôn truyền thống, con người và tự nhiên sinh sống hài hoà với
nhau, chức năng người tôn trọng tự nhiện, bảo vệ tự nhiên và hình thành nên
thói quen làm việc theo quy luật tự nhiên.
Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá khiến con người ngày càng xa
rời tự nhiên, dẫn đến những ô nhiễm trong môi trường nước và không khí.
chính tầng lớp nông dân. Hiển nhiên nói người nông dân ở đây không phải chỉ
đơn thuần là cá thể nông dân, mà phải được hiểu là các tổ chức nông dân.
Trong công cuộc xây dựng nông thôn mới, người nông dân phải tham gia
từ khâu quy hoạch, đồng thời góp công, góp của và phần lớn trực tiếp lao
động sản xuất trong quá trình làm ra của cải vật chất, giữ gì bản sắc văn hóa
dân tộc… đồng thời, cũng là người hưởng lợi từ thành quả của nông thôn
mới. Chính vì vậy, nông dân là chủ thể xây dựng nông thôn mới là yếu tố vừa
đảm bảo cho sự nghiệp xây dựng nông thôn mới thành công, vừa đảm bảo
phát huy được vai trò tích cực của nông dân.
1.1.3. Nội dung xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành
một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho
nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với
mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt.
Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam là xây dựng nông thôn đạt 19 tiêu
chí của Bộ tiêu chí quốc gia về Nông thôn mới được quy định tại Quyết định
số 491/QĐ-TTg ngày 19/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ, tạo nền móng ban
đầu để người dân nông thôn phát huy nội lực, ổn định và nâng cao cuộc
sống, thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị. 19 tiêu chí để xây
dựng nông thôn mới bao gồm: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch; giao
thông; thủy lợi; điện; trường học; cơ sở vật chất văn hóa; chợ nông thôn;
bưu điện; nhà ở dân cư; thu nhập; hộ nghèo; cơ cấu lao động; hình thức tổ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 14
chức sản xuất; giáo dục; y tế; văn hóa; môi trường; hệ thống tổ chức chính
trị xã hội vững mạnh và an ninh, trật tự xã hội. Trong 19 tiêu chí lớn sẽ có
những chỉ tiêu cụ thể, tổng cộng gồm 39 chỉ tiêu để đánh giá về xã đạt
quan; phân phối công bằng. Người nông dân thực sự “được tự do và quyết
định trên luống cày và thửa ruộng của mình”, lựa chọn phương án sản xuất
kinh doanh làm giàu cho mình, cho quê hương theo đúng chủ trương đường
lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Thứ năm, nông dân, nông thôn có văn hoá phát triển, dân trí được nâng
lên, sức lao động được giải phóng, nhiệt tình cách mạng được phát huy. Đó
chính là sức mạnh nội sinh của làng xã trong công cuộc xây dựng nông thôn
mới, vừa tự hoàn thiện bản thân, nâng cao chất lượng cuộc sống của mình,
vừa góp phần xây dựng quê hương văn minh giàu đẹp.
Các nội dung trong cấu trúc mô hình nông thôn mới có mối liên hệ chặt
chẽ với nhau. Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trình
hoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành lang pháp
lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, động viên tinh thần. Nhân
dân tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi và hoạch định chính sách.
Trên tinh thần đó, các chính sách kinh tế - xã hội sẽ tạo hiệu ứng tổng thể
nhằm xây dựng nông thôn mới.
1.1.4. Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước
Với khoảng 70% dân số là nông dân, vấn đề nông nghiệp, nông dân,
nông thôn ở Việt Nam luôn được Đảng và Nhà nước hết sức coi trọng. Trong
các giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã có
những chủ trương và chính sách lớn về vấn đề này.
- Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (năm 1960): Trong bối cảnh
đất nước ta đang tạm bị chia cắt thành 2 miền, cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước đang ngày càng ác liệt, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã xác
định: “ xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại, kết
hợp công nghiệp với nông nghiệp và lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu
tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển
nông nghiệp và công nghiệp nhẹ ” (Văn kiện Đại hội, Ban chấp hành Trung
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
- Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1982): Từ thực tiễn 30 năm