ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 9 - NĂM HỌC 2014 – 2015
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 9
A. PHẦN VĂN HỌC
I. VĂN BẢN NHẬT DỤNG : Gồm 3 văn bản :
PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH
Lê Anh Trà
A- TÓM TẮT KIẾN THỨC CƠ BẢN
1- Tác giả
Nhà báo Lê Anh Trà
2- Tác phẩm
a) Xuất xứ : Phong cách Hồ Chí Minh là một phần bài viết Phong cách Hồ Chí Minh
cái vĩ đại gắn với cái giản dị của tác giả Lê Anh Trà, trích trong cuốn Hồ Chí Minh và
văn hóa Việt Nam (Viện Văn hóa xuất bản, Hà Nội 1990).
b) Nội dung :
- Bài Phong cách Hồ Chí Minh chủ yếu nói về phong cách làm việc, phong cách
sống của Người. Cốt lõi của phong cách Hồ Chí Minh là vẻ đẹp văn hóa với sự kết hợp
hài hòa giữa tinh hoa văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại.
- Bài thuộc chủ đề về sự hội nhập với thế giới và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Tuy nhiên nó không chỉ mang ý nghĩa cập nhật mà còn có ý nghĩa lâu dài. Bởi lẽ học
tập, rèn luyện theo phong cách Hồ Chí Minh là việc làm thiết thực, thường xuyên của
các thế hệ người Việt Nam, nhất là lớp trẻ.
- Văn bản nói về hai nét nổi bật trong phong cách Hồ Chí Minh :
+ Kết hợp giữa bản sắc văn hóa dân tộc bền vững với hiểu biết sâu rộng tinh hoa
văn hóa thế giới :
-> Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với văn hóa thế giới bằng nhiều con đường (đi nhiều
nơi, làm nhiều nghề, học hỏi nhiều thứ tiếng )
-> Người tiếp thu một cách có chọn lọc tinh hoa văn hóa nước ngoài (không chịu
ảnh hưởng một cách thụ động, tiếp thu mọi cái hay cái đẹp, phê phán những hạn chế
tiêu cực, trên nền tảng văn hóa dân tộc mà tiếp thu ảnh hưởng quốc tế).
+ Lối sống hết sức giản dị, thanh đạm nhưng cũng rất thanh cao. Đó là “Một lối
sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất phương Đông, nhưng cũng đồng thời rất mới, rất
- Nét nổi bật trong phong cách Hồ Chí Minh
+ Kết hợp giữa bản sắc văn hóa dân tộc bền vững với hiểu biết sâu rộng tinh hoa
văn hóa thế giới :
+ Lối sống hết sức giản dị, thanh đạm nhưng cũng rất thanh cao. Đó là “Một lối
sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất phương Đông, nhưng cũng đồng thời rất mới, rất
hiện đại”
2- Dạng đề 5 hoặc 7 điểm
Đề 1 :
Nêu và phân tích những biện pháp nghệ thuật làm nổi bật vẻ đẹp trong phong
cách Hồ Chí Minh qua văn bản “Phong cách Hồ Chí Minh” của Lê Anh Trà.
Gợi ý : Yêu cầu viết thành bài văn, đảm bảo các ý chính sau :
- Kết hợp giữa kể và bình luận. Đan xen giữa lời kể là lời bình luận một cách tự
nhiên (dẫn chứng)
- Chọn lọc những chi tiết tiêu biểu (dẫn chứng)
- Đan xen thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, dùng từ Hán Việt gợi cho người đọc sự gần
gũi giữa Bác với các bậc hiền triết dân tộc (dẫn chứng).
- Sử dụng nghệ thuật đối lập : vĩ nhân mà hết sức giản dị, gần gũi, am hiểu mọi
nền văn hóa nhân loại mà hết sức Việt Nam (dẫn chứng).
C- BÀI TẬP VỀ NHÀ :
1- Dạng đề 2 hoặc 3 điểm
Đề 2 :
Vì sao có thể nói lối sống giản dị của Bác Hồ là một “lối sống thanh cao” và
“có khả năng đem lại hạnh phúc thanh cao cho tâm hồn và thể xác” ?
2
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 9 - NĂM HỌC 2014 – 2015
Gợi ý :
- Lối sống giản dị của Bác thể hiện một quan niệm sống đẹp, văn minh, một quan
niệm thẩm mĩ sâu sắc. Đó là sự coi trọng các giá trị tinh thần, là cách sống không lệ
thuộc vào điều kiện vật chất, không coi mục đích sống chỉ là hưởng thụ vật chất. Đó
cũng là cách sống coi trọng và luôn tạo được sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên,
hiện thực huyền ảo.
- "Trăm năm cô đơn "(1967) là cuốn tiểu thuyết nổi tiếng từng được giải và giới
phê bình văn học đánh giá là một trong những cuốn sách hay nhất thế giới trong những
năm 60 của thế kỷ XX.
- Năm 1982 , Mác -két được tặng giải thưởng Nô- ben về văn học.
2. Tác phẩm:
a) Nội dung
3
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 9 - NĂM HỌC 2014 – 2015
- Văn bản "Đấu tranh cho một thế giới hòa bình" trích từ bài tham luận nổi tiếng
của G.Mác-két tại hội nghị của các nguyên thủ của sáu nước thuộc các châu lục Á, Âu,
Phi, Mĩ- La tinh vào tháng 8 năm 1986, tại Mê -hi-cô.
- Văn bản chỉ rõ nguy cơ khủng khiếp của chiến tranh hạt nhân và cuộc chạy đua
vũ trang đang đe dọa toàn thể loài người cũng như mọi sự sống trên trái đất. Vì thế
nhiệm vụ của tất cả mọi người là ngăn chặn nguy cơ đó, đấu tranh cho một thế giới hòa
bình.
- Nội dung của văn bản được triển khai bằng một hệ thống luận điểm, luận cứ
chặt chẽ :
+ Kho vũ khí hạt nhân đang được tàng trữ, có khả năng hủy diệt cả trái đất và các
hành tinh khác trong hệ mặt trời.
+ Cuộc chạy đua vũ trang làm mất đi khả năng cải thiện nhiều lĩnh vực: Xã hội, y
tế, tiếp tế thực phẩm,giáo dục….với những chi phí khổng lồ cho chạy đua vũ trang đã
cho thấy tính chất phi lý của việc đó .
+ Chiến tranh hạt nhân không chỉ đi ngược lại lý trí của loài người mà còn ngược
lại lý trí của tự nhiên, phản lại sự tiến hóa .
+ Vì vậy, tất cả chúng ta phải có nhiệm vụ ngăn chặn cuộc chiến tranh hạt nhân,
đấu tranh cho một thế giới hòa bình.
b) Nghệ thuật
* Nghệ thuật nghị luận của văn bản có nhiều điểm đặc sắc.
- Hệ thống luận điểm, luận cứ toàn diện chặt chẽ.
* Đề 1 : Phát biểu cảm nghĩ của em về bài "Đấu tranh cho một thế giới hòa bình"
của nhà văn G.Mác -két.
* Dàn bài
1- Mở bài
- Trong thời đại ngày nay, điều đáng lo ngại nhất của thế giới chính là cuộc chạy
đua vũ trang hạt nhân giữa các cường quốc.
- G. Mác-két là nhà văn nổi tiếng của Cô-lôm-bi-a. Ông đã viết bài Đấu tranh cho
một thế giới hòa bình để kêu gọi toàn nhân loại đoàn kết ngăn chặn chiến tranh hạt
nhân, bảo vệ hòa bình và sự sống trên trái đất.
2- Thân bài:
a) Cảnh báo nguy cơ chiến tranh hạt nhân :
- Tác giả đưa ra một con số khủng khiếp để cụ thể hóa nguy cơ đó :
+ Tính đến ngày 8/8/1986, 50.000 đầu đạn hạt nhân được bố trí khắp hành tinh.
+ Bình quân, mỗi người đang ngồi trên 4 tấn thuốc nổ.
+ Nếu tất cả nổ tung thì sẽ tan biến mọi dấu vết của sự sống trên trái đất.
b) Sự chi phí đến mức vô nhân đạo của cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân:
- Chứng minh bằng hệ thống dẫn chứng tiêu biểu và toàn diện, có tính chất tương
phản rất rõ:
- Dự định của UNICEF về chương trình giải quyết các vấn đề cấp bách cho hơn
500 triệu trẻ em nghèo khổ trên khắp thế giới không thể thực hiện được vì không có đủ
số tiền 100 tỉ đô la.
- Số tiền này chỉ gần bằng chi phí bỏ ra cho 500 máy bay ném bom chiến lược của
Mĩ và 7000 tên lửa vượt đại châu.
- Giá 100 chiếc tàu sân bay mang vũ khí hạt nhân đủ để thực hiện chương trình
phòng bệnh trong 14 năm…
5
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 9 - NĂM HỌC 2014 – 2015
- Chỉ cần số tiền chế tạo 27 tên lửa MX là đủ cho các nước nghèo có thực phẩm
dùng trong 4 năm …
- 2 chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân có giá trị tương đương với số tiền xóa
- Tiền trả nông cụ cho các nước nghèo để họ có thực phẩm trong 4 năm bằng tiền
sản xuất 27 tên lửa MX.
- Tiền đủ xóa nạn mù chữ cho toàn thế giới bằng tiền đóng góp 2 tàu ngầm mang
vũ khí hạt nhân.
* Đề 3.
6
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 9 - NĂM HỌC 2014 – 2015
Vấn đề G.Mác -két đưa ra trong Đấu tranh cho một thế giới hòa bình có ý nghĩa như
thế nào trong tình hình hiện nay.
* Gợi ý :
Học sinh viết thành bài văn hoàn chỉnh thể hiện vấn đề nêu trong bài viết có tính cấp
thiết đối với đời sống xã hội và con người hiện nay nó cũng là vấn đề đã có ý nghĩa lâu
dài chứ không phải chỉ là nhất thời, đó là nguy cơ chiến tranh hạt nhân vẫn hiện hữu và
mọi người cần đấu tranh cho một thế giới hòa bình. Cụ thể đảm bảo một số ý chính
sau :
- Trong những năm qua thế giới có những đáng kể để làm giảm nguy cơ chiến tranh hạt
nhân. Chẳng hạn :
- Các hiệp ước cấm thử, cấm phổ biến vũ khí hạt nhân đã được nhiều nước kí kết,
hiệp ước cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến lược giữa Mĩ và Liên Xô (nay là nước Nga).
Nhưng hoàn toàn không có nghĩa là nguy cơ chiến tranh hạt nhân đã không còn hoặc
lùi xa.
- Kho vũ khí hạt nhân vẫn tồn tại và ngày càng được cải tiến.
- Chiến tranh và xung đột vẫn liên tục nổ ra nhiều nơi trên thế giới .Vì vậy thông
điệp của G.Mác -két vẫn còn nguyên giá trị, vẫn tiếp tục thức tỉnh và kêu gọi mọi người
đấu tranh cho một thế giới hòa bình.
2.Dạng đề 5 đến 7 điểm
* Đề 2. Nhận xét về nghệ thuật nghị luận của nhà văn G.Mác -két trong văn bản "Đấu
tranh cho một thế giới hòa bình"
* Dàn bài.
1- Mở bài
TUYÊN BỐ THẾ GIỚI VỀ SỰ SỐNG CÒN, QUYỀN ĐƯỢC
BẢOVỆ VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ EM
A- TÓM TẮT KIẾN THỨC CƠ BẢN
1- Giới thiệu về hoàn cảnh ra đời tác phẩm
Văn bản trích phần đầu bản “Tuyên bố” của Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em
họp tại trụ sở Liên Hợp quốc, Niu oóc ngày 30-9-1990, trong cuốn “Việt Nam và các
văn kiện quốc tế về quyền trẻ em” (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997).
Sau phần trích này bản tuyên bố còn có phần Cam kết, phần Những bước tiếp
theo khẳng định quyết tâm và nêu ra một chương trình, các bước cụ thể cần phải làm.
Hội nghị diễn ra trong bối cảnh mấy mươi năm cuối thế kỷ XX, khoa học kỹ
thuật phát triển, kinh tế tăng trưởng, tính cộng đồng, hợp tác giữa các quốc gia trên thế
giới được củng cố, mở rộng. Đó là những điều kiện thuận lợi đối với nhiệm vụ bảo vệ,
chăm sóc trẻ em. Song bên cạnh đó cũng có không ít khó khăn, nhiều vấn đề cấp bách
được đặt ra : sự phân hóa rõ rệt về mức sống giữa các nước về giàu nghèo, tình trạng
chiến tranh và bạo lực ở nhiều nơi trên thế giới, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn,
bị tàn tật, bị bóc lột và nguy cơ thất học ngày càng nhiều.
2- Tác phẩm
a) Nội dung
Văn bản gồm 17 mục : chia 3 phần
- Phần Sự thách thức : Nêu lên những thực tế, những con số về cuộc sống khổ
cực trên nhiều mặt, về tình trạng bị rơi vào hiểm hoạ của nhiều trẻ em trên thế giới hiện
nay. Cụ thể :
+ Bị trở thành nạn nhân của chiến tranh, và bạo lực, của nạn phân biệt chủng tộc,
chế độ A-pác-thai, của sự xâm lược, chiếm đóng và thôn tính của nước ngoài.
8
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 9 - NĂM HỌC 2014 – 2015
+ Chịu đựng những thảm hoạ của đói nghèo, khủng hoảng kinh tế, của tình trạng
vô gia cư, dịch bệnh mù chữ, môi trường xuống cấp.
+ Chết do suy dinh dưỡng và bệnh tật.
- Sau hai mục đầu khẳng định quyền được sống, quyền được phát triển của mọi
trẻ em trên thế giới, khẩn thiết kêu gọi toàn nhân loại hãy quan tâm đến vấn đề này, 15
mục còn lại được bố cục thành 3 phần. Mỗi phần được đặt tiêu đề rõ ràng, thể hiện tính
chặt chẽ, hợp lí của văn bản. Phần Sự thách thức tuy ngắn gọn nhưng đủ và cụ thể.
Phần Nhiệm vụ, các nhiệm vụ nêu ra vừa cụ thể, vừa toàn diện bao quát trên mọi lĩnh
vực (y tế, giáo dục, xã hội), mọi đối tượng (trẻ em bị tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh khó
khăn, trai, gái) và mọi cấp độ (gia đình, xã hội, quốc gia, cộng đồng quốc tế).
B- CÁC DẠNG ĐỀ
9
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 9 - NĂM HỌC 2014 – 2015
1- Dạng đề 2 hoặc 3 điểm
Đề 1 :
Tóm tắt lại các điều kiện thuận lợi cơ bản để cộng đồng quốc tế hiện nay có thể
đẩy mạnh việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em.
Gợi ý :
+ Sự liên kết lại giữa các quốc gia cùng ý thức cao của cộng đồng quốc tế. Đã có
công ước về quyền trẻ em làm cơ sở, tạo ra cơ hội mới.
+ Sự hợp tác và đoàn kết quốc tế ngày càng có hiệu quả : phong trào giải trừ
quân bị được đẩy mạnh.
+ Ở nước ta Đảng và Nhà nước quan tâm một cách cụ thể. Nhận thức của cộng
đồng về vấn đề này ngày càng sâu sắc.
2- Dạng đề 5 hoặc 7 điểm
Đề 1 : Tại sao vấn đề chăm sóc, bảo vệ trẻ em ngày càng trở nên cấp bách, được cộng
đồng quốc tế quan tâm đến thế ? Đọc phần Sự thách thức của Bản tuyên bố em hiểu
như thế nào về tình trạng khổ cực của nhiều trẻ em trên thế giới hiện nay ?
Gợi ý :
Giải thích tính cấp bách của vấn đề này xuất phát từ :
- Vai trò của trẻ em đối với tương lai của một dân tộc, đối với toàn nhân loại.
- Thực trạng cuộc sống của trẻ em trên thế giới hiện nay :
+ Bị trở thành nạn nhân của chiến tranh, và bạo lực, của nạn phân biệt chủng tộc,
+ Thực hiện kế hoạch hóa gia đình, tạo điều kiện để trẻ em lớn khôn và phát triển
trên nền móng gia đình.
+Vì tương lai của trẻ em cần cấp bách bảo đảm hoặc khôi phục lại sự tăng trưởng
và phát triển đều đặn nền kinh tế ở tất cả các nước.
Các nhiệm vụ nêu ra vừa cụ thể, vừa toàn diện bao quát trên mọi lĩnh vực (y tế,
giáo dục, xã hội), mọi đối tượng (trẻ em bị tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trai,
gái) và mọi cấp độ (gia đình, xã hội, quốc gia, cộng đồng quốc tế). Mục 17 nhấn mạnh
“Các nhiệm vụ đó đòi hỏi tất cả các nước cần phải có những nỗ lực liên tục và phối
hợp với nhau trong hành động của từng nước cũng như trong hợp tác quốc tế”.
II. VĂN HỌC TRUNG ĐẠI :
CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
(Trích Truyền kỳ mạn lục)
Nguyễn Dữ
1.Tác giả:
Nguyễn Dữ(?-?)
- Là con của Nguyễn Tướng Phiên (Tiến sĩ năm Hồng Đức thứ 27, đời vua Lê Thánh
Tông 1496). Theo các tài liệu để lại, ông còn là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
- Quê: Huyện Trường Tân, nay là huyện Thanh Miện - tỉnh Hải Dương.
2. Tác phẩm
* Truyền kỳ mạn lục: Tập sách gồm 20 truyện, ghi lại những truyện lạ lùng kỳ quái.
Truyền kỳ: là những truyện thần kỳ với các yếu tố tiên phật, ma quỷ vốn được lưu
truyền rộng rãi trong dân gian.
Mạn lục: Ghi chép tản mạn.
Truyền kỳ còn là một thể loại viết bằng chữ Hán (văn xuôi tự sự) hình thành sớm ở
Trung Quốc, được các nhà văn Việt Nam tiếp nhận dựa trên những chuyện có thực về
những con người thật, mang đậm giá trị nhân bản, thể hiện ước mơ khát vọng của nhân
dân về một xã hội tốt đẹp.
* Chuyện người con gái Nam Xương kể về cuộc đời và nỗi oan khuất của người phụ nữ
Vũ Nương, là một trong số 11 truyện viết về phụ nữ.
a, Trong đời sống vợ chồng bình thường:VN lấy chồng,Trước bản tính hay ghen của
chồng,VN “luôn giữ gìn khôn phép,không từng để lúc nào vợ chồng phải thất hoà”.
b,Khi tiễn chồng đi lính:Những lời dặn dò đầy tình nghĩa của VN:Không trông mong
vinh hiển mà chỉ cầu mong,chồng được bình yên trở về;cảm thông những nỗi vất vả mà
chồng sẽ phải chịu ở nơi chiến trường;nói lên nỗi khắc khoải nhớ nhung,của mình
(Cần dẫn những câu nói của VN) – Những câu nói ân tình,đằm thắm của nàngđã làm
cho mọi người đề xúc động “mọi người đều ứa 2 hàng lệ”
c,Khi xa chồng:VN là một người vợ thuỷ chung,yêu chồng tha thiết,nỗi buồn nhớ cứ
dài theo năm tháng (Những hình ảnh “bướm lượn đầy vườn” – chỉ cảnh mùa xuân tươi
vui, “mây che kín núi” – Chỉ cảnh mùa đông ảm đạm,là những hình ảnh ước lệ,mượn
cảnh vật thời gian để nói về sự trôi chảy của thời gian).
- Nàng còn là một người mẹ hiền,dâu thảo,một mình vừa nuôi con nhỏ,vừa tận tình
chăm sóc mẹ già,lúc đau yếu,lo thuốc thang,cầu khấn thần phật,lúc nào cũng dịu
dàng,ân cần, “lấy lời ngọt ngào,khôn khéo khuyên lơn”.Tuy vây vì tuổi cao sức yếu,bà
mẹ đã qua đời,trước khi từ giã cõi đời,bà đã trăng trối với VN “ chồng con nơi xa xôi
chưa biết sống chết thế nào,không thể về đền ơn được.Sau này trời xét lòng lành,ban
cho phúc đức,giống dòng tươi tốt,con cháu đông đàn,xanh kia quyết chẳng phụ
con,cũng như con đã chẳng phụ mẹ”,Câu nói cuối cùng của bà mẹ cũng đã thể hiện sự
12
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 9 - NĂM HỌC 2014 – 2015
ghi nhận nhân cách và đánh giá cao công lao của nàng đối với gia đình nhà chồng.Đó là
cách đánh giá thật chính xác và khách quan,.Và TG khẳng định một lần nữa trong lời
kể “Nàng hết lời thương xót,phàm việc ma chay tế lễ,lo liệu như đối với cha mẹ đẻ
mình”.
d,Khi bị chồng nghi oan: Có 3 lời thoại
- Lời thoại 1:Phân trần để chồng hiểu lòng mình. “Thiếp vốn con kẻ khó nghi
oan cho thiếp”VN nói đến thân phận mình,tình nghĩa vợ chồng và khẳng định tấm lòng
thuỷ chung trong trắng,cầu xin chồng đừng nghi oan, nghĩa là VN đã tìm mọi cách để
hàn gắn cái gia đình trong nguy cơ tan vỡ.
- Lời thoại 2:Nói lên nỗi đau đớn thất vọng khi không hiểu vì sao lại bị đối xử bất
trăm lạng vàng cưới về” và khi giãi bày cùng chồng VN nói “Thiếp vốn con kẻ
khó, được nương tựa nhà giàu”). Sự cách bức ấy đã cộng thêm một cái thế cho
TS, bên cạnh cái thế của người chồng, người đàn ông trong chế độ phong kiến.
- Tính cách của TS: “TS có tính đa nghi,đối với vợ phòng ngừa quá sức” ;Thêm
nữa, tâm trạng của chàng khi đi lính về có phần nặng nề,không vui (mẹ mất)
13
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 9 - NĂM HỌC 2014 – 2015
- Tình huống bất ngờ: Đó là lời nói của đứa trẻ ngây thơ chứa đầy những điêu
đáng ngờ. Thoạt đầu là sự ngạc nhiên của nó khi thấy mình có đến 2 người
cha,một người biết nói còn một người “chỉ nín thin thít”. Khi bị gặng hỏi nó mới
nói thêm có “một người đàn ông đêm nào cũng đến,mẹ Đản đi cũng đi,mẹ Đản
ngồi cũng ngồi”.Thông tin ngày một gay cấn ấy như đổ thêm dầu vào lửa, “tính
đa nghi” của TS đã đến cao trào, chàng “đinh ninh là vợ hư”.
- Cách sử sự hồ đồ, độc đoán của TS: Về đến nhà, TS không đủ bình tĩnh để phán
đoán, phân tích, bỏ ngoài tai những lời phân trần của vợ, không tin cả những nhân
chứng bênh vực cho nàng, cũng nhất quyết không chịu nói ra nguyên cớ để cho vợ
có cơ hội minh oan. Nút thắt ngày một chặt, kịch tính ngày một cao. TS trở thành
một kẻ vũ phu, thô bạo “mắng nhiếc nàng và đánh đuổi nàng đi”, dẫn đến cái chết
oan nghiệt của VN. Cái chết đó khác nào bị bức tử, mà kẻ bức tử lại hoàn toàn vô
can.
- Cuộc chiến tranh PK phi nghĩa đã làm cho đôi vợ chồng trẻ phải xa nhau ,khiến
một người cả ngen như TS, chỉ cần một nguên cớ không rõ ràng là hắt hủi,đánh
đuổi vợ .Bỏ ngoài tai mọi lời thanh minh của người vợ.Như vậy,có thể nói,chiến
tranh phi nghĩa thời phong kiến chính là nguyên nhân sâu xa tạo nên bi kịch của
VN.ở đây ta nhận ra chiều sâu giá trị hiện thực của TP.
Bi kịch của VN là 1 lời tố cáo XHPK xem trong quyền uy của kẻ giàu, và của người
đàn ông trong gia đình, đồng thời bày tỏ niềm cảm thương của TG đối với số phận
oan nghiệt của người phụ nữ. Người phụ nữ đức hạnh ở đây không những không
đươch bênh vực, che chở mà còn bị đối xử một cách bất công, vô lý;Chỉ vì một lời
nói ngây thơ của một đứa trẻ con và vì sự hồ đồ, vũ phu của anh chồng nghen tuông
giá phải trả giá cho sự phũ phàng của mình.Tính bi kịch của TP nằm ngay trong cái
lung linh,kỳ ảo này.Điều đó một lần nữa khẳng định niềm thương cảm của TG đối với
số phận người phụ nữ trong chế đọ phong kiến.
7,Những giá trị nghệ thuật cơ bản:
- Kết cấu độc đáo,sáng tạo.
- Nhân vật:Diễn biến tâm lý nhân vật được khắc hoạ rõ nét.
-Xây dựng tình huống truyện đặc sắc,kết hợp tự sự,trữ tình,kịch.
- Yếu tố kỳ ảo:Kỳ ảo,hoang đường.
- Nghệ thuật viết truyện điêu luyện.
Qua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thương tâm của VN, “Chuyện người con gái
Nam Xương”thể hiện niềm cảm thương đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ
VN dưới chế độ PK, đồng thời khẳng định vẻ đẹp truyền thống của họ.
Bµi tËp : Giá trị nhân đạo trong “chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn
Dữ
A- Mở bài:
- Từ thế kỉ XVI, xã hội phong kiến Việt Nam bắt đầu khủng hoảng, vấn đề số phận
cong người trở thành mối quan tâm của văn chương, tiếng nói nhân văn trong các tác
phẩm văn chươngngày càng phát triển phong phú và sâu sắc.
- Truyền kì mạn lục cảu Nguyễn Dữ là một trong số đó. Trong 20 thiên truyện của tập
truyền kì, “chuyện người con gái Nam Xương” là một trong những tác phẩm tiêu biểu
cho cảm hứng nhân văn của Nguyễn Dữ.
B- Thân bài:
1. Tác giả hết lời ca ngợi vẻ đẹp của con người qua vẻ đẹp của Vũ Nương, một
phụ nữ bình dân
- Vũ Nương là con nhà nghèo (“thiếp vốn con nhà khó”), đó là cái nhìn người khá đặc
biệt của tư tưởng nhân văn Nguyễn Dữ.
- Nàng có đầy đủ vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: thuỳ mị, nết na.
Đối với chồng rất mực dịu dàng, đằm thắm thuỷ chung; đối với mẹ chồng rất mực hiếu
thảo, hết lòng phụ dưỡng; đói với con rất mực yêu thương.
- Đặc biệt, một biểu hiện rõ nhất về cảm hứng nhân văn, nàng là nhân vật để tác giả
- Mượn yếu tố kì ảo của thể loại truyền kì, diễn tả Vũ Nương trở về để được rửa sạch
nỗi oan giữa thanh thiên bạch nhật, với vè đẹp còn lộng lẫy hơn xưa.
- Nhưng Vũ Nương được tái tạo khác với các nàng tiên siêu thực : nàng vẫn khát
vọng hạnh phúc trần thế (ngậm ngùi, tiếc nuối, chua xót khi nói lời vĩnh biệt “thiếp
chẳng thể về với nhân gian được nữa”.
- Hạnh phúc vẫn chỉ là ước mơ, hiện thực vẫn quá đau đớn (hạnh phúc gia đình tan
vỡ, không gì hàn gắn được).
4. Với niềm xót thương sâu sắc đó, tác giả lên án những thế lkực tàn ác chà đạp
lên khát vọng chính đáng của con người.
- XHPK với những hủ tục phi lí (trọng nam khinh nữ, đạo tòng phu,…) gây bao nhiêu
bất công. Hiện thân của nó là nhân vật Trương Sinh, người chồng ghen tuông mù
quáng, vũ phu.
- Thế lực đồg tiền bạc ác (Trương Sinh con nhà hào phú, một lúc bỏ ra 100 lạng vàng
để cưới Vũ Nương). Thời này đạo lí đã suy vi, đồng tiền đã làm đen bạc tình nghĩa con
người.
à Nguyễn Dữ tái tạo truyện cổ Vợ chàng Trương, cho nó mạng dáng dấp của thời
đại ông, XHPKVN thế kỉ XVI.
C- Kết bài:
- “Chuyện người con gái Nam Xương” là một thiên truyền kì giàu tính nhân văn.
Truyện tiêu biểu cho sáng tạo của Nguyễn Dữ về số phận đầy tính bi kịch của người
phị nữ trong chế độ phong kiến.
- Tác giả thấu hiểu nỗi đau thương của họ và có tài biểu hiện bi kịch đó khá sâu sắc.
*Phân tích tấn bi kịch và vẻ đẹp người phụ nữ qua văn bản “Chuyện người con
gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ.
Gợi ý bài làm:
I-“Chuyện người con gái Nam Xương” rút trong tác phẩm “Truyền kì mạn lục”, áng văn xuôi
viết bằng chữ Hán của Nguyễn Dữ trong thế kỉ 16, một kiệt tác văn chương cổ.Truyện kể lại
16
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 9 - NĂM HỌC 2014 – 2015
hiền đôn hậu. Đó là hình ảnh người phụ nữ lí tưởng trong xã hội phong kiến ngày xưa.
-Cũng như bao nhiêu người phụ nữ ngày xưa, cuộc đời của Vũ Nương là những trang buồn
đầy nước mắt.Sau ba năm đợi chờ, Trương Sinh đã bình yên trở về. Đây cũng là lúc đất bằng
nổi sóng, bi kịch lại đến với nàng. Trương Sinh trở về, con thơ vừa học nói. Tưởng rằng hạnh
phúc sẽ mỉm cười với đôi vợ chồng trẻ. Nhưng rồi chuyện “cái bóng” từ miệng đứa con thơ đã
làm cho Trương Sinh ngờ vực, “đinh ninh là vợ hư, mối nghi ngờ ngày càng sâu,không có gì
gỡ ra được”. Vốn tính hay ghen lại gia trưởng , vũ phu, ít học hành. Trương Sinh đã đối xử
với vợ hết sức tàn nhẫn. Giấu biệt lời con nói, Trương Sinh đã mắng nhiếc nàng và đánh đuổi
đi. Vợ phân trần, không tin; hàng xóm khuyên can cũng chẳng ăn thua gì cả! Chính chồng và
con – những người thân yêu nhất của Vũ Nương đã xô đấy nàng đến bên bờ vực thẳm. Thời
chiến tranh loạn lạc, nàng đã trải qua những năm tháng cô đơn, giờ đây đứng trước nỗi oan,
nàng chỉ biết nuốt nước mắt vào lòng Vũ Nương chỉ có một con đường để bảo toàn danh
tiết : nhảy xuống sông Hoàng Giang tự tử. Lời nguyền của nàng với trời và thần sông đã làm
cho người đời xót xa đối với người con gái “bạc mệnh duyên phận hẩm hiu”. Vũ Nương
không phải làm “làm mồi cho cá tôm”, “làm cơm cho diều quạ”, không bị người đời phỉ nhổ
mà nang đã được các nàng tiên trong cung nước thương tình vì nàng vô tội, rẽ một đường
nước cho nàng thoát chết. Và cũng chẳng bao lâu sau đó, Trương Sinh biết vợ mình chết oan
chỉ vì chuyện “chiếc bóng”. Nàng tuy được hầu hạ Linh Phi, nhưng hạnh phúc của nàng ở
trần thế bị tan vỡ “trâm gãy bình rơi”,quyền làm mẹ , làm vợ của nàng vĩnh viễn không còn
17
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 9 - NĂM HỌC 2014 – 2015
nữa. Đó là nỗi đau đớn nhất của ngườ phụ nữ.
Nguyễn Dữ đã ghi lại câu chuỵện cảm động thươg tâm này với tất cả tấm lòng nhân đạo. Cái
chết đau thương của Vũ Nương có giá trị tố cáo hiện thực sâu sắc. Nó lên án chiến tranh
phong kiến đã làm cho đôi lứa phải li biệt, người vợ trẻ sống vất vả cô đơn; lên án lễ giáo
phong kiến khắt khe với tệ gia trưởng độc đoán, gây nên bi kịch gia đình, làm tan vỡ hạnh
phúc. Vì lẽ đó mà “Chuyện người con gái Nam Xương” có giá trị nhân bản sâu sắc.
III- “Tryền kì mạn lục” là kiệt tác của nền văn học cổ Việt Nam, xứng đáng là “thiên cổ kì
bút”. Người đọc mãi mãi thương cảm Vũ Nương, thương cảm những người phụ nữ tài hoa bạc
mênh. “Chuyện người con gái Nam Xương” tố cáo hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam thế
vạ.
Nội dung:
- Cuộc sống hưởng thụ của Trịnh Sâm:
+ Thú chơi đèn đuốc, bày đặt nghi lễ, xây dựng đền đài, … Ý nghĩa khách quan
của sự việc cho thấy cuộc sống của vua chúa thật xa hoa.
18
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 9 - NĂM HỌC 2014 – 2015
+ Thú chơi trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh, … Để thỏa
mãn thú chơi, chúa cho thu lấy sản vật quý từ khắp kinh thành đưa vào trong phủ.
- Thói nhũng nhiễu của bọn quan lại:
+ Thủ đoạn : nhờ gió bẻ măng, vu khống, …
+ Hành động : dọa dẫm, cướp, tống tiền ,…
-Thái độ của tác giả: thể hiện qua giọng điệu, qua một số từ ngữ lột tả bản chất của
bọn quan lại.
Nghệ thuật:
- Lựa chọn ngôi kể phù hợp.
- Lựa chọn sự việc tiêu biểu, có ý nghĩa phản ánh bản chất sự việc, con người.
- Miêu tả sinh động : từ nghi lễ mà chúa bày đặt ra đến kỳ công đưa cây quý về
trong phủ, từ những âm thanh khác lạ trong đêm đến hành động trắng trợn của bọn
quan lại, …
- Sử dụng ngôn ngữ khách quan nhưng vẫn thể hiện rõ thái độ bất bình của tác giả
trước hiện thực.
Ý nghĩa văn bản: Hiện thực lịch sử và thái độ của “ kẻ thức giả” trước những vấn
đề của đời sống xã hội.
HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ
(Hồi thứ 14, trích)
Ngô Gia Văn Phái
1. Tác giả
Bối cảnh lịch sử: Nửa cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, xã hội Việt Nam có nhiều
- Khẳng định chủ quyền dân tộc.
- Nêu bật chính nghĩa của ta - phi nghĩa của địch và dã tâm xâm lược của chúng -
truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc ta.
- Kêu gọi đồng tâm hiệp lực, ra kỷ luật nghiêm, thống nhất ý chí để lập công lớn.
Lời dụ lính như một lời hịch ngắn gọn có sức thuyết phục cao (có tình, có lý).
- Kích thích lòng yêu nước, truyền thống quật cường của dân tộc, thu phục quân lính
khiến họ một lòng đồng tâm hiệp lực, không dám ăn ở hai lòng.
c) Nguyễn Huệ là người luôn sáng suốt, mưu lược trong việc nhận định tình hình, thu
phục quân sĩ.
- Theo binh pháp “Quân thua chém tướng”.
- Hiểu tướng sĩ, hiểu tường tận năng lực của bề tôi, khen chê đúng người, đúng việc.
- Sáng suốt mưu lược trong việc xét đoán dùng người.
- Tư thế oai phong lẫm liệt.
- Chiến lược: Thần tốc bất ngờ, xuất quân đánh nhanh thắng nhanh (hơn 100 cây số đi
trong 3 ngày).
- Tài quân sự: nắm bắt tình hình địch và ta, xuất quỷ nhập thần.
- Tầm nhìn xa trông rộng - niềm tin tuyệt đối ở chiến thắng, đoán trước ngày thắng lợi.
d) Là bậc kỳ tài trong việc dùng binh: bí mật, thần tốc, bất ngờ.
Trận Hà Hồi: vây kín làng, bắc loa truyền gọi, quân lính bốn phía dạ ran, quân địch
“rụng rời sợ hãi”, đều xin hàng, không cần phải đánh. Trận Ngọc Hồi, cho quân lính lấy
ván ghép phủ rơm dấp nước làm mộc che, khi giáp lá cà thì “quăng ván xuống đất, ai
nấy cầm dao chém bừa…” khiến kẻ thù phải khiếp vía, chẳng mấy chốc thu được
thành.
Bằng cách khắc hoạ trực tiếp hay gián tiếp, với biện pháp tả thực, hình tượng người anh
hùng dân tộc hiện lên đẹp đẽ tài giỏi, nhân đức.
- Khi miêu tả trận đánh của Nguyễn Huệ, với lập trường dân tộc và lòng yêu nước, tác
giả viết với sự phấn chấn, những trang viết chan thực có màu sắc sử thi.
Về nghệ thuật:
- Lựa chọn trình tự kể theo diễn biến các sự kiện lịch sử.
- Khắc họa nhân vật lịch sử (người anh hùng Nguyễn Huệ, hình ảnh bọn giặc
Truyện Kiều
Văn chiêu hồn.
- Đóng góp to lớn cho kho tàng văn học dân tộc, nhất là ở thể loại truyện thơ.
Nguồn gốc của Truyện Kiều: Truyện Kiều có dựa vào cốt truyện từ cuốn Kim Vân
Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân nhưng phần sáng tạo của Nguyễn Du rất lớn.
Tóm tắt Truyện Kiều:
Thuý Kiều là một người con gái tài sắc vẹn toàn. Trong một lần chơi xuân, nàng gặp
Kim Trọng, một người phong nhã hào hoa. Hai người thầm yêu nhau. Kim Trọng dọn
đến ở gần nhà Thuý Kiều. Hai người chủ động, bí mật đính ước với nhau.
Kim Trọng phải về quê gấp để chịu tang chú. Gia đình Kiều bị thằng bán tơ vu oan.
Kiều nhờ Thuý Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng, còn nàng thì bán mình để
chuộc cha và cứu gia đình. Thuý Kiều bị bọn buôn người Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở
Khanh lừa gạt, bắt phải tiếp khách làng chơi ở lầu xanh. Nàng được một khách chơi là
Thúc Sinh chuộc ra, cưới làm vợ lẽ. Vợ cả Thúc Sinh là Hoạn Thư ghen, bắt Kiều về
làm con ở và đày đoạ. Kiều trốn khỏi nhà Hoạn Thư và nương nhờ cửa phật. Một lần
nữa nàng lại bị sa vào tay bọn buôn người Bạc Bà, Bạc Hạnh, phải vào lầu xanh lần thứ
hai. Tại đây nàng gặp Từ Hải. Hai người lấy nhau, Từ Hải giúp Kiều báo ân báo oán.
Do bị Hồ Tôn Hiến lừa, Từ Hải bị giết chết, Thuý Kiều phải hầu rượu Hồ Tôn Hiến và
bị ép gả cho viên thổ quan. Kiều gieo mình xuống sông Tiền Đường tự vẫn. Nàng được
cứu và lần thứ hai nương nhờ nơi cửa phật.
Khi Kim Trọng trở lại tìm Kiều thì Kiều đã lưu lạc. Chàng kết duyên với Thuý Vân
nhưng vẫn thương nhớ Thuý Kiều. Sau khi thi đỗ, chàng đi tìm Kiều, nhờ gặp sư Giác
21
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 9 - NĂM HỌC 2014 – 2015
Duyên nên gia đình được đoàn tụ. Kiều tuy lấy Kim Trọng nhưng duyên đôi lứa cũng là
duyên bạn bầy.
Giá trị của Truyện Kiều:
• Về nội dung:
- Giá trị hiện thực: Truyện Kiều là một bức tranh hiện thực về một xã hội phong
kiến bất công, tàn bạo chà đạp lên quyền sống của con người; thể hiện số phận con
a,Mở bài:- Giới thiệu về tác giả Nguyễn Du và đoạn trích.
- Khái quát về vẻ đẹp của hai chị em.
b,Thân bài:
a1, Chân dung 2 chị em TK,TV được tác giả bằng bút pháp ước lệ cổ điển.Bằng việc
lấy những hình ảnh như trăng ,hoa ,tuyết ,ngọc…để ngợi ca vẻ đẹp của con người.Dùng
những hình ảnh như tùng,cúc,trúc,mai,…để nói về sự thanh cao của tâm hồn,sự bản
lĩnh,…
22
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 9 - NĂM HỌC 2014 – 2015
-Trong đoạn trích này TG không miêu tả tỉ mỉ ,trực tiếp ,chân dung nhân vật mà
nghiêng về gợi.Để hình dung về vẻ đẹp kiều diễm của nhân vật,người đọc phải tưởng
tượng ,so sánh.
a2,Trước khi miêu tả vẻ đẹp của hai chị em,TG chuẩn bị tâm thế cho người đọc bằng
việc giới thiệu chung về hai người:Về họ tên,vẻ đẹp cao quý của hai chị em đồng thời
nhấn mạnh nét riêng của từng người.
*Với T.Vân :
-Những câu mở đầu có tính khái quát(Vân xem trang trọng khác vời):Vân đẹp
cao sang quý phái.
-Vẫn là bút pháp nghệ thuật ước lệ,với những hình tượng quen thuộc khi tả
Vân.Vẻ đẹp hình thể của Vân được nói đến qua các tình tiết về khuôn mặt (Khuôn
trăng đầy đặn,nét ngài nở nang),miệng đẹp như hoa ,giọng nói trong trẻo thốt ra từ hàm
răng ngà ngọc,mái tóc óng ả hơn mây,làn da trắng hơn tuyết.Các từ mang ý nghĩa so
sánh (thua,nhường),biện pháp nghệ thuật ẩn dụ có tác dụng làm nổi bật vẻ đẹp của
T.Vân.
-Vẻ đẹp của TV là vẻ đẹp thể hiện sự phúc hậu ,tròn trịa(đầy đặn,nở nang,đoan
trang)Đó là vẻ đẹp dự báo số phận của nàng:yên ổn,suôn sẻ,bình lặng,…
*Với T.Kiều:
- Vẫn những câu mở đầu mang ý khái quát (Kiều càng sắc sảo mạn mà,so bề tài
sắc lại là phần hơn).Kiều đẹp hơn Vân cả hai phương diện tài và sắc (chú ý các từ sắc
sảo,mặn mà .).Sắc sảo nói về trí tuệ,mặn mà nói vvè tâm hồn .
* Gợi ý :
HS viết được các ý cụ thể :
- Tả chị em Thuý Kiều, Nguyễn Du sử dụng bút pháp ước lệ tượng trưng, lấy vẻ đẹp
của thiên nhiên để so sánh với vẻ đẹp của con người :
+ Thuý Vận : Đoan trang, phúc hậu, quý phái : hoa cười, ngọc thốt, mây thua nước
tóc, tuyết nhường màu da.
+ Thuý Kiều : Sắc sảo mặn mà, làn thu thuỷ, nét xuân sơn, hoa ghen liễu hờn.
- Dùng lối ẩn dụ để ví von so sánh nhằm làm nổi bật lên vẻ đẹp đài các của hai cô
gái mà qua đó, nhà thơ muốn đề cao vẻ đẹp của con người.
- Thủ pháp đòn bẩy, tả Vân trước, Kiều sau cũng là một bút pháp tài hoa của
Nguyễn Du để nhấn vào nhân vật trung tâm : Thý Kiều, qua đó làm nổi bật vẻ
đẹp của nàng Kiều cùng những dự báo về nỗi truân chuyên của cuộc đời nàng
sau này.
CẢNH NGÀY XUÂN
(Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du)
I. Đọc và tìm hiểu văn bản
1. Đọc
2.Vị trí đoạn trích
Đoạn trích nằm ở phần đầu (phần 1) của tác phẩm.
3.Bố cục
Có thể chia đoạng trích làm 3 phần.
- Bốn câu đầu: Gợi khung cảnh ngày xuân
- Tám câu tiếp: Gợi tả khung cảnh lễ hội trong tiết thanh minh.
- Sáu câu cuối: Cảnh chị em Kiều du xuân trở về.
II. Đọc, tìm hiểu văn bản
1. Khung cảnh ngày xuân
Vừa giới thiệu thời gian, vừa giới thiệu không gian mùa xuân. Mùa xuân thấm thoắt trôi
mau như thoi dệt cửi. Tiết trời đã bước sang tháng 3, tháng cuối cùng của mùa xuân
(Thiều quang: ánh sáng đẹp, ánh sáng ngày xuân).
Ngày xuân: Lễ tảo mộ(đi viếng và sửa sang phần mộ người thân).
Hội đạp thanh (giẫm lên cỏ xanh): Đi chơi xuân ở chốn làng quê.
Gần xa nô nức yến anh
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân
Dập dìu tài tử giai nhân
Ngựa xe như nước áo quần như nêm
Ngổn ngang gò đống kéo lên
Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay
- Các danh từ (yến anh, chị em, tài tử, giai nhân…): gợi tả sự đông vui nhiều người
cùng đến hội.
- Các động từ (sắm sửa, dập dìu…): thể hiện không khí náo nhiệt, rộn ràng của ngày
hội.
- Các tính từ (gần xa, nô nức…): làm rõ hơn tâm trạng người đi hội.
Cách nói ẩn dụ gợi hình ảnh từng đoàn người nhộn nhịp đi chơi xuân như chim én,
chim oanh ríu rít, vì trong lễ hội mùa xuân, tấp nập, nhộn nhịp nhất vẫn là nam thanh
nữ tú (tài tử, giai nhân).
3. Cảnh chị em Kiều du xuân trở về
Điểm chung: vẫn mang nét thanh dịu của mùa xuân.
Khác nhau bởi thời gian, không gian thay đổi (sáng - chiều tà; vào hội - tan hội).
- Những từ láy “tà tà, thanh thanh, nao nao” không chỉ dừng ở việc miêu tả cảnh vật
mà còn bộc lộ tâm trạng con người. Hai chữ “nao nao” “thơ thẩn” gợi cảm giác, cảnh
vật nhuốm màu tâm trạng.
Thiên nhiên đẹp nhưng nhuốm màu tâm trạng: con người bâng khuâng, xao xuyến về
một ngày vui sắp hết, sự linh cảm về một điều sắp xảy ra.
Cảm giác nhộn nhịp, vui tươi, nhường chỗ cho nỗi bâng khuâng, xao xuyến trước lúc
chia tay: không khí rộn ràng của lễ hội không còn nữa, tất cả nhạt dần, lặng dần.
25