Luận giải tín ngưỡng phồn thực - Pdf 27

1
LỜI NĨI ĐẦU

I. Lý do chọn đề tài
Tơn giáo và tín ngưỡng là một phạm trù khơng thể thiếu trong đời sống
tâm linh của con người. Nếu như vật chất về cơ bản phục vụ những nhu cầu hữu
hình, đảm bảo cho sự tồn tại sinh học, sự tiếp nối sinh học, những ý muốn hiện
hữu thì tinh thần dẫn nối con người với những mong muốn tồn tại trong tư duy
và nhận thức, những ước vọng, nguyện ý làm cho con người được thỏa mãn về
mặt tâm lý. Tơn giáo (Religion) và tín ngưỡng (Belief) cũng khơng phải là ngoại
lệ. Về cơ bản, tơn giáo (mang tính niềm tin cộng đồng) và tín ngưỡng (mang
tính niềm tin cá nhân) đều có chung nguồn gốc tâm lý, đó là sự thần thánh hóa
các hiện tượng tự nhiên, phi thường hóa mối liên hệ của con người đang sống
với những người đã chết, gán niềm tin (vốn được các học giả Hoa Kỳ cho rằng,
là hình thái ý thức làm cho con người mang một sức mạnh thần kỳ, lại cũng là
một sự lệ thuộc cố hữu, nhưng điều đó lại làm cho con người khác hẳn con vật,
có hành vi lý tính phức tạp, khó kiểm sốt, tạo ra bản chất Người khơng thể
nhầm lẫn) vào ý thức của con người. Là một dạng thức tín ngưỡng, tín ngưỡng
phồn thực cũng khơng nằm ngồi điều đó. Mối quan hệ giao tính vồn ln là đề
tại nhạy cảm nhưng lại gắn bó thiết thực với đời sống, do nó là một thành phần
khơng thể thiếu trong yếu tố cấu thành bản chất sinh học cũng như cấu trúc ra ý
thức con người ln lý. Với vai trò là một hình thức thể hiện mối liên hệ giữa
mối quan hệ giao tính vào hình thức sùng bái, đề tài tín ngưỡng phồn thực vốn
đã được nhiều học giả trong và ngồi nước xem xét từ trong các nghi lễ, hình
thức biểu hiện, văn, thơ nói chung chứ chưa xem xét ở vai trò tâm lý hình thành.
Với u cầu đó, người viết đã mạnh dạn sử dụng Phân tâm học - một mơn khoa
học mới mẻ với nhiều lý thuyết đột phá về tâm lý, nhằm lấy đó làm cơ sở cho
phương pháp luận khi bước đầu nghiên cứu đề tài này. Tuy là một mơn khoa học
ít nhiều còn xa lạ, nhưng với sự nghiên cứu liên ngành và đa ngành nói chung,
thì việc ứng dụng phân tâm học vào các ngành khoa học xã hội và nhân văn đã
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN


THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN
3
Chng I: Cỏc khỏi nim
I. Tớn ngng phn thc
1. Khỏi nim tớn ngng phn thc
Tớn ngng phn thc (Ting Anh: Lingaism, Ting Phỏp: Lingaisme,
Ting c: Lingaismus) khụng phi l mt khỏi nim xa l trong vic nghiờn
cu vn húa hc núi chung cng nh lch s tụn giỏo, tớn ngng núi riờng, dự
vy vic nhỡn nhn khỏi nim ny mụi cnh vn húa no li l mt vn
ỏng bn.
V lý thuyt, trong ý thc hỡnh thnh, tn ti cng nh phỏt trin s sng
ca loi ngi, c bit trong thi k m nụng nghip úng vai trũ ct yu, thỡ
s ti tt ca mựa mng, sc sng mnh m ca cõy trng vt nuụi l mt suy
ngh cú tớnh thng trc. Bờn cnh ú, m bo kh nng duy trỡ nũi ging,
khụng loi tr kh nng nõng s lng lao ng - iu m kinh t nụng nghip
(nht l thi k s khai) ũi hi nh mt yu t c bn, thỡ c vng sinh sụi
ny n cng theo ú m to lp mt v th song song vi mong mun phỏt trin
nụng nghip.
Nu tỏch bch hai vn ny ra, thỡ rừ rng vn nụng nghip ch bao
hm cỏc phng thc canh tỏc, kh nng lm thy li, Nht nc, nhỡ phõn,
tam cn, t ging; bờn cnh ú, vic chn nuụi cng ch da vo kinh nghim,
ging loi vt nuụi, cỏc vn v cnh quan v mụi trng to nn tng i
lờn. Núi cỏch khỏc, yu t duy thc bn nng - mt vn c bn ca phõn tõm
hc m s c cp sau, khụng úng vai trũ chi phi cho vic : liu nn kinh
t ny cú bc tin hay mt s thay i tuõn theo mong mun ch quan ca con
ngi hay khụng, hay vn cú mt th lc siờu nhiờn (supernatural force) cú tỏc
ng nht nh n vn ny, theo c hai chiu tớch cc v tiờu cc ph thuc
vo thỏi ca con ngi. Cng vi mch t duy nh vy, theo cỏc nh sinh
hc M, vic con ngi xut hin thỡ ri cng khụng nm ngoi quy lut t

Sinh thc khớ (Sinh = , thc = ny n, khớ = cụng c) cú th coi l mt
dng ngu tng (idolatrie) khc ha chõn thc b phõn sinh dc nam v n,
tiờu biu l hỡnh tng Linga v Yoni trong o Hindu. Tc th ny bt ngun
t cỏc tc ngi lu vc sụng Indus thuc chng tc Sumer v Dravida. Nh
hc gi Will Durant trong tỏc phm Lch s vn minh n ó vit : Tớn
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
5
ngưỡng của họ gắn liền với thần thoại về thần Mẹ và sự thờ cúng âm lực, coi âm
vật của đàn bà là nguốn gốc của mọi sự sáng tạo. Bên cạnh thần Mẹ còn có thần
Nam, biểu hiện bằng phiến đá hình dương vật” .
- Linga hay Lingam có nghĩa là dấu hiệu (sign) hay đánh dấu (mark).
Về ý nghĩa, các học giả đều khá thống nhất khi cho rằng, nó là biểu hiện của
nguồn sống, của sức sinh sản, nhưng nó chỉ mang ý nghĩa đó một cách trọn vẹn
khi đứng trong cặp đối ngẫu với Yoni (bộ phận sinh dục nữ, hay các học giả
Pháp cho đó là Tử cung). Nếu không, khi tồn tại dưới hình thức tự thân, Linga
lại thuộc về lĩnh vực phi hình, không biểu hiện. Như học giả Bansi Padit trong
tác phẩm Hindu Dharma cho rằng, Linga là biểu tượng của thần Shiva, vị thần
Hủy Diệt, một trong Tam vị Nhất thể (Trimurty) của Hindu giáo. Linga là một
từ Sankrit được ghép bởi hai từ là laya (sự phân hủy, sự hòa tan)và agaman (sự
tái khởi tạo), nói cách khác, linga tượng trưng cho một thực thể mà trong đó, đi
từ sự phá hủy đến sự khởi tạo một chu trình mới của sự sống (cũng có ý kiến của
một số học giả Pháp như Jean Chevalier và Alain Gheerbrant thì cho rằng, từ
Linga có cùng gốc từ với langalâ, tức là cái cày, cái mai hay cái dương vật trong
tiếng Sankrit - tg). Điều này có thể thấy rõ trong các tượng Linga được chia làm
ba phần rõ rệt - phần đế hình vuông tượng trưng cho thần Brahmâ (Phạm Thiên)
(thần Sáng tạo), phần giữa có hình tám cạnh, tượng trưng cho thần Vishnu (Tỳ
Nữu) (thần Bảo tồn) và phần đỉnh có hình trụ, tượng trưng cho thần Shiva (Thấp
Bà Thiên) (Thần Hủy diệt). Linga ở đây đi từ sự Sáng tạo đến sự Bảo tồn và kết
thúc ở sự Hủy diệt, một chỉnh thể thống nhất về sự quá trình chuyển hóa vật
chất, tuy vậy, thần Shiva cũng là một vũ công mang tầm vóc vũ trụ, và dưới điệu

7
đối ngẫu với Linga, nó biểu hiện cho sự hiển lộ, sức sinh sản, thậm chí là cả sự
tái sinh tinh thần. Về mặt tôn giáo, Yoni là nơi thu nhận tinh dịch (semence -
biểu hiện của dòng chảy sự sống), là sự thể hiện cho âm lực (shakti) của thần
Shiva. Trong sách Bhagavad Gitâ, tử cung được đồng nhất với thần Brahmâ như
sự khởi nguyên của vũ trụ, trong khi đó, ở các sách Puranâ, Yoni lại được đồng
nhất với thần Vishnu trong mối liên hệ với thần Shiva, nói cách khác, thần Shiva
ở đây cũng được hiểu theo nghĩa tử cung của vũ trụ (do sự tái khởi tạo từ sự
hủy diệt).
Ở một số tộc người ở Châu Mỹ, học coi cái Lỗ (hole) - cả thiên tạo lẫn
nhân tạo, như cơ quan sinh dục của Đất Mẹ, mang nguồn năng lượng vĩnh cửu.
Chính vì lẽ đó, trong một số nghi lễ đi săn (hunting rites), việc giao phối với Mẹ
Đất là một cách để họ lấy được nguồn sức manh to lớn này.
Hình 2 : Bản vẽ chi tiết biểu tượng Yoni

THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN
8

Hình 3 : Tượng đá Yoni thế kỷ XII ở Bheragat. Madhya Pradesh

1.2.2. Một số hình tượng (biểu tượng)
- Các thần cai quản việc sinh đẻ, sự sinh sôi nảy nở, các ý nghĩa tính
dục tương đương.
+ Trong Thần thoại Hy Lạp :
a, Các thần Nguyên Thủy :
Gaia : Đất Mẹ.
Eros : Thần của tình yêu và tình dục.

Cp. Nú va th hin cho s phỡ nhiờu, s giu cú, l bn cht ca s phc sinh,
ca nim vui. vựng Lng H, hỡnh tng M v i hay Bũ cỏi v i cng
c Jean Chevalier ỏnh giỏ nh mt n thn phn thc. ngi c c, con
bũ cỏi dng sinh tờn l Audumla l bn gỏi ca Ymir, ngi khng l u tiờn;
Audumla c coi l thy t ca s sng, l biu tng phn thc tiờu biu. c
bit n , bũ cỏi l mu gc ca ngi m mn con , ca bn nguyờn õm
tuyt nh.

THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
10

Hình 4 : Bò cái
Cũng cùng mang ý nghĩa như vậy, hình tượng con lợn nái cũng được thần
thánh hóa như biểu hiện cho sự sinh đẻ dồi dào và sự sung mãn. Chính vì lẽ đó
mà người Ai Cập thể hiện hình tượng nữ thần Nout - hiện thân của bầu trời
trong cuộc hôn phối với Đất, trong hình tượng một con lợn nái. Ở La Mã, lợn
nái cũng thường được dùng để cúng tế Déméter, Mẹ Đất thiêng liêng và cao cả,
nguồn cội của mọi sự sống đã, đang và sẽ tồn tại. Lợn nái biểu trưng cho chức
năng sinh đẻ thần thánh của phụ nữ. Hình 5 : Lợn nái

- Biểu tượng Cừu đực (Bélier) : biểu hiện cho sức sinh sản mãnh liệt
đánh thức vạn vật. Ở Châu Phi, học giả Marcel Griaule đã dẫn chứng ra hình
THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN
11
tng con Cu c Tri - thn nụng nghip, ng bờn bp ngụ dng ng, uụi
ni trc tip vi u rn nh mt biu tng phn thc mónh lit.

Hình 9 : Cái chày

1.2.2. Hành vi giao phối
THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN
13
õy l mt hỡnh thc th tớn ngng phn thc khỏ c bit, ph bin
khu vc ụng Nam . Khụng coi ú l mt hnh vi mang tớnh i thng thỡ rừ
rng õy l mt cỏch t chõn khc ha tớn ngng phn thc mc cao
nht cú th cm nhn trc tip bng giỏc quan, n c l th giỏc. Cỏc hỡnh
tng trờn cỏc bc phự iờu, cỏc bc tng hay trờn cỏc sn phm ỳc ng
thi k mun, m cú th ly vớ d l thp ng o Thnh :
Trờn np thp ng tỡm c o Thnh (Yờn Bỏi, niờn i 500 nm
tr.CN), xung quanh hỡnh mt tri vi cỏc tia sỏng l tng 4 ụi nam n ang
giao hp. thõn thp khc chỡm hỡnh nhng con thuyn, chic sau ni uụi
chic trc khin cho hai con cỏ su - rng c gn mi v lỏi ca hai chic
thuyn chm vo nhau trong t th giao hoan. Hỡnh chim, thỳ, cúc,... giao phi
tỡm thy khp ni.
1

Ngoi ra, vi cỏc l hi cú quy nh v s va chm gia nam v n (H
Sn Bỡnh), hay iu tựng dớ Phỳ Th u th hin hnh vi ny, ch khỏc
ch mc th hin m thụi.
D nhiờn l trong khuụn kh ca mt bỏo cỏo khoa hc, tỏc gi khú lũng
trỡnh by ton b nhng ký hiu hay biu tng cú cựng nhng ý ngha k trờn
nh hỡnh tng con cúc trờn trng ng (vn ó c rt nhiu nh khoa hc
cp) hay hỡnh thc tm tiờn (s cp bng phõn tớch chng sau) nhng
cú th núi chỳng ớt nhiu u c nhỡn nhn di gúc tớn ngng phn thc
vi y lý lun xỏc ỏng.

khơng gian duy nhất mà vơ thức và ý thức xây dựng riêng cho bản thân con
người một thế giới riêng biệt, phản chiếu và dự báo các vấn đề liên quan đến đời
sống xã hội mà căn cứ là chủ thuyết tâm linh cá nhân. Freud gọi đó là
Traumdeutung (ý nghĩa giấc mơ) một vấn đề đặt ra cho phân ngành giải mộng
và đốn mộng, rất có tác dụng trong nghiên cứu tâm bệnh học, đặc biệt là các
vấn đề Hysteria (một dạng bệnh tưởng) - vốn là đề tài mà Freud rất quan tâm.
Nhưng, vấn đề mà đặc biệt liên quan đến đề tài này chính là luận thuyết
của ơng về libido (tính dục) trong vai trò như ngun lý điều chỉnh hoạt động ý
thức và hoạt động hành vi. Freud coi đó như nền tảng để lý giải động cơ
(motive) cho mọi hành xử của con người, được quy chuẩn về một hình thái ý
thức ngun sơ nhất, cơ bản nhất, ẩn sâu trong bản thân con người. Trong đời
sống, bằng cách này hay cách khác, hình thái này được bộc lộ ra theo nhiều
hướng, trở thành một trạng thái đa tuyến tính nhằm biểu hiện bản năng gốc

2
Ngụy Hữu Tâm – Chân dung nhà tâm lý học : Sigmund Freud và học thuyết phân tâm, Tạp chí
Tâm lý học năm 2005.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
15
(basic instinct) ca con ngi. Dự rng, vic ly tớnh dc lm c s cho mi lun
gii cú th coi l hi khiờn cng, tuy vy, Freud ó gii quyt c mt vn
mang tớnh nhõn bn, ú l i sõu khai thỏc nhng n c c kỡm nộn v b ỏp
ch ca con ngi, nhng phc th vn b cỏi vn húa khng ch, kim soỏt,
v iu tit nhm a nhng t tng ú vo nhng khuụn mu chun mc
c xó hi tha nhn nh l mu s chung. Nhng rừ rng, a vo lm cỏi
chung (common) khụng ng ngha vi vic ph nhn s tn ti ca nú m ch
l nhỡn nhn nú mt cỏch khoan hũa hn, v Freud trong c gng ca mỡnh, ó
tr tớnh dc v ỳng cỏi chc phn ca nú trong lý thuyt nhm khai thỏc ý ngha
thit thc ca nú trong i sng, c bit l h tr con ngi trong vic gii ta
nhng vng mc tõm lý.

lý thuyết của phân tâm học cổ điển do Freud tạo dựng cùng với những quan
điểm phân tâm học hiện đại do những học trò của ơng khởi xướng như C.G.
Jung hay của E.Fromm là việc đúng đắn nhằm xây dựng một cái nhìn khoa học
chắc chắn và tồn diện nhất trong khả năng. Ngồi ra, với phương pháp tiếp cận
liên ngành, việc ứng dụng những luận điểm của ngành Nhân học tơn giáo
(religional anthropology), Tâm lý học tơn giáo (religional psychology), Biểu
tượng học (symbology), Mỹ học (aesthetics) được coi là một cách thức hữu hiệu
và có giá trị. Theo đó, tác giả tin rằng bước đầu có thể luận giải tín ngưỡng phồn
thực theo một phương pháp mới, đi sâu khai thác động cơ tâm lý chứ khơng phải
theo lối thể hiện tín ngưỡng này, vốn đã là đề tài nghiên cứu và khảo nghiệm của
nhiều học giả trong và ngồi nước. Dĩ nhiên, khi đề cập đến vấn đề ý thức, ta
khơng sa vào quan điểm siêu hình (métaphysique) hay chủ nghĩa duy tâm mà về
cơ bản, phải đi sâu vào nghiên cứu để tìm ra ý nghĩa của tín ngưỡng này theo
quan điểm biện chứng, có logique và có luận điểm rõ ràng. Chính vì lẽ đó, các
học thuyết của C.G. Jung, với một cách nhìn nhận có tính tương đối dễ chấp
nhận hơn, cũng như lối tư duy vấn đề của E.Fromm về tơn giáo đứng từ vị thế
những nhà phân tâm học kế tục sự nghiệp của Freud được coi là những căn cứ
mang đậm tính nhân văn và tính duy vật, đủ sức nặng khoa học để đứng vững
trên lập trường phân tâm học mà khơng xa rời lý thuyết vốn có của bộ mơn khoa
học này. Theo nhận định chủ quan, do có những khác biệt nhất định trong tư duy
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
17
ca hai nh khoa hc l Freud v C.G. Jung (l hai hc gi chớnh m tỏc gi ly
h t tng lm hng s tham chiu) nờn nhng vn , c bit l vn Tớn
ngng phn thc trong vai trũ Biu tng cũn cn phi i sõu nghiờn cu.
nc ta, qua mt s tỏc phm dch (tuy cha nhiu do hu ht l bng ting c,
hoc nu cú thụng qua ngụn ng khỏc thỡ kh nng chuyn ng sao cho nờu
thoỏt c ý cn din gii cng rt khú khn - tg) hoc qua nghiờn cu ca mt
s hc gi m tiờu biu l Giỏo s, Bỏc s Nguyn Khc Vin thỡ vic nm bt
phn no lý thuyt phõn tõm hc cng ó c gii quyt. Tuy nhiờn, do õy cũn


THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN
19
Chương 2 : Luận giải tín ngưỡng phồn thực
I. Luận giải tín ngưỡng phồn thực ở khía cạnh Biểu tượng
1. Lý luận chung
Phân tâm học cổ điển và phân tâm học hiện đại (hay tâm lý học phân tích,
theo cách gọi của Jung, do thời kỳ sau, ơng mang những quan điểm trái ngược
với lý thuyết của Freud) đều quan tâm đến vấn đề Biểu tượng. Theo Freud, nội
dung mà ý thức cung cấp gợi ý cho vơ thức được coi là Biểu tượng. Trong khi
đó, theo luận cứ của Jung, ơng lại cho rằng những điều này khơng phải là Biểu
tượng theo đúng nghĩa của nó mà đơn thuần chỉ là những dấu hiệu (sign) hay
triệu chứng (symptom) được biểu hiện ra bề ngồi dưới hình thức này hay hình
thức khác. Để đạt được ngun nghĩa của Biểu tượng, sự thể hiện đó phải vượt
q tầm lĩnh hội, đồng nghĩa với việc, nếu chúng ta chỉ hiểu ở nghĩa đen thì

- Ý nghĩa siêu hình (metaphysical meaning).
Với vai trò đã được xác lập như thế, tín ngưỡng phồn thực tự thân nó đã
đề ra cho mình những diện mạo đi kèm nhằm khai triển chính bản thân nó cho
sự nhận thức của con người, nhào nặn cũng như quy định cho con người một lối
hành xử được một cộng đồng chấp nhận với một hiệu lực vượt tầm ý nghĩa. Khi
đã là một biểu tượng, nó có tác động nhất định đến tâm lý; khi nó xác định là
một tín ngưỡng (belief), nó càng có ảnh hưởng tới niềm tin cá nhân của người
ủng hộ nó, quy phục nó, thần thánh hóa nó theo chức năng chi phối, kiểm sốt
và tiết chế. Nói cách khác, nó hội đủ điều kiện để tạo ra những xúc cảm, có tính
chức năng, tính động lực, huy động được tồn bộ tâm trí con người trong một
khoảng thời gian nhất định (các nghi lễ chẳng hạn).
2. Nguồn gốc hình thành dạng biểu tượng Tín ngưỡng phồn thực
Vậy, đâu là cơ sở cho sự hình thành cho một hình thức tín ngưỡng như
vậy ? Theo Jung, ta có thể gọi cái nguồn gốc (origine) đó là mẫu gốc
(archétype), hay theo ý kiến của Freud, ở nghĩa hẹp hơn, coi đó là những huyễn
tưởng ngun thủy. Theo đó, nó được Freud định nghĩa như là những cấu trúc
huyễn tưởng điển hình (cuộc sống bào thai, kịch cảnh ngun thủy, thiến hoạn,
quyến rũ ...) được phát hiện, coi là sự tạo thành cuộc sống huyễn tưởng, khơng
phụ thuộc những trải nghiệm cá nhân của các đối tượng. Freud coi đó là một di
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
21
sản được truyền lại theo con đường phát sinh lồi, kế tiếp nhau qua con đường
duy trì ý thức từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tuy nhiên, nếu hiểu theo nghĩa đó,
phải chăng tín ngưỡng phồn thực được sinh ra từ những ức chế tâm lý cần tìm
lối thốt ? Nếu như vậy, liệu qua các thế hệ, lối thốt ấy có là phù hợp hay phải
có những biến đổi thích hợp phụ thuộc vào hồn cảnh, do khơng phải ức chế của
thời kỳ nào cũng giống thời kỳ nào, chưa kể đến các mức độ của ức chế tâm lý
nhằm đạt đến ngưỡng cần tìm biện pháp giải phóng ? Rõ ràng, nó khơng đơn
thuần chỉ dựa vào những ức chế mà kết cấu thành một dạng thức tín ngưỡng như
vậy. Hãy xem qua lý thuyết của Jung. Mẫu gốc hay siêu tượng là tập hợp

gn lin vi mt truyn thng (s th cỳng hay cỏc nghi l cú tớnh quy phm cho
tớn ngng phn thc chng hn). Vi li nhn thc nh th, ta mi cú th cú
c cỏi nhỡn tng th v nhng biu tng nh th Vit Nam, nh chựa Mt
Ct vi h sen vuụng, Khuờ Vn Cỏc vi Thiờn Quang Tnh, Thỏp Bỳt v i
Nghiờn, cỏc trũ chi dõn gian nh nộm cũn, ỏnh pht ...
Vn d phi a vn Biu tng v h biu tng gn vi tớn ngng
phn thc nh vy, l do theo J. Lacan, ú l mt trong ba vn ct yu cn
nghiờn cu khi kho nghim Phõn tõm hc, bờn cnh ú l trớ tng tng v cỏi
thc ti. Theo ụng, h biu tng cng l mt dng ngụn ng m Phõn tõm
hc cú nhim v phi tỡm ra quy lut cu thnh, cng nh din gii c ý ngha
ca chỳng. i vi Freud, h biu tng cú ý ngha n nh v c nhn din
trong cỏc sn phm khỏc nhau ca vụ thc. ễng nhn mnh n vai trũ ca biu
trng v s c biu trng (quan h bao hm) theo phõn tõm hc c in, cũn
vi Lacan, li chỳ trng xem xột cu to v cỏch sp xp biu tng t ú rỳt
ra ý ngha chung nht m biu tng ú mang n cho nhn thc con ngi.
Theo cỏch hiu ú, thm chớ c nh dõn tc hc ngi Phỏp Lộvy Strauss cng
phn no ng tỡnh, v cho rng vn húa - mt khớa cnh no y, l tp hp
ca cỏc h biu tng. Tớn ngng khụng nm ngoi vn ú, cng cú ngha l
tớn ngng phn thc hin din trong i tng nghiờn cu ca Phõn tõm hc.
3. Lý lun v Biu tng v chc nng i kốm
Ngc dũng lch s, ta ó coi mi s vt hin tng hin hu u cú th
quy v biu tng. Hóy xem xột ý kin ca hc gi Pierre Emmanuel, ta thy
ngay c rng, vic a tớn ngng phn thc vo lm Biu tng l mt iu
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
23
đúng đắn. Ông cho rằng, không chỉ có các vật định hình mà thậm chí cả các
khuynh hướng, một hình ảnh có tính ám ảnh, một giấc chiêm bao vụt đến còn
lưu lại trong ký ức, một hệ thuật ngữ chuyên môn (lingo system, système des
termes), một vài định đề nào đó có sự xác thực đều có thể trở thành biểu tượng.
Vấn đề ở chỗ là chúng có chứa đựng những năng lượng tinh thần (spiritual

- Chức năng cộng hưởng : tạo sự lan tỏa về nhận thức văn hóa.
- Chức năng siêu nghiệm : tức là nối liền và điều hòa cả những cái đối
lập (Âm Dương, Nam Nữ, Trời Đất chẳng hạn) tạo sự liên kết giữa những cái
tưởng chừng đối kháng thành mối hòa hợp ở dạng thống nhất, tạo ra sự tiến bộ
trong nhận thức .
- Chức năng biến đổi : tức là chuyển dạng năng lượng tinh thần (ở đây
là tín ngưỡng phồn thực) sang dạng hiện hữu có thể được nắm bắt, dạng bộc lộ
giá trị.
4. Logique của Biểu tượng
Vậy khi đã đưa tín ngưỡng phồn thực đi xa như vậy, liệu trong bản thân
nó có còn mang được tính logique tín ngưỡng, hay logique tâm linh hoặc ít nhất,
là có tính logique trong bản thân nó mà chưa cần xét đến dạng thể logique đó
như thế nào ?
Dĩ nhiên là vẫn có, nhưng không thể gò ép trong logique lý tính theo
phương thức
A  B của các khoa học tự nhiên được
Tâm lý con người là một phức thể biến đổi không ngừng, thế nên mọi
biểu tượng đều có tính đa chiều, hay diễn đạt dễ hiểu hơn, tín ngưỡng phồn thực
nhiều khi có ý nghĩa rộng hơn thế, hệ biểu tượng diễn đạt nó cũng chứa đựng ý
nghĩa rộng hơn thế - nếu dặt trong một sự sắp xếp khác. Và đã có sự sắp xếp, tức
là chúng đã có một dạng logique cảm tính nhất định. Lẽ dĩ nhiên, khi chúng ta
muốn cố gắng một cách khiên cưỡng để đặt nó vào logique lý tính, thì ít nhiều
chúng ta đã tự hủy diệt nó, vì một lẽ đơn giản : sai quy tắc, sai thứ tự, tức khắc
dẫn đến sai lệch hình thái tồn tại, đồng nghĩa với việc không tồn tại theo đúng
bản chất nó được đề ra. Logique là tập hợp cơ động nhiều mối liên hệ, nhưng
với các dạng thức tinh thần, logique của chúng chỉ biểu lộ với từng nhóm riêng
biệt, với từng cá thể, với từng giai đoạn tồn tại thì rõ ràng vấn đề sẽ trở nên khó
THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN
25
khăn trong định hướng hơn rất nhiều. Ta không đưa logique của tín ngưỡng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status