Thực trạng trẻkhó học ởcác trường tiểu học trên ñịa bàn Quận Liên Chiểu TP Đà Nẵng - Pdf 27



1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn ñề tài
Vào thời ñiểm hiện nay, các nhà nghiên cứu cho thấy trên thực tế có
những trẻ bộc lộ những khó khăn nghiêm trọng về khả năng viết, tập ñọc, và
hoạt ñộng tính toán, mặc dù trí tuệ của những trẻ này ñều ở mức bình thường
và không gặp khó khăn lớn về các kỹ năng sống trong nhà trường và ngoài xã
hội. Các nhà nghiên cứu gọi những trẻ này là trẻ khó học (learning
disabilities). Trẻ khó học không hiện diện trước chúng ta với những khuyết
tật, khó khăn hay thiệt thòi, bất lợi “nhỡn tiền” như trẻ khiếm thị, khiếm
thính. Trẻ có thể lực bình thường, có thể tham gia các trò chơi với các trẻ
khác trong trường hay ngoài xã hội và không có vấn ñề gì về khả năng nói, thị
giác hay thính giác. Do ñó ñại ña số mọi người ñều cho rằng nó không hề có
khuyết tật nào cả và không cần bất kỳ sự trợ giúp nào. Đa số thường nhầm lẫn
trẻ khó học với trẻ chậm phát triển hoặc coi là thiếu ý thức, ñộng cơ học tập…
- nguyên nhân mà cha mẹ, thầy cô la mắng bằng những ngôn từ như “chậm
chạp; lười biếng; bướng bỉnh; ngu ngốc”, thậm chí là “vô dụng”.
Theo Hiệp hội quốc gia về trẻ khó học của Hoa Kỳ thì ở Mỹ có khoảng
10% trẻ khó học, trên toàn thế giới có khoảng 20 % trong số trẻ ñi học. Ở Việt
Nam hiện nay ñã triển khai một số ñề tài và dự án ñể tầm soát phát hiện, giúp
ñỡ trẻ như thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Trị,...Tuy nhiên, ở Đà Nẵng chưa
có ñề tài nào nghiên cứu ñể tìm hiểu thực trạng trẻ khó học ở tiểu học. Do ñó,
ñây là một trong những vấn ñề ñang cần quan tâm hiện nay.
Xuất phát từ những ñiều nêu trên, chúng tôi chọn ñề tài: “Thực trạng
trẻ khó học ở các trường tiểu học trên ñịa bàn Quận Liên Chiểu TP Đà
Nẵng” làm khoá luận tốt nghiệp.
2. Mục ñích nghiên cứu

3

- Địa bàn nghiên cứu: Đề tài do ñiều kiện và khả năng nên chúng tôi chỉ tiến
hành trên khách thể là học sinh tiểu học ở hai trường tiểu học Hải Vân và
Hồng Quang trên ñịa bàn Quận Liên Chiểu.
- Nội dung nghiên cứu: nghiên cứu 3 loại trẻ khó học (khó ñọc, khó viết, khó
tính toán).
- Phương pháp nghiên cứu: do ñiều kiện chủ quan (thời gian, khả năng của
bản thân) nên trong luận văn này chỉ tầm soát trẻ khó học, còn việc chẩn ñoán
và can thiệp trẻ khó học cần có sự giúp ñỡ của các chuyên gia như chuyên gia
tâm thần nhi khoa, chuyên gia tâm lý giáo dục, dược sĩ….
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu cơ sở lý luận thông qua thu thập, xử lý, khái quát hoá
những thông tin, những nghiên cứu thuộc các vấn ñề có liên quan tới ñề tài
của các tác giả trong và ngoài nước. Thông qua nghiên cứu lí luận ñể làm
sáng tỏ khái niệm cơ bản của ñề tài ñây là cơ sở khoa học trong việc nghiên
cứu thực tiễn.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1. Bảng sàng lọc của giáo viên
- Mục ñích: bảng sàng lọc trẻ khó học dành cho giáo viên nhằm phát hiện
những dấu hiệu cơ bản của trẻ khó học trong số học sinh bình thường trong
các lớp ở tiểu học từ lớp 1 ñến lớp 5.
- Nội dung: Bảng sàng lọc trẻ khó học gồm 3 lĩnh vực trẻ gặp khó khăn gồm
có: khó khăn trong kĩ năng ñọc, khó khăn trong kĩ năng viết, khó khăn trong
làm toán.
Trong lĩnh vực trẻ khó khăn trong kĩ năng ñọc bao gồm 7 yếu tố:
+ Khó khăn khi học các chữ cái
5

- Mục ñích: sau khi sàng lọc trẻ khó học thông qua giáo viên, chúng ta kiểm
tra bảng anket dành cho các bậc phụ huynh ñề kiểm tra xem cha mẹ có phát
hiện ra trẻ có những dấu hiệu trên hay không. Và bảng ankét này cũng nhằm
giúp các bậc phụ huynh có những nhận thức về tương lai của trẻ và có thái ñộ
phù hợp với trẻ.
- Nội dung của bảng sàng lọc của phụ huynh bao gồm 4 câu hỏi:
Câu 1 và câu 2: Tìm hiểu nhận thức của cha mẹ của trẻ có dấu hiệu của
khó học về dấu hiệu và nguyên nhân.
Câu 3 và câu 4: Tìm hiểu nhận thức của cha mẹ của trẻ có dấu hiệu của
trẻ khó học về thái ñộ và ñịnh hướng tương lai cho trẻ.
7. Cấu trúc luận văn
Gồm các phần sau:
- Mở ñầu
- Nội dung:
Chương 1: Cơ sở lý luận về trẻ khó học ở tiểu học
Chương 2: Thực trạng trẻ khó học ở tiểu học trên ñịa bàn quận Liên Chểu
TP Đà Nẵng
Chương 3: Đề xuất một số biện pháp giúp ñỡ trẻ khó học
- Kết luận và khuyến nghị
- Danh mục tài liệu tham khảo
- Phụ lục

7

Đến thập niên 1950, nghiên cứu của Cruickshank ở các nhóm kém nhận
thức, kém tập trung, rối loạn ñiều hòa vận ñộng và hay bùng nổ và thấy có
chung mô tả rối loạn chức năng não tối thiểu (Minimal Brain Dysfunction)
nhưng không có bằng chứng rõ ràng nào về thần kinh.
Trước thập niên 1960, xuất hiện khái niệm tổn thương não chức năng
và kém trưởng thành. Trong năm 1960, “Rối loạn chức năng tối thiểu của
não” ñược ñặt ra ñể mô tả những trẻ em có những khó khăn về sự phát triển
hành vi và phối hợp vận ñộng hoặc hành ñộng nói.
Trong thập niên 1970, người ta tập trung vào sự kém tập trung ở trẻ
nghĩ có tổn thương chức năng não tối thiểu. Gần ñây, cộng hưởng từ và khám
tâm lý thần kinh và trắc nghiệm về ngôn ngữ học soi sáng cơ chế hoạt ñộng
của não về các ñiều kiện này.
Ở Việt Nam, chỉ có một số ñề tài nghiên cứu vấn ñề về trẻ khó học. Lần
ñầu tiên trẻ khó học ñược ñề cập tới vào năm 1993. Đề tài cấp bộ “Đặc ñiểm
sinh lý trẻ chưa chín muồi tới trường” của Viện Tâm lý học sinh lứa tuổi
thuộc Viện Khoa học giáo dục Việt Nam do GS. Trần Trọng Thủy làm chủ
nhiệm, ñã phát hiện ra loại trẻ này trong các học sinh tiểu học ñầu cấp I và
bước ñầu phân tích nguyên nhân, ñề xuất phương pháp dạy học chỉnh trị cho
học sinh này.
Từ nghiên cứu tổng quan về vấn ñề trẻ khó học chúng ta thấy, ở nước
ngoài trẻ khó học ñược quan tới từ rất lâu và việc chẩn ñoán cũng như can
thiệp ñã trở thành một lĩnh vực có nhiều chuyên gia. Ở Việt Nam, trẻ khó học
chưa ñược quan tâm nhiều vì vậy trẻ khó học ñang chịu nhiều thiệt thòi.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Hoạt ñộng học của học sinh tiểu học
Để phát triển trí tuệ, tâm lý, nhân cách của mình trẻ phải lĩnh hội nền
văn hoá xã hội loài người ñược kết tinh từ văn hoá vật chất và văn hoá tinh

trẻ không học hết bậc tiểu học.
1.2.2. Khái niệm trẻ khó học 9

Trẻ khó học có nhiều thuật ngữ khác nhau như: rối loạn học tập
(Learning Disorder/DSM- IV), khác biệt học tập (Learning Difference), khó
khăn học tập (Learning Difficulty), rối loạn ñặc hiệu về sự phát triển các kỹ
năng ở nhà trường (Specific Developmental Disorders Of Scholastic Skills –
SDSS/ICD- 10). Nhưng hiện nay thuật ngữ trẻ khó học (Learning Disabilities
- LD) ñã trở thành thuật ngữ sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới.
Trẻ khó học là những trẻ gặp khó khăn về khả năng nghe, suy nghĩ, nói,
ñọc, viết, ñánh vần, làm toán mặc dù trí tuệ và kĩ năng sống của trẻ vẫn bình
thường, nguyên nhân gây ra không phải là do các khiếm khuyết như khiếm
thị, khiếm thính, khiếm khuyết vận ñộng, chậm phát triển tâm thần, rối loạn
cảm xúc, bất lợi về môi trường văn hóa và kinh tế mà do những tổn thương
bên trong não gây ra.
Trí tuệ của trẻ khó học ở mức trung bình hoặc trên trung bình một chút
ít khi chúng ta dùng các trắc nghiệm trí tuệ ñể khảo sát. Tuy nhiên học sinh
này không có khó khăn lớn về các kĩ năng sống trong nhà trường và ngoài xã
hội. Trẻ có thể lực bình thường, có thể tham gia các trò chơi với các trẻ khác
trong trường, hàng xóm, láng giềng, hay ngoài xã hội. Khả năng giao tiếp với
bạn bè thầy cô những người xung quanh giống như trẻ bình thường ñôi khi
mọi người còn cho rằng trẻ này “láu cá”
Các khiếm khuyết như khiếm thị, khiếm thính hoặc chậm phát triển trí
tuệ cũng gây ra những khó khăn về học. Những trẻ này mọi người dễ nhận
thấy thông qua các biểu hiện bên ngoài và khi quan sát lâm sàng chúng ta có
thể nhận ra và có thể can thiệp sớm ngay nếu có. Còn ñối với trẻ khó học,
những biểu hiện khiếm khuyết nó không hiện rõ ràng như những trẻ trên mà

gặp vấn ñề thị giác ở chỗ thứ tự các chữ cái hoặc khó khăn với thính giác khi
nghe lời của giáo viên giảng bài mà không thể xử lý kịp các thông tin mà giáo
viên cung cấp trong thời gian cùng lúc.
- Khâu phối hợp: Khi các thông tin ñược tiếp nhận qua các giác quan
thì nó trở thành nguồn dữ liệu cảm giác, tri giác ñược hiểu theo một cách
riêng của trẻ ñều ñược giải mã, ñược phân loại ở ñịa ñiểm liên tiếp hoặc liên 11

quan tới một quá trình học tập trước ñó. Trẻ khó học không thể nhớ những
thông tin liên tiếp như những ngày trong tuần, có thể hiểu ñược khái niệm
mới nhưng không thể tổng quát nó tới vùng khác trong công việc học tập hoặc
có thể học ñược nhưng không thể ñặt những sự kiện ñó cùng nhau nhìn như
một “bức tranh lớn”.
- Khâu tích trữ hay ghi nhớ: Ghi nhớ các vấn ñề có thể xảy ra trong một
thời gian ngắn hoặc kỉ niệm ñang làm việc hoặc trong thời gian dài.
- Khâu truyền thông tin: Khâu cuối cùng bộ não phải gửi thông tin quay
trở lại hệ thần kinh và cơ thể. Bộ não sẽ gửi thông tin ra ngoài thông qua từ
(ngôn ngữ hay lời nói) hoặc thông qua các hoạt ñộng của cơ thể như viết, vẽ,
cử chỉ, (ñộng tác cử chỉ phi ngôn ngữ). Việc không có khả năng tiếp thu kiến
thức bằng ngôn ngữ dựa trên ngôn ngữ sẽ gây trở ngại ñến khả năng ñọc,
ñánh vần, viết ở ñộ tuổi tương ứng của trẻ. Tuy nhiên, những khuyết tật này
không làm suy giảm trí thông minh của trẻ. Thường trí tuệ của trẻ từ mức
trung bình trở lên.
Đối với học sinh tiểu học, hoạt ñộng học tập là hoạt ñộng ñóng vai trò
chủ ñạo trong sự phát triển nhận thức và nhân cách của các em. Các em dành
một lượng thời gian lớn ñể tiến hành hoạt ñộng học tập tại lớp. Việc phát triển
các kĩ năng ñọc, viết, tính toán là nhiệm vụ trọng tâm ñối với mỗi học sinh ở
bậc tiểu học. Vì vậy, ñây là giai ñoạn dễ phát hiện ra trẻ thông qua các biểu

1.3. Một số vấn ñề về trẻ khó học ở tiểu học
1.3.1. Đặc ñiểm chung trẻ khó học ở tiểu học
Mỗi một trẻ khó học thì có ñặc ñiểm riêng ñặc trưng. Một học sinh bị
hạn chế, khó khăn trong lĩnh vực này nhưng lại có khả năng trong lĩnh vực
khác. Khi các ñặc ñiểm ñó tác ñộng qua lại lẫn nhau sẽ tạo nên những nét tính
cách riêng của từng học sinh. Vì thế, việc xác ñịnh ñặc ñiểm biểu hiện của
những trẻ khó học ñòi hỏi cần có thời gian và công sức. Trong thực tế, có 13

nhiều trường hợp trẻ có nhu cầu ñặc biệt cũng có những biểu hiện giống như
trẻ khó học như trẻ ADHD, ADD, PDD…
1.3.1.1.Khả năng nhận thức
* Khả năng ghi nhớ
Dựa trên những ñặc ñiểm của trí nhớ mà người ta phân biệt ñược học
sinh khó học với những học sinh bình thường. Những trẻ khó học thường khó
nhớ ñược các thông tin thông qua tri giác thị giác và thính giác. Những trẻ
khó học thường có những biểu hiện rối loạn trí nhớ mô thức – chuyên biệt
ñược biểu hiện ở các khuyết tật về thao tác ghi nhớ và hồi tưởng. Ví dụ như
các học sinh thường quên ñánh vần các từ, các cách làm toán cho dù giáo viên
ñã hướng dẫn rất tỉ mỉ trong các tiết học trước và ñã thực hiện thành thạo kiến
thức ñó. Trí nhớ của trẻ này thường có ñặc ñiểm sau:
- Không chủ ñộng sử dụng những thủ thuật ghi nhớ mà học sinh bình
thường hay sử dụng. Ví dụ ñể học thuộc các thông tin của bài học, những học
sinh bình thường sẽ chủ ñộng ñưa ra các thủ thuật giúp mình ghi nhớ tốt hơn
như: xếp chúng thành một nhóm, ñặt ra các ñiểm mốc quan trọng, gắn nó với
ñặc ñiểm.
- Thường gặp khó khăn trong ghi nhớ các sự kiện vì vốn từ của học
sinh bị hạn chế. Các học sinh không thể nhớ ñược ñầy ñủ các thông tin ñó khi

* Những vấn ñề học tập
Mọi trẻ khó học có vấn ñề về học tập ở các mức ñộ rất khác nhau. Các
học sinh này có thể học kém một số môn hoặc tất cả các môn học. Nhưng ñặc
ñiểm thể hiện rõ nhất trong quá trình học tập của những học sinh này là
thường gặp khó khăn trong những kĩ năng cơ bản như kĩ năng ñọc, kĩ năng
viết, kĩ năng tính toán.
- Hầu hết các trẻ khó học ñều có kết quả học tập kém ñặc biệt là ñiểm
số thấp so với các bạn trong lớp ñặc biệt là những môn mà trong ñó hình 15

thành cho học sinh tiểu học những kỹ năng học tập cơ bản như ñọc, viết, tính
toán trong các môn tập ñọc, chính tả, tập làm văn, toán.
- Các kĩ năng chuyên biệt trong học tập của trẻ khó học có thể giảm sút
nếu không ñược giáo dục trong một môi trường phù hợp. Điều này ñược thể
hiện rõ ở những trẻ khó học ở những năm học cuối cấp tiểu học.
- Trẻ khó học thường không có khả năng học các môn học sử dụng các
kỹ năng cơ bản. Những học sinh khó học gặp khó khăn trong kỹ năng cơ bản
sau:
Khả năng ñọc
Trong nhà trường tiểu học khả năng ñọc là một kỹ năng cơ bản và là kĩ
năng quan trọng nhất trong học tập của học sinh ở tiểu học. Nếu em học sinh
nào ñó ñọc kém thì khó có thể xếp loại trẻ ñó ở học lực trung bình. Thông
thường trẻ 6 tuổi mới ñủ ñiều kiện về sinh lý và tâm lý ñể ñọc. Tuy nhiên
những trẻ có biểu hiện ñọc kém thường xuất hiện trước 5 tuổi. Nhưng cho ñến
6 tuổi tức là khi trẻ ñi học tiểu học thì người ta mới xác ñịnh ñược ñúng mức
ñộ ñọc kém của các em từ ñọc kém ñến mù ñọc.
Những trẻ khó học thì khả năng ñọc của trẻ rất kém cho dù trẻ nhận
ñược sự hướng dẫn giống như các bạn cùng lớp. Những học sinh này thường

khăn trong kỹ năng viết ñược thể hiện trong vài ñặc ñiểm sau:
- Kém hơn hẳn so với các bạn cùng lớp về: tốc ñộ viết, cách trình bày
bài viết, bài viết thường mắc nhiều lỗi chính tả, lỗi sử dụng dấu chấm câu và
lỗi ngữ pháp.
- Rất hạn chế trong việc hoàn thành bài tập làm văn: học sinh mắc rối
loạn này thường sử dụng rất ít từ ngữ, từ ngữ không linh hoạt, không biết các
thủ thuật ñể diễn tả và trình bày bài văn một cách hiệu quả.
Khả năng tính toán 17

Trẻ khó học gặp khó khăn trong kỹ năng tính toán. Điều này thể hiện
rất rõ khả năng nhận dạng con số, tính toán, sử dụng tư duy vào quá trình giải
bài toán ñố. Trẻ khó học có thể học kém toán nhưng có thể học khá môn tiếng
việt.
1.3.1.2. Đặc ñiểm về xã hội cảm xúc
Nhà trường và gia ñình luôn kỳ vọng nhiều vào kết quả học tập của các
em. Nhiều học sinh cho dù cố gắng bằng nhiều cách nhưng kết quả học tập
không tốt khiến các em trở nên buồn chán, chán nản, suy giảm ñộng cơ học
tập, và có nhiều hành vi có vấn ñề. Trong ñó có một số em còn mất niềm tin
vào chính bản thân mình và người khác, nảy sinh tâm lý tự ti, coi thất bại của
mình là ñiều ñương nhiên. Các em tự lý giải nguyên nhân là do mình thiếu
khả năng về mọi mặt. Trẻ khó học thường có mức ñộ tâm lý không ổn ñịnh từ
cấp ñộ nhẹ tới nghiêm trọng. Hầu hết những trẻ khó học không ñạt mức ñộ
thích nghi về tâm lý. Tuy nhiên thực tế cho thấy không có một ñặc ñiểm hay
công thức chung về các biểu hiện của tính cách, sự thích nghi về mặt tâm lý,
năng lực xã hội, khả năng tự hiểu mình. Trẻ tự ñánh giá mình thấp trong nhận
thức và trong học tập do bị rối loạn các kỹ năng cơ bản phục vụ cho quá trình
nhận thức và học tập. Trong khi ñó hầu hết các em ñều có trí tuệ bình thường

các vùng não cấp III trước và sau gọi là vùng mái nơi tiếp giáp với 3 thuỳ:
trán – ñỉnh – thái dương (nếu là vùng trước); tiếp giáp với 3 vùng: ñỉnh - thái
dương – chẩm (nếu là vùng phía sau) (Xem A.R Luria: Cơ sở tâm lý học thần
kinh và các sơ ñồ não của Brôtman). Vùng não cấp III là vùng vỏ phát triển
cuối cùng trong tiến trình phát triển.
- Tổn thương vùng phía trước, trên dưới vỏ não và hai bán cầu: tổn
thương này gây ra cho trẻ có biểu hiện chung về kết quả học tập là kém môn
toán trong ñó khó khăn nhất là giải các bài tập trí tuệ. Thao tác cụ thể biểu
hiện rối loạn theo hội chứng vùng trán. 19

Xét về mặt chức năng, chậm phát triển vùng trán não bộ sẽ làm cấu trúc
hoạt ñộng trong ñó có hoạt ñộng trí tuệ mất tính hệ thống, các hành ñộng trí
tuệ bị sắp xếp lộn xộn. Trong cấu trúc hoạt ñộng, khâu yếu nhất là cơ sở
hướng hành ñộng có biểu hiện rối loạn và theo cơ chế khác nhau:
a . Kém bền vững, mất tập trung sao lãng chú ý
b. Khả năng luân chuyển thao tác hành ñộng kém
c. Quá trình xây dựng kế hoạch hành ñộng trên cơ sở hoạt ñộng ñịnh
hướng bị rối loạn, mất khả năng kiểm tra và kiểm soát hành ñộng diễn ra.
Các cơ chế trên bị rối loạn tuỳ thuộc vào các diện và các thuỳ chậm
phát triển khác nhau:
+ Nếu vùng chậm phát triển là vùng trán vỏ phía trước thì học toán kém
thường do nguyên nhân c chính gây nên. Việc luân chuyển chậm các thao
tác… ở vùng này xuất hiện và có nét ñặc thù riêng khác với chậm luân chuyển
các thao tác do phát triển các vùng trán ñỉnh.
+ Nếu vùng phát triển thuộc vùng nền não, trán giữa thì kết quả học
kém thường do nguyên nhân a là chính gây nên.
Song một cách chắc chắn có thể khẳng ñịnh là chậm phát triển vùng

chụp các lớp não. Các bác sỹ phải sử dụng các bài kiểm tra tâm lý học thần
kinh ñể xác ñịnh chức năng của não bộ hoặc ñể xác ñịnh xem liệu các chức
năng ñó có bị thiếu hụt hay không.
Tổn thương não bộ do nhiều nguyên nhân như do di truyền, nhiễm
trùng trong thời gian mang thai và thời kì trẻ sơ sinh, hoặc do não bị tổn
thương và nhiễm ñộc chì và các chất lạm dụng.
1.3.2.2. Một số trở ngại tâm lý theo lứa tuổi
- Trẻ chưa sẵn sàng tâm lý cho việc học tập ở trường:
Sự thống nhất của các ñặc ñiểm tâm lý của chủ thể ñảm bảm sự khởi
ñầu học tập có kết quả trong nhà trường. Những trẻ chưa sẵn sàng tâm lý gây 21

ra những khó khăn. Trong ñó có hai dạng chuẩn bị tâm lý cho việc học tập
trong nhà trường: riêng biệt và chung.
Trong trường hợp thứ nhất các chỉ số cá nhân ñược xem xét chủ yếu
thiên về sự phát triển trí tuệ và vận ñộng ñược so sánh với những chuẩn lứa
tuổi ñã ñược ñưa ra trong các ño ñạc ñại trà. Nếu chỉ số cá nhân không thấp
hơn giới hạn cuối cùng thì ñứa trẻ sẵn sàng ñối với việc học tập tại trường.
Với tư cách là một chỉ số của sự sẵn sàng riêng biệt có thể sử dụng các chỉ số
thành tích theo chương trình mẫu giáo: tính toán trong phạm vi cộng trừ 10,
tốc ñộ ñọc….
Độ tin cậy mang tính dự báo không ñầy ñủ của các ño ñạc sự sẵn sàng
riêng biệt buộc phải chú ý tới sự sẵn sàng về mặt nhân cách nói chung, ñược
hiểu là một trình ñộ cần thiết của sự phát triển tâm lý chung, ñược quy ñịnh
bởi sự phát triển ñầy ñủ ở trẻ trước tuổi ñi học. Thuộc các chỉ số của sự sẵn
sàng chung có ñặc ñiểm của tính chủ ñịnh của hoạt ñộng, sự hình thành giao
tiếp với người lớn và bạn cùng tuổi, sự phát triển hành vi có tính nguyên tắc,
tính sẵn sàng hợp tác với giáo viên trong công việc, thái ñộ tích cực ñối với

1.3.3.1.Trẻ khó học ñọc
Trẻ khó học gặp khó khăn trong kỹ năng ñọc gọi là trẻ khó học ñọc. Trẻ
khó học ñọc là một trong những khó khăn ñặc trưng nổi bật của trẻ khó học.
Trẻ khó học ñọc ảnh hưởng tới sự phát triển một số kỹ năng ngôn ngữ.
Theo nhiều nghiên cứu, thông thường trẻ em sau 6 tuổi mới ñủ ñiều
kiện sinh lý và tâm lý ñể học ñọc:
- Tri giác mắt thấy tai nghe, ñủ sức ñịnh hướng không gian, ñặc biệt
phân biệt rõ phải trái, mới có thể nhận ra các chữ cái, các âm giống nhau,
nhận ra nhịp ñiệu ñơn giản ví dụ phân biệt b và q, c và o….
- Có vốn từ vựng khá ñể hiểu nội dung những câu, những từ khi ñọc.
Nếu trẻ chưa ñủ các ñiều kiện trên thì dạy ñọc gặp rất nhiều khó khăn tốn
công vô ích.
Để ñọc cho ñúng một ñứa trẻ phát triển cần hai quá trình nguyên vẹn.: 23

- Trẻ cần học phát âm những từ chưa biết bằng cách tách ra thành các
chữ cái riêng lẻ sau ñó ghép chúng thành một từ như trước. Việc này xem như
tập phát âm hoặc kỹ năng về ngữ âm.
- Trẻ cần phát triển kỹ năng nhìn những phần khác nhau của chữ hoặc
toàn bộ một từ do những chữ ñó ghép lại. Khi nghe một chữ, trẻ phải vận
dụng hình ảnh thấy ñược của chữ ñó trong óc. Với cách này trẻ phát triển hợp
nhất các chữ cái ñược nghe với cái ñược thấy ñể tiềm thức của trẻ thêm vào
vốn từ. Một từ ñược học ñi học lại cuối cùng cũng ñược gửi vào vốn từ nhìn
thấy của trẻ và sẽ ñược ñọc liền ngay khi trẻ nhận ra nó. Tất nhiên ñây là ñòi
hỏi cần thiết trước khi trẻ có kỹ năng ñánh vần với tầm quan trọng của nó.
Trẻ khó học ñọc là khó khăn trong xử lý ngữ âm, gọi tên, tốc ñộ ñọc.
Trẻ khó học ñọc do rối loạn ngôn ngữ trí nhớ - thị giác xuất hiện khi tổn
thương các vùng sau – dưới của vỏ thái dương: diện 21, 37 và một phần của

cứ vào 3 tiêu chí trên: tốc ñộ ñọc thành tiếng thấp hơn so với chuẩn tối thiểu(
lớp trẻ ñang theo học); số lỗi ñọc sai nhiều; khả năng hiểu văn bản còn hạn
chế. Trong ñó chuẩn tốc ñộ ñọc thành tiếng: Lớp 1- 30 tiếng/phút; lớp 2 - 50
tiếng/phút; lớp 3 -70 tiếng/phút; lớp 4 - 90 tiếng/phút; lớp 5 - 100 tiếng/phút.
Dưới ñây là một số dấu hiệu ñể nhận biết trẻ khó học ñọc ở các lớp trên :
+ Không ñọc ñược (mù ñọc)
+ Đọc vẹt (bắt chước lại một cách máy móc ñọc bài của cô và bạn mà
không nhìn vào chữ)
+ Đọc ñược có những hạn chế sau:
a. Tốc ñộ ñọc chậm hơn hẳn so với các bạn cùng lớp
b. Mắc nhiều lỗi sai khi ñọc: không ñọc ñúng các từ trong bài ñọc;
không phân tích ñược từ thành âm và vần; thêm từ, bớt từ, thay từ, ñảo từ; bỏ
dòng lặp lại dòng khi ñọc; không biết ngắt hơi ở dấu phẩy và nghỉ hơi ở dấu
chấm.
c. Hiểu rất ít hoặc không hiểu nội dung bài ñọc
1.3.3.2. Trẻ khó học viết 25

Trẻ khó học gặp khó khăn trong kỹ năng viết thường gọi là trẻ khó viết.
Để viết ñòi hỏi sự kiểm soát tốt trong phối hợp ñộng tác chính xác tay và mắt
cũng như sự tiếp thu tiến trình từ trái sang phải trên trang giấy. Trẻ khó học
viết thường có kiểu cầm bút như ta thấy khỉ cầm cành cây, tức ngón cái nằm
ngoài ngón trỏ theo góc vuông. Trong nhiều trường hợp, tay trẻ bị run nhẹ
khiến cho việc giữ bút ở mức ñộ nào ñó gặp khó khăn. Toàn bộ khó khăn trên
ñưa ñến việc trẻ phải nắm bút cho thật chặt nhằm ñạt ñược sự kiểm soát nào
ñó và cũng ñể giữ ñược bút trên trang giấy ñể chấn chỉnh sự kiểm soát ấy. Do
ñó, thao tác trôi chảy của bút trên giấy bị hạn chế và chữ viết trở nên không tự
nhiên và không ñều. Nét chữ của trẻ không ñều nhau về kích thước từ lúc ñầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status