TRNG I HC KINH T QUC DN
à
TH THIấN HNG
Tổ CHứC CÔNG TáC KIểM SOáT CHI NGÂN SáCH NHà NƯớC
TạI KHO BạC NHà NƯớC CầN THƠ
Chuyờn ngnh: K toỏn, Kim toỏn v Phõn tớch
NGI HNG DN KHOA HC
TS. Phan Trung Kiờn
Hà Nội, năm 2013
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và
kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất kỳ đề tài
nghiên cứu khoa học nào.
Hà Nội, ngày …… tháng .… năm 2013
Sinh viên thực hiện
Đỗ Thị Thiên Hương
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới Thầy: TS. Phan Trung Kiên - người
hướng dẫn khoa học, đã nhiệt tình hướng dẫn Em hoàn thành Đề tài.
Em xin bày tỏ sự cảm ơn của Quý Thầy, Cô Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân, Viện Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Viện kế toán,
Kiểm toán và phân tích đã giúp đỡ Em trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Em xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ quý báu trong quá trình thu thập tài liệu,
trao đổi kinh nghiệm, góp ý luận văn của các Kế toán viên, cán bộ Kiểm soát chi,
Lãnh đạo Kho bạc Nhà nước Cần Thơ và đồng nghiệp, đã tạo điều kiện cho Em và
giúp Em hoàn thành Đề tài.
Trân trọng kính chào!
MỤC LỤC
2.2.2. Phân loại kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước tỉnh 19
2.2.3. Hoạt động kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước tỉnh 21
2.2.4. Đặc điểm tổ chức bộ máy hoạt động của Kho bạc Nhà nước tỉnh với kiểm soát chi 25
2.3.XEM XÉT HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA
KHO BẠC NHÀ NƯỚC TỈNH 26
2.3.1. Mục tiêu kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước tỉnh 26
2.3.2. Nội dung kiểm soát chi 27
2.3.3. Tiêu chuẩn cho hoạt động kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước tỉnh
31
2.3.4. Sự tuân thủ quy định trong kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước tỉnh
33
6
CHƯƠNG 3 36
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC 36
CẦN THƠ 36
3.1.PHÂN TÍCH TỔ CHỨC KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO
BẠC NHÀ NƯỚC CẦN THƠ 36
3.1.1. Thiết kế bộ máy kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Cần Thơ 36
3.1.2. Thủ tục kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Cần Thơ 42
3.1.3. Thực hiện kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước và chi đầu tư xây dựng cơ bản
tại Kho bạc Nhà nước Cần Thơ 60
3.1.4. Tổ chức hoạt động hỗ trợ kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Cần
Thơ 69
3.2.ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC CẦN THƠ 71
3.2.1. Những kết quả đạt được trong kiểm soát chi tại Kho bạc Nhà nước Cần Thơ 71
3.2.2. Những hạn chế trong kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Cần Thơ 76
3.2.3. Hạn chế về việc chấp hành chi và ý thức trách nhiệm của các đơn vị sử dụng ngân sách
nhà nước 79
KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC CẦN THƠ 102
KẾT LUẬN 105
MỤC LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
9
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CĐT : Chủ đầu tư
ĐTPT : Đầu tư phát triển
ĐVSDNS : Đơn vị sử dụng ngân sách
HĐND : Hội đồng nhân dân
Huyện : Quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh
KBNN : Kho bạc Nhà nước
KSC : Kiểm soát chi
NS : Ngân sách
NSNN : Ngân sách nhà nước
UBND : Ủy ban nhân dân
POS : (point of sale) là các điểm chấp nhận thanh toán
TABMIS : Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và Kho bạc
TCVN ISO : quản lý chất lượng theo mô hình khung
9001:2008
Tỉnh : Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Xã : Xã, phường, thị trấn thuộc quận, huyện
XDCB : Xây dựng cơ bản
VĐT : Vốn đầu tư
11
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Mô hình tổ chức bộ máy Kho bạc Nhà nước Cần Thơ 40
Sơ đồ 3.2 Sơ đồ quy trình giao dịch một cửa tại Kho bạc Nhà nước Cần Thơ 62
Sơ đồ 3.3 Kết Sơ đồ quy trình luân chuyển hồ sơ, chứng từ chi đầu tư xây dựng
cơ bản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước
NSNN, đồng thời chưa tiết kiệm triệt để, vẫn còn tình trạng lãng phí NSNN,…
nhưng chưa phát hiện được kịp thời; công tác điều hành NSNN của các cấp chính
quyền trên địa bàn thành phố còn bất cập, năng lực KSC NSNN của KBNN Cần
Thơ còn chưa đáp ứng nhu cầu; tổ chức công tác KSC NSNN tại KBNN Cần Thơ
hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý và cải cách thủ tục hành chính
trong xu thế đổi mới của đất nước ta hiện nay. Vì vậy, tổ chức công tác KSC NSNN
tại KBNN Cần Thơ cần được hoàn thiện.
Nhận thức từ tình hình thực tế trên, tác giả chọn đề tài: “Tổ chức công tác
kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Cần Thơ” để đưa ra
1
những giải pháp góp phần giải quyết vấn đề tồn tại, trong công tác tổ chức hoạt
động KSC NSNN tại KBNN Cần Thơ hiện nay.
1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến Đề tài nghiên cứu
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về KSC NSNN qua KBNN, nhằm đáp ứng kịp
thời hoạt động của KSC NSNN trong từng thời kỳ, sau đây là một số đánh giá về
các vấn đề đã nghiên cứu có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đề tài: “Hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà
nước qua Kho bạc Nhà nước” của Tác giả Lương Ngọc Tuyền - thực hiện năm
2005. Tác giả đã nghiên cứu sâu về hoạt động của KBNN trong công tác KSC
thường xuyên NSNN qua KBNN. Tuy nhiên tác giả đi sâu vào phần cơ sở lý luận,
phần thực trạng chưa nêu cụ thể công tác quản lý và điều hành chi NSNN (giai đọan
trước khi có luật ngân sách), chưa đưa ra số liệu cụ thể để phân tích công tác KSC
NSNN qua KBNN.
Đề tài: “Hoàn thiện kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua
Kho bạc Nhà nước tỉnh Bến Tre”, của tác giả Nguyễn Văn Biểu, thực hiện năm
2008, Tác giả chỉ nghiên cứu về nghiệp vụ KSC thường xuyên qua KBNN từ năm
2004-2007 của tỉnh Bến tre. Tuy nhiên về phương pháp luận rất chặt chẽ, có nhiều
đề xuất và có những đề nghị từ đơn vị thực thi đến các cấp quản lý địa phương, cấp
Bộ, Chính phủ, nên có thể áp dụng vào thực tiễn cho hệ thống KBNN. Tác giả
nghiên cứu đã khá lâu, hiện nay các văn bản chế độ về công tác KSC NSNN đã có
triển qua KBNN.
Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tổng thể chung: Mọi vấn đề liên quan đến quy trình nghiệp vụ
quản lý KSC NSNN qua KBNN theo luật NSNN.
Nghiên cứu cụ thể:
Ảnh hưởng của tổ chức bộ máy tới công tác thực hiện KSC NSNN.
Công tác quản lý điều hành của KBNN, tổ chức thực hiện đánh giá hiệu quả
KSC thường xuyên và chi ĐTPT thuộc vốn NSNN tại Cần Thơ. Do tính chất đặc
3
thù của phần VĐT xây dựng thuộc nguồn vốn nước ngoài, Luận văn không nghiên
cứu việc KSC đối với phần VĐT xây dựng thuộc nguồn vốn nước ngoài.
Để thực hiện nghiên cứu, Tác giả dự kiến sử dụng dữ liệu về công tác KSC
liên quan tới các khoản chi thường xuyên và chi ĐTPT thuộc NSNN tại Cần Thơ
năm 2010 đến năm 2012.
1.6. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập dữ liệu
Phương pháp điều tra, khảo cứu tài liệu: Tác giả dùng phương pháp điều tra,
khảo cứu tài liệu tại phòng Lưư trữ của đơn vị. Sau đó tác giả tiếp cận với phòng Kế
toán Nhà nước và phòng Kế hoạch để điều tra, khảo sát, tìm hiểu nguyên tắc,
phương thức kiểm soát các loại chi NSNN. Tác giả nghiên cứu căn cứ pháp lý, quy
trình, thủ tục KSC NSNN của KBNN Cần Thơ tại các phòng chuyên môn, các báo
cáo hàng năm của KBNN Cần Thơ liên quan đến KSC NSNN, để thu thập toàn bộ
dữ liệu trong quá trình KSC NSNN để hiểu được thực trạng tổ chức công tác kỉểm
soát chi NSNN tại KBNN Cần Thơ hiện nay còn phải hoàn thiện.
Phương pháp quan sát: Phương pháp này thấy được bộ máy KSC NSNN tại
KBNN Cần Thơ, quy trình thực hiện KSC NSNN và cách thức KSC NSNN để đánh
giá những mặt làm được, hạn chế và định hướng đề xuất các phương pháp.
Phương pháp phỏng vấn: Tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp
và gián tiếp 17 người làm nhiệm vụ KSC, 370 người chịu sự KSC NSNN tại KBNN
Cần Thơ để đánh giá khách quan về công tác tổ chức KSC NSNN tại KBNN Cần
tại Kho bạc Nhà nước Cần Thơ.
Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kiểm soát chi ngân
sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước Cần Thơ.
5
2.
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC
CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC
2.1. Khái quát về quản lý chi ngân sách nhà nước tỉnh ảnh hưởng tới
kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước
2.1.1. Quy trình quản lý ngân sách nhà nước
Thứ nhất, hệ thống NSNN: là tổng thể các cấp NS có mối quan hệ với nhau
trong việc tập trung và phân phối, sử dụng nguồn thu để thực hiện các nhiệm vụ chi.
Tổ chức hệ thống NSNN căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam, Luật NSNN, luật pháp hiện hành và theo yêu cầu của từng thời kỳ
phát triển của đất nước. Theo quy định mỗi cấp chính quyền phải có một ngân sách
(NS) tương ứng để đảm bảo hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình tại địa
phương. Hiện nay theo điều 4 khoản 1 Luật NSNN quy định “ NSNN gồm NS trung
ương và NS địa phương; NS địa phương bao gồm NS của đơn vị hành chính các cấp
có Hội đồng Nhân dân (HĐND) và Ủy ban Nhân dân (UBND)”.
NS trung ương hình thành từ dự toán kinh phí của các cơ quan hành chính sự
nghiệp, cơ quan khác nhận kinh phí từ NS trực thuộc trung ương.
NS địa phương hình thành từ dự toán kinh phí của các cơ quan hành chính sự
nghiệp, cơ quan khác nhận kinh phí từ NS trực thuộc các cấp chính quyền địa
phương.
NS địa phương gồm: NS tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (tỉnh). NS
quận, huyện thuộc thành phố; NS thị xã, thành phố, huyện thuộc tỉnh (huyện). NS
phường, xã, thị trấn thuộc quận, huyện (xã).
Quan hệ giữa NS các cấp được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:
nguyên tắc sau đây:
7
Một là, phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế, xã hội của đất nước. Phân cấp
quản lý kinh tế, xã hội là tiền đề, là điều kiện để thực hiện phân cấp quản lý NSNN.
Quán triệt nguyên tắc này tạo cơ sở cho việc giải quyết mối quan hệ vật chất giữa
các cấp chính quyền qua việc xác định rõ nguồn thu, nhiệm vụ chi của các cấp.
Thực chất của nguyên tắc này là giải quyết mối quan hệ giữa nhiệm vụ và quyền
lợi, quyền lợi phải tương xứng với nhiệm vụ được giao. Mặt khác, nguyên tắc này
còn đảm bảo tính độc lập tương đối trong phân cấp quản lý NSNN ở nước ta.
Hai là, NS trung ương giữ vai trò chủ đạo, tập trung các nguồn lực cơ bản để
đảm bảo thực hiện các mục tiêu trọng yếu trên phạm vi cả nước. Cơ sở của nguyên
tắc này xuất phát từ vị trí quan trọng của Nhà nước trung ương trong quản lý kinh
tế, xã hội của cả nước mà Hiến pháp đã quy định và từ tính chất xã hội hoá của
nguồn tài chính quốc gia.
Nguyên tắc này được thể hiện:
Mọi chính sách, chế độ quản lý NSNN được ban hành thống nhất và dựa chủ
yếu trên cơ sở quản lý NS trung ương.
NS trung ương chi phối và quản lý các khoản thu, chi lớn trong nền kinh tế
và trong xã hội. Điều đó có nghĩa là: các khoản thu chủ yếu có tỷ trọng lớn phải
được tập trung vào NS trung ương, các khoản chi có tác động đến quá trình phát
triển kinh tế, xã hội của cả nước phải do NS trung ương đảm nhiệm. NS trung ương
chi phối hoạt động của NS địa phương, đảm bảo tính công bằng giữa các địa
phương.
Ba là, phân định rõ nhiệm vụ thu, chi giữa các cấp và ổn định tỷ lệ phần trăm
(%) phân chia các khoản thu, số bổ sung từ NS cấp trên cho NS cấp dưới được cố
định từ 3 đến 5 năm. Hàng năm, chỉ xem xét điều chỉnh số bổ sung một phần khi có
trượt giá và một phần theo tốc độ tăng trưởng kinh tế. Chế độ phân cấp xác định rõ
khoản nào NS địa phương được thu do NS địa phương thu, khoản nào NS địa
phương phải chi do NS địa phương chi. Tránh tình trạng trông chờ, ỷ lại hoặc lạm
thu giữa NS trung ương và NS địa phương. Có như vậy mới tạo điều kiện nâng cao
Lập dự toán là công việc ban đầu rất quan trọng, nhất là năm đầu thời kỳ ổn
định NS định kỳ 5 năm, đặt cơ sở nền tảng và có ý nghĩa quyết định đến chất
lượng, hiệu quả của toàn bộ các khâu trong chu trình NSNN. Một dự toán NSNN
9
đúng đắn, có cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn sẽ có tác dụng quan trọng đối với
việc phát triển kinh tế, xã hội, đối với việc đảm bảo cân đối về tài chính, NS; đồng
thời cũng tạo điều kiện thuận lợi rất lớn cho các khâu tiếp theo, đặc biệt là khâu
chấp hành NSNN.
Hai là, chấp hành dự toán NSNN:
Chấp hành NSNN là biến các chỉ tiêu chi ghi trong kế hoạch NS năm từ dự
kiến thành hiện thực, từ đó góp phần thực hiện tốt nhất các chỉ tiêu dự toán NS đã
được cơ quan quyền lực Nhà nước quyết định. Bảo đảm chi NS được thực hiện theo
các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức về kinh tế, tài chính của Nhà nước.
Sau khi NS được phê chuẩn và năm NS bắt đầu, việc thực hiện dự toán NS
được triển khai. Bố trí cấp kinh phí của NSNN cho các nhu cầu chi đã được phê
chuẩn. Việc chấp hành dự toán NSNN thuộc về tất cả pháp nhân và thể nhân dưới
sự điều hành của Chính phủ, trong đó Bộ Tài Chính có vị trí quan trọng. Thông qua
chấp hành chi NSNN mà tiến hành đánh giá sự phù hợp của chính sách với thực tiễn
để có biện pháp điều chỉnh, sửa đổi và bổ sung.
Mục đích của việc chấp hành dự toán chi là đảm bảo đầy đủ, kịp thời nguồn
kinh phí của NS cho hoạt động của bộ máy Nhà nước và thực hiện các chương trình
kinh tế, xã hội đã được hoạch định trong năm kế hoạch. Thực chất của việc chấp
hành dự toán chi là tổ chức việc cấp phát kinh phí sao cho tiết kiệm và đạt hiệu quả
cao.
Trong việc chấp hành dự toán chi cần phải thực hiện các yêu cầu sau đây:
Thực hiện cấp phát kinh phí trên cơ sở hệ thống chính sách, chế độ, tiêu
chuẩn, định mức theo quy định, đảm bảo việc cấp phát kinh phí có trong dự toán
NSNN được giao.
KBNN thực hiện việc thanh toán, chi trả các khoản chi NSNN căn cứ vào dự
toán được giao, quyết định chi của thủ trưởng đơn vị sử dụng Ngân sách; có quyền
Theo Luật NSNN đã được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam khóa XI, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 16/12/2002 có hiệu lực thi hành từ
năm NS 2004, quy định “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã
11
được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một
năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”[26, tr.3].
NSNN được hiểu là toàn bộ các khoản thu, chi bằng tiền của Nhà nước trong
một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm.
Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ NS nhằm thực hiện nhiệm
vụ của Nhà nước trong từng thời kỳ [16, tr.80].
Chi NSNN luôn gắn với nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước
phải đảm nhận. Mức độ và phạm vi chi tiêu NSNN phụ thuộc vào nhiệm vụ của
Nhà nước trong từng thời kỳ.
Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước quyết định cơ cấu, nội
dung và mức độ của các khoản chi NSNN.
Tính hiệu quả của các khoản chi NSNN được thể hiện ở tầm vĩ mô và mang
tính toàn diện cả về kinh tế, xã hội, chính trị và ngoại giao.
Các khoản chi NSNN đều là các khoản cấp phát không hoàn trả trực tiếp.
Chi NSNN thường liên quan đến phát triển kinh tế, xã hội, tạo việc làm mới,
thu nhập, giá cả và lạm pháp
Chi NSNN mục đích là trang trải cho các nhu cầu chi tiêu của bộ máy Nhà
nước và đảm bảo thực hiện chức năng kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước.
Chi NSNN được chia thành: chi thường xuyên NSNN, chi ĐTPT và chi
khác.
Chi thường xuyên NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn từ quỹ NSNN
để đáp ứng nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà
nước về quản lý kinh tế xã hội.
Chi ĐTPT là những khỏan chi mang tính chất tích lũy phục vụ cho quá trình
tái sản xuất mở rộng gắn với việc xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm tạo ra môi trường
và điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư của các doanh nghiệp vào các lĩnh vực cần
đơn vị sử dụng ngân sách (ĐVSDNS) thực hiện. Mọi khoản chi NS được thanh toán
chi trả trực tiếp qua KBNN và được thủ trưởng ĐVSDNS chuẩn chi phù hợp chính
sách, chế độ, định mức, tiêu chuẩn Nhà nước quy định. Đồng thời thường xuyên
13