Tiểu luận môn tài chính quốc tế Phân tích cán cân thanh toán quốc tế - Pdf 27

1. LỜI MỞ ĐẦU
Một trong những xu thế vận động chủ yếu và nổi bật của nền kinh tế thế giới
trong thời đại ngày nay chính là xu thế quốc tế hóa nền kinh tế. Xuất phát từ lợi thế
so sánh và sự phát triển không đồng đều của lực lượng sản xuất, mỗi quốc gia chỉ
sản xuất hiệu quả nhất vào một số lĩnh vực chiếm ưu thế. Từ đó đòi hỏi sự mở cửa,
giao thương với các nền kinh tế khác để có thể thúc đẩy sự phát triển của quốc gia.
Hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra ngày càng sâu rộng về nội dung,
quy mô trên nhiều lĩnh vực như: thương mại, đầu tư, văn hóa, quân sự, chính trị…
Trong xu thế đó, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã diễn ra
từ lâu, bắt đầu từ khi Việt Nam khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước
vào năm 1986. Tuy nhiên, đặc biệt từ năm 2007, khi Việt Nam chính thức trở thành
thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), đây là cột mốc quan trọng
trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Việt Nam ngày càng tham
gia nhiều hơn vào các thỏa thuận thương mại tự do song phương, khu vực và thế
giới. Điều này đánh dấu cho việc hội nhập ngày càng sâu rộng với thị trường quốc
tế nói chung và trong lĩnh vực tài chính ngân hàng nói riêng.
Để quản lý hoạt động kinh tế đối ngoại, tất cả các quốc gia trên thế giới kể cả
Việt Nam đều phải sử dụng một công cụ quan trọng đó là CCTT quốc tế. CCTT
quốc tế có vai trò rất quan trọng, nó là một tấm gương phản ánh toàn bộ hoạt động
kinh tế đối ngoại của một nước với phần còn lại của thế giới trong một thời gian
nhất định. Ngoài ra, nó còn được sử dụng để đánh giá tình hình kinh tế xã hội, sự
mở cửa hội nhập của quốc gia ở một mức độ nhất định. Đồng thời cũng cho biết vị
thế quốc gia đang đóng vai trò chủ nợ hay con nợ đối với phần còn lại của thế giới.
Mặt khác, CCTT quốc tế không chỉ được sử dụng để phân tích quản lý tầm
vi mô mà còn có ý nghĩa trong việc điều hành quản lý kinh tế vĩ mô. Bao gồm:
chính sách đối ngoại nói chung và chính sách thương mại quốc tế nói riêng, kiểm
soát sự di chuyển của các luồng vốn đầu tư nước ngoài và xuất khẩu vốn, điều hành
chính sách tỷ giá,…
1
Để nắm bắt được những cơ hội cũng như chủ động đối phó với các thách
thức trong quá trình hội nhập, Việt Nam đã và đang tiến hành cải thiện CCTT quốc

Ghi Có (+) : các giao dịch làm phát sinh cung ngoại tệ.
3
Ghi Có Ghi Nợ
Xuất khẩu hàng hóa Nhập khẩu hàng hóa
Xuất khẩu dịch vụ Nhập khẩu dịch vụ
Thu thu nhập Chi thu nhập
Thu chuyển giao một chiểu Chi chuyển giao một chiểu
Nhập khẩu vốn Xuất khẩu vốn
Giảm dự trữ ngoại hối Tăng dự trữ ngoại hối
Bảng các giao dịch làm phát sinh cung cầu ngoại tệ
2.4. Ý nghĩa của CCTT:
Công cụ quan trọng trong điều hành và quản lý kinh tế vĩ mô: như chính sách
tỷ giá, chính sách xuất nhập khẩu
Công cụ đánh giá tiềm năng kinh tế của một quốc gia, giúp các nhà hoạch
định kinh tế có định hướng đúng đắn;
CCTT còn được sử dụng như một chỉ số về kinh tế và tính ổn định chính trị.
2.5. Kết cấu CCTT quốc tế:
Thành phần Cán cân Vãng lai Thành phần Cán cân Vốn
Hệ thống CCTT
4
Cán
cân
vãng
lai
Cán
cân
dịch vụ
Chuyển
giao
vãng lai

trực tiếp, thu nhập từ đầu tư vào giấy tờ có giá, lãi vay, lãi tiền gửi nước ngoài và
chuyển giao vãng lai một chiều. Được chia thành:
 Cán cân thương mại (Trade Balance – TB): Phản ánh toàn bộ các khoản
thu chi ngoại tệ gắn với xuất nhập khẩu hàng hóa của quốc gia đó.
TB = (X-M)
 Cán cân dịch vụ (Service Balance – S
E
): Phản ánh giá trị dịch vụ mà quốc
gia đó cung cấp hay nhận từ thế giới.
 Cán cân thu nhập (Investment Income Balance – I
C
):
_ Thu nhập của người lao động: các khoản tiển lương, thưởng và các khoản
thu nhập khác bằng tiền, hiện vật do Người không cư trú trả cho Người cư trú và
ngược lại
_ Thu nhập về đầu tư: Thu từ lợi nhuận đầu tư trực tiếp, lãi đầu tư vào giấy
tờ có giá hoặc các khoản lãi từ cho vay giữa Người không cư trú trả cho Người cư
trú.
 Chuyển giao vãng lai một chiều (Transfer Balance – T
R
): Viện trợ không
hoàn lại (độc lập), quà tặng, biếu…Khi cấp trợ phản ánh bên nợ; khi nhận phản ánh
bên có.
5

+ + =
Cán
cân
vãng lai
Cán

giữ cổ phần vì VN quy định cho nhà đầu tư nước ngoài tối đa là 49% cổ phần trong
một công ty.Tuy hiện nay tổng vốn FII vẫn còn rất nhỏ so với FDI nhưng các nhà
kinh tế vẫn đang đau đầu về việc quản lý nguồn vốn bất ổn này khi mà TTCK VN
vẫn còn quá non yếu. Mọi người đều ghi nhớ rằng cuộc khủng hoảng tài chính Châu
Á 1997 cũng bắt nguồn từ việc quản lý lỏng lẻo FII mà ra.
6
 Đầu tư khác: bao gồm các khoản vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn, các
khoản tiền mặt và tiền gửi không được liệt kê trong các khoản mục trên và tài khoản
dự trữ chính thức.
 Cán cân vốn: cán cân vốn dài hạn (K
L
), cán cân vốn ngắn hạn (K
S
), cán
cân chuyển giao vốn một chiều.
2.5.3. Cán cân cơ bản (Basic Balance – BB):
Cán cân cơ bản = Cán cân vãng lai + Cán cân vốn dài hạn
BB = CA +K
L
= - (K
S
+ ∆R)
Do cán cân vãng lai phản ánh mối quan hệ sở hữu về tài sản giữa Người cư
trú và Người không cư trú nên có ảnh hưởng lâu dài lên sự ổn định của nền kinh tế,
mà đặc biệt là tỷ giá hối đoái.
Những khoản đi vay có kỳ hạn càng dài càng có đặc trưng gần với những
khoản chi thu nhập, ảnh hưởng lâu dài đến nền kinh tế đặc biệt là tỷ giá hối đoái.
Vì tính chất ổn định của cán cân cơ bản ảnh hưởng lâu dài đến nền kinh tế và
tỷ giá hối đoái, nên các nhà hoạch định chính sách và các nhà phân tích đặc biệt
quan tâm

nguồn cung ngoại tệ nên phải ghi có (+) và khi cán cân tổng thể thâm hụt thì cán
cân bù đắp chính thức dương, NHTW mua ngoại tệ thì ngược lại.
_ Chỉ thể hiện trong BP những hoạt động can thiệp mua bán ngoại tệ của
NHTW; các hoạt động khác (đi vay và cho vay với nền kinh tế) thì không được thể
hiện.
Do đó NHTW vừa được xem là Người cư trú vừa là Người không cư trú.
 Cho đến nay khi nói đến thâm hụt hay thặng dư CCTT mà không nói
rõ là cán cân nào thì người ta hiểu đó là thặng dư hay thâm hụt cán cân tổng
thể, chính vì vậy cán cân tổng thể được coi là cán cân chính thức của quốc gia.
Tổng của hai cán cân tổng thể và bù đắp chính thức luôn bằng không.
8
3. CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ VIỆT NAM 2009-2010:
3.1. Khái quát tình hình CCTT Việt Nam trước năm 2009:
Bảng 3.1: CCTT của Việt Nam 2007-2008
ĐVT: Triệu USD
2007 2008
Triệu USD %GDP Triệu USD %GDP
Cán cân tài
khoản vãng lai
-6,992 -9.84 -11,435 -12.85
Cán cân thương
mại hàng hóa
(FBO)
-10,360 -14.59 -14,960 -16.81
Cán cân thương
mại dịch vụ
-894 -1.26 -1,300 -1.46
Thu nhập đầu tư
(ròng)
-2,168 -3.05 -2,432 -2.73

giới bắt đầu từ năm 2007, luồng vốn vào Việt Nam đã giảm mạnh, thoái đầu tư và
rút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) diễn ra ở mức nhất định, tạo ra hiện tượng
thâm hụt kép trên cả tài khoản vãng lai và tài khoản tài chính giao dịch vãng lai.
Cùng với việc mở cửa ngoại thương đã góp phần tự do hóa hoàn toàn, giao dịch vốn
đối với Người không cư trú gần như tự do. Chính vì vậy, ngoài nhập khẩu, xuất
khẩu hàng hóa, Việt Nam còn nhập khẩu các dịch vụ giáo dục, y tế, du lịch khiến
cán cân vãng lai ngày càng thâm hụt và luồng vốn biến động nhanh và mạnh hơn.
3.2. Giai đoạn năm 2009:
3.2.1. Cán cân vãng lai:
3.2.1.1. Cán cân thương mại:
Trong điều kiện tiến bộ khoa học công nghệ và của phân công lao động quốc
tế hiện nay, không thể có một nước phát triển bình thường mà không cần sự giao
lưu, hợp tác quốc tế. Do vậy, quan hệ kinh tế quốc tế là nhân tố, là biện pháp thúc
đẩy phát triển nhanh, bền vững và hiệu quả nền kinh tế của một đất nước. Một trong
những chiến lược phát triển của nền kinh tế Việt Nam là hoạt động xuất nhập khẩu.
Đó là kết quả tất yếu của quá trình tự do hóa thương mại, phân công lao động, quá
trình nâng cao vai trò tự chủ của doanh nghiệp.Hoạt động xuất nhập khẩu là cầu nối
giữa thị trường quốc gia và thị trường quốc tế. Thông qua hoạt động xuất nhập
khẩu, năng suất lao động tăng lên, tăng cường khả năng cạnh tranh, tăng thu nhập
cho người lao động, đặc biệt nó giữ vai trò quan trọng trong việc tăng trưởng và
phát triển kinh tế của một đất nước.
Cho nên để tăng tốc độ xuất khẩu, đẩy nhanh tiến độ hội nhập kinh tế với
khu vực và thế giới, Đảng và Chính phủ ta đã chủ trương tiếp tục đẩy mạnh hoạt
động xuất nhập khẩu, mở cửa nền kinh tế tiếp tục đa dạng hóa thị trường và đa
phương hóa mối quan hệ kinh tế với các nước trên thế giới. Tuy nhiên trong mấy
năm gần đây, nền kinh tế nước ta đã trải qua những thăng trầm do ảnh hưởng của
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng như xuất phát từ nội tại của nền kinh tế:
tăng trưởng cao nhưng chưa ổn định, lạm phát tăng cao (năm 2008) và đặc biệt hơn
10
nữa đó là tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai bắt nguồn từ thâm hụt cán cân thương

trực tiếp nước ngoài đạt 1.7 tỷ USD. Tuy khủng hoảng kinh tế đã dẫn đến thị
trường bị co lại nhất là ở các nước mà chiếm hầu hết tỷ trọng xuất khẩu của Việt
Nam như Mỹ, Nhật Bản, EU, ASEAN, làm cho giá xuất khẩu dầu thô, cao su, hạt
tiêu, cà phê, chè, bị tụt giảm mạnh cùng với việc gặp khó khăn trong khâu thanh
toán nhưng Việt Nam vẫn có tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu dương, trong đó có 9
mặt hàng có kim ngạch tăng, đặc biệt là xuất khẩu gạo tháng 3 tăng 23.5%, và trong
3 tháng tăng 76.4% so với cùng kỳ.
Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam trong quý I/2009 đạt 12.74 tỷ USD,
giảm gần 45% so với cùng kỳ năm trước. Đây cũng là một việc tất yếu xảy ra do
kinh tế khủng hoảng nên cùng với giá nhập khẩu giảm là nhu cầu về hàng hóa nhập
khẩu trong nước cũng giảm theo. Giảm mạnh gồm có xăng dầu, hoá chất, máy móc,
thiết bị và dụng cụ phụ tùng, phân bón, thuốc trừ sâu, chất dẻo, bông, sợi, nguyên
phụ liệu dệt may giày dép, sắt thép, điện tử máy tính Theo số liệu thống kê cho
thấy kim ngạch nhập khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng quý I/2009. Việc sụt
giảm nhập khẩu cho thấy tình hình sản xuất trước mắt của hàng tiêu thụ trong nước
và hàng xuất khẩu vẫn đang đứng trước những khó khăn. Ngoài ra, do kinh tế thế
giới chịu tác động của khủng hoảng kinh tế nên các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam cũng đang e ngại, dè chừng dẫn đến các dự án đầu tư vào Việt Nam đã giảm
12
đáng kể và theo sao đó chính là sự sụt giảm của các loại máy móc , nguyên vật liệu,
trang thiết bị,… Nhập khẩu hàng hoá quý I/2009 từ các thị trường lớn cũng giảm
mạnh, trong đó: Thị trường Trung Quốc đạt 2.9 tỷ USD, giảm 31%; ASEAN đạt 2.5
tỷ USD, giảm 51.8% (giảm chủ yếu ở các mặt hàng máy móc, thiết bị, xăng dầu, sắt
thép); Nhật Bản đạt 1.4 tỷ USD, giảm 26.3%; EU đạt 1.1 tỷ USD, giảm 18.4%; Mỹ
đạt 500 triệu USD, giảm 24%.
Sang đến những tháng sau thì CCTM trở lại tình trạng thâm hụt mà bấy lâu
nay nó tồn tại. Trong đó tổng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn này gần 43 tỷ USD
giảm 13.39%, và nhập khẩu là hơn 57 tỷ USD tăng 3.15% so với cùng kỳ năm
2008, khiến cho CCTM thâm hụt hơn 14 tỷ USD. Xuất hiện tình trạng thâm hụt như
vậy một phần là do bước sang giai đoạn này, khủng hoảng kinh tế đã tác động

Bên cạnh đó, các mặt hàng nhập khẩu đồng loạt tăng. Như nhập khẩu sắt
thép các loại tăng 15.2%; chất dẻo nguyên liệu tăng 25.2%; tổng lượng phân bón là
tăng 48.9%; dược phẩm tăng 26.9%; máy vi tính, sản phẩm linh kiện điện tử đạt
tăng 6.5% so với năm 2008.
Riêng lượng nhập khẩu ô tô nguyên chiếc đạt 80.6 nghìn chiếc.nhìn vào biểu
đò ta có thể thấy lượng nhập nhóm hàng này tăng rất nhanh và mạnh
14
Biểu đồ 2: Lượng nhập khẩu ô tô từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2009
Nguồn: IMF
Nhìn chung lại,cơ cấu các mặt hàng xuất nhập khẩu của nước ta là chưa hợp
lí. Xuất khẩu đi các mặt hàng thô và các mặt hàng theo mùa vụ phụ thuộc nhiều vào
thời tiết. Đồng thời nhập khẩu về các hàng đã qua tinh chế với giá đắt hơn rất nhiều,
và các máy móc phục vụ cho sản xuất các mặt hàng xuất khẩu. Khiến cho xuất khẩu
của nước ta phụ thuộc vào các nước khác.Vì vậy để cải thiện cán cân thương mại thì
cần chuyển dịch cơ cấu hàng xuất và nhập khẩu, khuyến khích doanh nghiệp sản
xuất các mặt hàng làm nguyên vật liệu cho các mặt hàng xuất khẩu
3.2.1.2. Cán cân dịch vụ:
Cán cân dịch vụ thâm hụt 1.13 tỷ USD, cao hơn 23.4% so với năm 2008
do thu dịch vụ giảm mạnh hơn chi dịch vụ. Thu dịch vụ giảm 18.1% so với năm
2008, trong đó thu từ dịch vụ du lịch (chiếm khoảng 50% tổng thu dịch vụ) giảm
mạnh. Các ngành dịch vụ khác như vận tải, hàng không, bảo hiểm đều giảm. Chi
dịch vụ giảm 13.3% so với năm 2008, trong đó chi phí vận tải và bảo hiểm, hiện
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi dịch vụ, cũng giảm 13.3% so với năm 2008 do
nhập khẩu sụt giảm. Chi nhập khẩu của các ngành dịch vụ khác như tài chính, vận
tải, bảo hiểm đều giảm so với năm 2008. (Theo IMF)
Cán cân vãng lai chủ yếu bao gồm cán cân thương mại hàng hóa, còn dịch vụ
và thu nhập thì tương đối nhỏ trong tổng thể cán cân vãng lai.
3.2.1.3. Chuyển giao vãng lai một chiều:
15
Nguồn vốn kiều hối có tác dụng hỗ trợ CCTT quốc gia. Nó góp phần chính

vài năm từ năm 2006 đến nửa đầu năm 2008, dòng kiều hối về Việt Nam tăng
mạnh, với mức doanh số là 8 tỉ - 10 tỉ USD/năm. Ngoài mục đích hỗ trợ thân nhân
và đầu tư vào kinh doanh, một phần không nhỏ của dòng kiều hối này được đầu tư
vào chứng khoán và bất động sản. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế,
những lĩnh vực hiện nay không còn "nóng" như trước. Hơn nữa, một phần lớn
nguồn kiều hối về Việt Nam lại từ Mỹ, nơi tăng trưởng kinh tế đang sa sút và tình
trạng thất nghiệp gia tăng. Điều này khiến cho dòng kiều hối trong năm 2008, 2009
và các năm tới sẽ suy giảm.
3.2.1.4. Cán cân thu nhập:
Biểu đồ 3.3: Tài khoản cán cân vốn và tài chính
Nguồn: Báo cáo thường niên Ngân hàng NN VN năm 2009
Thu nhập đầu tư thâm hụt 4.532 tỷ USD, giảm 3% so với năm 2008. Thu
nhập gồm thu từ lãi tiền gửi của hệ thống ngân hàng và thu từ lợi nhuận đầu tư của
các doanh nghiệp Việt Nam tại nước ngoài ước giảm 44.6% so với năm 2008. Chi
của hạng mục thu nhập đầu tư giảm 8.2% so với năm 2008 do lợi nhuận nhà đầu tư
17
nước ngoài được trong lĩnh vực dầu khí giảm cùng với xu hướng giảm giá dầu thô
trên thị trường. (Theo Báo cáo thường niên Ngân hàng NN VN năm 2009).
3.2.2. Cán cân vốn:
Cán cân vốn của Việt Nam bao gồm các bộ phận cơ bản như: vốn đầu tư trực
tiếp (FDI), vốn đầu tư gián tiếp (FII), vay trả nợ trung và dài hạn, vay trả nợ ngắn
hạn, và tiền gửi.
Bảng 3.2:
ĐVT: Triệu USD
2006 2007 2008 2009
CÁN CÂN VỐN 3,088 17,730 12,342 11,452
Đầu tư trực tiếp (FDI) (ròng) 2,315 6,516 9,279 6,900
Đầu tư gián tiếp (FII) (ròng) 1,313 6,243 -578 128
Vay trả nợ ngắn hạn (ròng) -30 79 1,971 256
Vay trả nợ trung và dài hạn (ròng) 1,025 2,269 992 4,473

và con người để nâng tỷ lệ giá trị gia tăng trong dài hạn. Quy mô nền kinh tế còn
nhỏ nên tổng tiết kiệm trong nước còn thấp, vì vậy khó có thể đủ để đáp ứng nhu
cầu vốn của các dự án đầu tư này. Do đó, Việt Nam cần thu hút đầu tư nước ngoài
hoặc vay nợ để có nguồn đáp ứng nhu cầu vốn của các dự án này.
Tuy vai trò của FDI đối với nền kinh tế Việt Nam là không thể bàn cãi,
nhưng tính hiệu quả cần phải xem xét lại. Vì FDI tập trung chủ yếu vào lĩnh vực lưu
trú, ăn uống và bất động sản (Cụ thể là vào năm 2009, trong tổng số 1504 dự án
gồm 839 dự án cấp mới và 215 dự án xin bổ sung vốn. Chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong FDI là dịch vụ lưu trú và ăn uống với tổng trị giá 8.8 tỷ USD, kinh doanh bất
động sản đứng thứ hai với 7.6 tỷ USD, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo có
quy mô lớn thứ ba với 2.97 tỷ USD vốn đăng ký) nên hiệu quả FDI còn khá thấp.
Đặc biệt là vai trò chuyển giao công nghệ trong các doanh nghiệp FDI. Đa số các
doanh nghiệp này tăng trưởng dựa vào các yếu tố như lao động rẻ mạt, trong khi
nhập về máy móc đã cũ kỹ hoặc đã khấu hao hết. Để tăng trưởng kinh tế bền vững
phải dựa trên sự đóng góp ngày càng nhiều của công nghệ và giảm dần mức độ
đóng góp của lao động.
 FII (foreign indirect investment):
19
Sau năm 2008 thâm hụt 578 triệu USD, vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII)
đã thặng dư 128 triệu USD trong năm 2009. Chúng ta cần phải biết rằng, so với 2
năm trước đây (2006, 2007), FII đã giảm rất mạnh, đặc biệt là trong năm 2007, khi
mà thặng dư FII lên tới 6.2 tỷ USD.
Bảng 3.3: Đầu tư gián tiếp (FII) ròng trong năm 2009
ĐVT: Triệu USD
Quý I Quý II Quý II Quý IV
Đầu tư gián tiếp (FII) (ròng) -574 133 159 410
Nguồn IMF
Sau quí I thâm hụt 574 triệu USD, bắt đầu từ quí II, dòng vốn FII đã tăng
đều, trung bình khoảng 50 triệu USD/ tháng. FII đổ vào dương liên tục, cho thấy sự
tin tưởng trở lại của các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường Việt Nam. Điều này

Việt Nam luôn dưới 14%, nhưng từ năm 2008, tỉ lệ này tăng vọt, đây là điều đáng
báo động.
Trong năm 2009, nhờ việc kích cầu của Chính phủ, quy trình thủ tục giải
ngân vốn ODA được tinh giản, nên tốc độ giải ngân vốn ODA trong năm tăng
nhanh chóng. Cũng trong năm 2009, cùng với những kết quả của công tác đối
ngoại, cộng đồng quốc tế tin tưởng vào sự ổn định, phát triển trong trung và dài hạn
của nước ta, nên đã tiếp tục cam kết tài trợ ODA với số lượng vốn lớn. Do đó năm
2009 là năm tăng kỉ lục về lượng vốn ODA đăng ký cũng như giải ngân, góp phần
làm thặng dư cán cân vốn, ổn định CCTT của Việt Nam trong năm 2009.
21
Bảng 3.5: Tiền và tiền gửi
ĐVT: Triệu USD
2006 2007 2008 2009
Tiền và tiền gửi -1535 2623 677 -305
Nguồn IMF
Tiền và tiền gửi chuyển sang thâm hụt 305 triệu USD sau khi thặng dư 677
triệu USD trong năm 2008.
3.3. Giai đoạn năm 2010:
Năm 2010 là một năm có ý nghĩa quan trọng và to lớn đối với Việt Nam,
đây là năm cuối của việc thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 5 năm 2006-
2010 và cũng là năm làm nền tảng tạo điều kiện thuận lợi cho việc định hướng kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm tiếp theo. Đồng thời, năm 2010 còn
đánh dấu bước phục hồi kinh tế của thế giới sau khi đã trải qua một cuộc khủng
hoảng, suy thoái kinh tế toàn cầu 2009. Mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn và
thách thức cả trong và ngoài nước nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn có những bước
phát triển tốt và ngày càng khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế. Theo
những số liệu ước tính gần đây của Quỹ tiền tệ thế giới IMF thì CCTT của Việt
Nam đã có sự khởi sắc đáng kể. Năm 2009 CCTT của nước ta thâm hụt gần 7.8 tỷ
USD nhưng đến năm 2010 sự thâm hụt đã giảm còn gần 4 tỷ USD. Tuy CCTT của
nước ta thâm hụt liên tiếp trong hai năm liền nhưng nhìn chung với đà giảm thâm

trì tăng trưởng xuất khẩu và thể hiện được quy mô mở rộng sản xuất. Đặc biệt trong
cơ cấu các nhóm mặt hàng xuất khẩu thì dệt may đã đạt trên 11.2 tỷ USD; gạo đạt
trên 3 tỷ USD; thủy sản đạt từ 5 tỷ USD trở lên,…Về thị trường xuất khẩu, Hoa Kỳ
vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với 12.8 tỷ USD, chiếm 17.9%
và tăng 25.4% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp đến là EU đạt 10 tỷ USD, tăng
15.9%, Nhật Bản đạt 6.9 tỷ USD, tăng 23.6%, Trung Quốc đạt 6.3 tỷ USD, tăng
48.6%. Xuất khẩu có sự phát triển mạnh mẽ như vậy là do từ rất sớm thì xuất khẩu
hàng hóa đã được xác định là một lĩnh vực định hướng, là một động lực mạnh mẽ
cho sự tăng trưởng kinh tế, và góp phần giảm thiểu thâm hụt thương mại.
Trong năm 2010, Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, ban ngành thực hiện việc đẩy
mạnh xuất khẩu, tiếp tục tháo gỡ những khó khăn trong tình trạng khủng hoảng
kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó là những chính sách khuyến
khích phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, cơ chế chính sách tiêu thụ nông
sản, đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng, hàng thực phẩm chất lượng cao, tổ chức các
kênh phân phối các mặt hàng thiết yếu, thúc đẩy xuất khẩu biên mậu, nâng cao hiệu
quả xúc tiến thương mại. Nhà nước đã có những chỉ đạo kịp thời và giám sát hoạt
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status