EXCHANGE RATE PASS-THROUGH
IN EMERGING MARKETS
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
Thuyết trình paper:
EXCHANGE RATE PASS-THROUGH IN EMERGINMARKETS
GVHD:
Page 1
EXCHANGE RATE PASS-THROUGH
IN EMERGING MARKETS
Danh sách thành viên
STT Họ tên Lớp Đánh giá quá trình
làm việc
1 Nguyễn Hữu Thịnh BH01 100%
2 Phạm Thị Thuỷ BH01 100%
3 Nguyễn Ngọc Trường BH01 100%
4 Nguyễn Hữu Phước NN5 90%
PHỤ LỤC
Phần 1. Mục tiêu nghiên cứu 3
Phần 2. Các nghiên cứu trước đây 5
Phần 3. Phương pháp nghiên cứu 12
Phần 4. Kết quả nghiên cứu 18
Phần 5. Sự thay thế 22
Phần 6.Kết luận 25
Phần 7.Phụ lục nguồn dữ liệu và các bảng dữ liệu 26
Page 2
EXCHANGE RATE PASS-THROUGH
IN EMERGING MARKETS
Tóm tắt:
Mục đích của bài nghiên cứu này là xem xét mức độ của sự chuyển dịch tỷ giá (ERPT) tới
giá cả tại 12 thị trường mới nổi ở châu Á, Mỹ Latinh, Trung và Đông Âu. Theo kết quả của
Những cú sốc tỷ giá được xác định bởi sự sắp xếp thích hợp các biến và việc áp dụng một
phương pháp đệ quy. Khi xếp thứ tự của các biến, tác giả tiến hành phân tích độ nhạy cho
thứ tự thay thế khác nhau của các biến. Tác giả đã ước lượng các mô hình so sánh với một
chuẩn mực của các nền kinh tế phát triển, cụ thể là khu vực đồng Euro, Hoa Kỳ và Nhật
Bản.
Kết quả của tác giả xác nhận ERPT suy giảm qua chuỗi giá cả, tức là ERPT tác động lên
giá tiêu dùng thấp hơn so với tác động lên giá nhập khẩu. Cũng có bằng chứng về ERPT
lên giá tiêu dùng thấp ở các nền kinh tế phát triển, đặc biệt trong trường hợp của Mỹ và
Nhật Bản. Trong nghiên cứu trước đây, ERPT tác động lên cả giá tiêu dùng và giá nhập
khẩu ở khu vực Châu Âu là hơi cao hơn so với ở Mỹ.
Phân tích của tác giả phần nào trái ngược với các thông lệ trước đây là ERPT của "các nền
kinh tế mới nổi" luôn luôn cao hơn "các nền kinh tế phát triển". Đối với các nền kinh tế
mới nổi có mức lạm phát là một con số (nhất là các nước châu Á trong mẫu của tác giả),
ERPT thấp và không mấy khác biệt so với mức độ hiện tại của các nền kinh tế phát triển.
Nói chung, nghiên cứu thừa nhận sự tương quan dương giữa mức độ ERPT và lạm phát,
phù hợp với giả thuyết của Taylor. Kết quả này chỉ trở nên rõ ràng sau khi loại trừ 2 nước
(Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ), vì những khó khăn áp dụng trong thực nghiệm liên quan đến
sự bất ổn nghiêm trọng kinh tế vĩ mô ở hai nước này. Cuối cùng, về mặt lý thuyết thì có
tương quan thuận giữa mở cửa nhập khẩu và ERPT, nhưng trên thực tế, tác giả chưa tìm
thấy những bằng chứng thực nghiệm vững chắc về vấn đề này.
Page 4
EXCHANGE RATE PASS-THROUGH
IN EMERGING MARKETS
1. Giới thiệu
Hai thập kỷ qua, một lượng lớn tài liệu kinh tế về ERPT đã được nghiên cứu. Bắt đầu từ
những quan điểm khác nhau, nghiên cứu thực nghiệm kiểm tra vai trò của ERPT ở các nền
kinh tế nhỏ và lớn. Các nghiên cứu đã được tiến hành ở các nước phát triển bao gồm:
Anderton (2003): “Extra-Euro Area Manufacturing Import Prices and Exchange Rate
Pass-Through”
• Sự dịch chuyển trong việc thay đổi tỷ giá có ảnh hưởng đến tỷ giá đồng euro tới
cùng một khung thời gian. Phần lớn biến động giá tiêu dùng được giải thích bởi
sự suy giảm trong biến động tỷ giá hối đoái.
• Những nước mà sự suy giảm trong giá cả nhập khẩu và biến động giá tiêu dùng
cũng tương đối lớn, cho thấy giảm biến động giá nhập khẩu có thể giải thích sự
thay đổi trong biến động giá tiêu dùng.
McCarthy (2000): “Pass-Through of Exchange Rates and Import Prices to Domestic
Inflation in Some Industrialized Economies”
• Kiểm định sự chuyển giá của các nhân tố bên ngoài vào lạm phát trong nước ở
một số nền kinh tế công nghiệp hóa.
• TGHĐ có ảnh hưởng không đáng kể đến lạm phát giá cả trong nước trong khi
giá nhập khẩu có tác động mạnh mẽ hơn.
• Sự chuyển dịch có mức độ lớn hơn ở những nước có nhập khẩu lớn và phụ thuộc
nhiều vào tỷ giá và giá nhập khẩu.
Ngoài ra còn có một nguồn tài liệu áp dụng cho các nền kinh tế mới nổi bao gồm:
Page 6
EXCHANGE RATE PASS-THROUGH
IN EMERGING MARKETS
Choudri và Hakura (2006): “Exchange Rate Pass-Through to Domestic Prices: Does
the Inflationary Environment Matter?”
• Sử dụng số liệu của 71 nước phát triển và mới nổi trong giai đoạn 1979 – 2000
để kiểm chứng mức độ của sự phá giá lên lạm phát.
• Mức độ chuyển dịch mạnh hay yếu phụ thuộc vào mức độ lạm phát ban đầu của
nước phá giá. Sự chuyển dịch yếu đối với nước có mức lạm phát ban đầu thấp và
cao đối với nước có mức lạm phát ban đầu cao.
Frankel và cộng sự (2005): “Slow Pass-Through Around the World: A New Import for
Developing Countries?”
• ERPT ở các nước đang phát triển là cao hơn và ở các nước phát triển là thấp
hơn.
• Trong thập niên 90, sự ảnh hưởng bởi ERPT này yếu đi đối với các nước đang
phát triển và được giải thích bởi những thay đổi trong môi trường tiền tệ.
thể như sau:
Dornbusch (1987): “Exchange Rates and Prices”
• Sự thay đổi của tỷ giá ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa.
• Nghiên cứu xem những lĩnh vực bị ảnh hưởng nhiều và những lĩnh vực bị ảnh
hưởng ít khi tỷ giá thay đổi.
• Sự thay đổi của tỷ giá làm cho các ngành công nghiệp bị ảnh hưởng mạnh.
• Dự đoán về sự di chuyển quốc tế của các công ty và sự mất cân bằng tỷ giá hối
đoái trong tương lai.
Burstein và cộng sự (2003): “Distribution Costs And Real Exchange Rate Dynamics
During Exchange-Rate-Based-Stabilizations”
• Nghiên cứu vai trò của các lĩnh vực phân phối trong việc hình thành hành vi của
tỷ giá hối đoái thực tế trong quá trình thay đổi tỷ giá.
• Chi phí phân phối là một trong những lý do tại sao PPP thất bại vì chi phí phân
phối thường không được coi là yếu tố quyết định quan trọng của RER.
Burstein và cộng sự (2005): “
Large Devaluations and the Real Exchange Rate”
Page 8
EXCHANGE RATE PASS-THROUGH
IN EMERGING MARKETS
Nguyên nhân chính đằng sau sự sụp đổ lớn trong tỷ giá hối đoái thực
xảy ra sau khi phá giá lớn là sự điều chỉnh giảm trong giá hàng hóa phi mậu dịch và
dịch vụ chứ không phải là sự thất bại của tương quan PPP đối với hàng hoá mậu dịch.
Việc sử dụng giá bán lẻ hàng hoá mậu dịch dẫn đến sự phóng đại các
phần nhỏ của sự suy giảm trong RER mà điều này là do sự thay đổi trong giá cả hàng
hoá mậu dịch qua các nước.
Một hướng khác của lập luận nhấn mạnh hơn vai trò của chính sách tiền tệ, bằng cách bù
đắp một phần những tác động của thay đổi tỷ giá lên giá (Gagnon và Ihrig, 2004).
Devereux và Engel (2001) và Bacchetta và Van Wincoop (2003) đã khám phá vai
trò của giá cả nội tệ trong việc giảm mức độ ERPT như sau:
Gagnon và Ihrig (2004): “Monetary Policy And Exchange Rate Pass-Through”
(2000) đã đưa ra giả thuyết độ nhạy giá cả đến sự biến động tỷ giá hối đoái phụ thuộc hoàn
toàn vào lạm phát. Lý do cho điều này liên quan đến sự tương quan dương giữa mức độ và
sự tồn tại lâu dài của lạm phát, kết hợp với mối quan hệ giữa sự tồn tại lâu dài của lạm phát
và sự chuyển dịch. Liên kết thứ hai có thể được nói rõ như sau: Càng lạm phát liên tục, thì
tỷ giá hối đoái càng ít biến động được hiểu là tạm thời và các công ty càng có thể đối phó
thông qua điều chỉnh giá.
Bằng chứng qua các nghiên cứu khác nhau đã ủng hộ toàn bộ giả thuyết của Taylor. SỰ
tương quan dương giữa mức độ chuyển dịch và lạm phát mạnh mẽ hơn, tuy nhiên, khi các
thị trường mới nổi được bao gồm trong mẫu được xem xét (xem riêng bảng dữ liệu bằng
chứng trong Choudhri và Hakura, 2006). Điều này có thể không ngạc nhiên, khi các tranh
luận của Taylor trở nên có ý nghĩa hơn cho tỷ lệ lạm phát cao.
Taylor (2000): “Low Inflation, Pass-Through, and the Pricing Power of Firms”
• Phá giá đồng tiền không phải lúc nào cũng gây ra lạm phát. Những nước có tỷ lệ
lạm phát thấp sẽ ít bị lạm phát sau khi phá giá.
Page 10
EXCHANGE RATE PASS-THROUGH
IN EMERGING MARKETS
• Với lạm phát ổn định ở mức thấp, khi doanh nghiệp định giá sản phẩm trước một
thời hạn nào đó sẽ định giá theo kỳ vọng là giá sẽ không biến đổi nhiều. Trong
môi trường lạm phát cao thì sự chuyển dịch này sẽ từ thấp thành cao vì doanh
nghiệp biết rằng lạm phát sẽ lên cao, do đó cũng sẽ định giá trước cho sản phẩm
cao theo.
Yếu tố quyết định quan trọng khác của ERPT từ một quan điểm lý thuyết là mức độ mở
cửa thương mại của một quốc gia. Hầu hết các kết nối tức thì giữa 2 biến là dương: Quốc
gia càng mở cửa giao thương, sự biến động tỷ giá hối đoái chuyển dịch vào CPI thông qua
giá nhập khẩu càng nhiều. Tuy nhiên, bức tranh trở nên phức tạp hơn khi tác giả đưa vào
nghiên cứu rằng lạm phát có thể tương quan âm với sự mở cửa, như thực nghiệm phát hiện
bởi Romer (1993).
Romer (1993): “Openness and Inflation: Theory and Evidence”
• Mối quan hệ giữa mở cửa và lạm phát sẽ mạnh hơn trong các quốc gia có chính trị bất
mà tiêu biểu cho thách thức chủ yếu cho các dữ liệu sẵn có và chất lượng cho các nước thị
trường mới nổi. Điều này cũng đã giúp tác giả đáp ứng những yêu cầu của một hệ thống
phương pháp nghiên cứu dựa trên số lượng biến tương đối cao để cho phép xem xét động
lực đủ phong phú và để tránh sự thiên lệch biến bị bỏ sót.
Sau khi tác giả sử dụng những kết quả của các quốc gia tác giả xem xét để nghiên cứu các
thông lệ trước đây rằng ERPT ở thị trường mới nổi cao hơn trong nền kinh tế công nghiệp
hóa và nghiên cứu các mô hình sự chuyển dịch tỷ giá trong mối tương quan của chúng,
trích dẫn theo McCarthy (2000) và Choudhri và Hakura (2006). Dù ERPT cao hay không
Page 12
EXCHANGE RATE PASS-THROUGH
IN EMERGING MARKETS
cao ở thị trường mới nổi có đặt thành vấn đề để xác định cán cân thương mại cũng như sự
lựa chọn chế độ tỷ giá của một quốc gia. Mức độ tương đối cao của sự chuyển dịch cho các
nước đang phát triển cũng đã được xem như là một nhân tố cơ bản chứng minh rõ ràng
"khuynh hướng tránh dao động tỷ giá" của các nước đang phát triển. Nó cũng có ý nghĩa
bởi vì sự chuyển dịch thấp ở thị trường mới nổi có thể khiến năng lực thị trường của các
công ty ở những quốc gia này gia tăng không ngừng, như là xu hướng toàn cầu hoá. Tuy
nhiên, những quốc gia thị trường mới nổi bộc lộ những nét đặc trưng quan trọng gây khó
khăn trong việc ước lượng ERPT. Một số nước châu Á thường xuyên theo đuổi các chính
sách tích cực nhằm kiểm soát tỷ giá hối đoái. Các quốc gia Trung và Đông Âu đã trải qua
một sự chuyển biến căn bản nền kinh tế của họ trong những năm 1990. Cuối cùng, Thổ Nhĩ
Kỳ và các nước Mỹ Latinh đã trải qua những bất ổn kinh tế vĩ mô mạnh được đặc trưng bởi
tỷ lệ lạm phát rất cao và / hoặc biến động tỷ giá và lãi suất mạnh.
Kết quả của tác giả chỉ hỗ trợ một phần quan điểm phổ biến rằng mức độ ERPT ở thị
trường mới nổi cao hơn ở các nước phát triển (sử dụng như một chuẩn mực của Mỹ, khu
vực sử dụng đồng Euro và Nhật Bản). Cụ thể hơn, tác giả thấy rằng nền kinh tế mới nổi
lạm phát thấp (đặc biệt là nền kinh tế của các nước châu Á) sự chuyển dịch đến giá tiêu
dùng khá thấp. Liên quan đến vấn đề này, bài nghiên cứu ủng hộ toàn bộ giả thuyết của
Taylor, việc tìm kiếm bằng chứng về tương quan dương giữa sự chuyển dịch và lạm phát ở
những thị trường mới nổi. Mối liên kết này có ý nghĩa mang tính thống kê trên tất cả các
Điểm khởi đầu của phân tích, mô hình VAR 6 biến giống như của McCathay 2000 và Hahn
2003. Mô hình VAR cơ bản áp dụng cho các quốc gia khác nhau bao gồm :
- oil
t
: Chỉ số giá dầu.
- y
t
: biến đầu ra.
- e
t
: tỷ giá hối đoái.
- pim
t
: chỉ số giá nhập khẩu.
- cpi
t
: Chỉ số giá tiêu dùng.
- i
t
: lãi suất ngắn hạn.
Tỷ giá hối đoái và hai biến giá cả là những biến chính trong phân tích của tác giả.
Biến đầu ra và giá dầu để xem xét sự tác động đến mặt thực của nền kinh tế.
Biến lãi suất nhằm xem xét tác động của chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến sự chuyển dịch.
Trong mô hình cơ bản, các biến được sắp xếp theo thứ tự như trên.
Việc sử dụng một tiến trình được lặp đi lặp lại để nhận diện ra những cú sốc tác động đồng
thời đến những biến tương ứng và những biến xếp sau cùng, nhưng lại không có tác động
gì đến những biến đứng trước.
Do đó, dễ dàng để sắp xếp hầu hết các biến ngoại sinh, trong trường hợp này biến đầu tiên
là giá dầu. Vì vậy, những cú sốc của giá dầu ảnh hưởng đồng thời đến tất cả biến khác
EXCHANGE RATE PASS-THROUGH
IN EMERGING MARKETS
(Phụ lục mô tả chi tiết về nguồn gốc các dữ liệu, dòng đầu tiên trong Bảng 1 và 2 của mẫu
nghiên cứu).
Tóm lược về các điều kiện kinh tế vĩ mô của các thị trường mới nổi trong thời kỳ của mẫu
được thể hiện ở Bảng 1. Mức độ lạm phát trung bình thì tương đối thấp tại các quốc gia
Châu Á, đặc biệt là Đài Loan và Singapore. Cả hai quốc gia này đã quản lý nền kinh tế để
có được sự kết hợp hài hòa giữa tốc độ tăng trưởng GDP thực, tỷ lệ lạm phát thấp và chính
sách ổn định tỷ giá danh nghĩa có hiệu quả, cả về giá trị và độ bất ổn. Các quốc gia Trung
và Đông Âu cũng kết hợp đầu ra tăng trưởng cao vào khoảng 2-3% nhưng một tỷ lệ lạm
phát giảm. Đặc biệt hơn, tình trạng giảm phát xuất hiện sớm ở Cộng hòa Séc mặc dù nền
kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái và nó kéo dài cho đến những năm sau khi khủng hoảng
tài chính tiền tệ 1997 kết thúc. Quan sát bao quát tổng thể lại các mẫu, các quốc gia đã xảy
ra cùng lúc với nền kinh tế thị trường như Cộng hòa Séc, Hungary và Ba Lan không những
cho phép áp dụng một hệ thống định giá thực theo hiệu ứng Balassa - Samuelson theo một
quy trình thống nhất giữa các quốc gia mà còn mở rộng cho vay dưới chuẩn trong thời kỳ
đầu của việc tái cấu trúc.
Trong thời gian chọn mẫu, một số quốc gia đã có kinh nghiệm trong việc đối mặt với áp
lực lạm phát. Có 2 quốc gia đứng ngoài việc này. Tuy nhiên, điều kiện tài chính kinh tế vĩ
mô không ổn định, luôn thay đổi tại Argentina, với những chính sách điều tiết vĩ mô không
phù hợp kéo dài đã dẫn đến bất ổn mở đầu thời kỳ siêu lạm phát. Áp lực lạm phát cao và
biến động tỷ giá quá lớn diễn ra mạnh mẽ ở Thổ Nhĩ Kỳ với những khó khăn nghiêm trọng
về tài chính diễn ra thường xuyên theo chu kỳ. Mexico cũng có đã có nhiều bài học kinh
nghiệm quan trọng hơn trong lĩnh vực này nhưng vẫn không thể lường hết được tất cả các
bất ổn của thị trường thông qua sự biến động tỷ giá hối đoái hiệu dụng danh nghĩa.
Chile giữ mức lạm phát trung bình thấp ở mức 13% vào năm 1980. Cuối cùng, các quốc
gia có nền kinh tế mới nổi trong mẫu nghiên cứu của tác giả được mô tả như những nền
kinh tế mở với sự liên quan đến cấu trúc thương mại của họ. Xem xét kim ngạch nhập khẩu
trên phần trăm của GDP, tác giả tìm thấy mức độ mở cửa ở hầu hết các nước trong mẫu
Page 16
IN EMERGING MARKETS
Một sự lựa chọn thay thế vững chắc sẽ là mô hình VAR ở các mức độ của các biến. Tuy
nhiên, mấu chốt của vấn đề là không thể ước lượng được mức độ cũng như không thể chỉ
rõ được mô hình (xem VN của Favero năm 2001). Trong điều kiện có mặt của đồng liên
kết, phương pháp cũ sẽ chịu ảnh hưởng từ phi tham số và lỗ hiệu quả. Mô hình VECM sẽ
sinh lợi trái ngược với dự đoán nếu như mô hình bị tác động mạnh do vector đồng liên kết
sai.
Cụ thể hơn, mô hình VAR của tác giả trong sự khác biệt đầu tiên của các biến bao gồm:
Δoil
t
, Δy
t
, Δe
t
, Δpimp
t
, Δcpi
t
, và cuối cùng, dựa vào kết quả khảo sát hoặc là biến i
t
hoặc là
biến Δi
t
. Tất cả những mô hình đều được ước tính với một hằng số và biến giả chu kỳ. Độ
trễ của VAR ở mỗi quốc gia được xác định bằng cách quan sát các tiêu chí thông tin khác
nhau cũng như một số những khảo sát kỹ thuật. Tiêu chí thông tin thì được sử dụng để giúp
xác định độ trễ tối ưu, nhưng quyết định cuối cùng thì lại dựa vào những khảo sát kỹ thuật
áp dụng cho những mô hình biến thay thế.
Trong 2 phần tiếp theo, đầu tiên tác giả thảo luận kết quả về ERPT tới giá nội địa ở những
nền kinh tế thị trường mới nổi và so sánh kết quả này với nhóm những nước phát triển
cho rằng mức độ ERPT ở những nước thị trường mới nổi luôn luôn cao hơn so với những
nước phát triển. Cụ thể hơn, tác giả tìm thấy rằng trong nền kinh tế mới nổi có mức lạm
phát thấp (đặc biệt là nền kinh tế Châu Á) sự chuyển dịch lên giá tiêu dùng khá thấp.
Bước phân tích tiếp theo của tác giả giúp hiểu rõ các yếu tố kinh tế vĩ mô của ERPT. Tác
giả bắt đầu bằng việc khám phá liệu có sự phù hợp với giả thuyết của Taylor là có bằng
chứng về sự tương quan dương giữa sự chuyển dịch và lạm phát. Nhằm mục đích minh
họa, tác giả bắt đầu việc phân tích bằng việc kiểm tra trực quan mối quan hệ giữa mức độ
ERPT sau 1 năm và lạm phát ở các thị trường mới nổi trong mẫu (xem hình 1).
Hình 1: Sự chuyển dịch giá tiêu dùng so với lạm phát trung bình ở thị trường mới nổi.
(trục y: Tích lũy phản ứng của giá tiêu dùng lên 1% cú sốc tỷ giá sau 1 năm
Page 19
EXCHANGE RATE PASS-THROUGH
IN EMERGING MARKETS
trục x: Lạm phát trung bình trong thời gian dự đoán)
Ghi chú: Mô hình sử dụng là mô hình cơ bản. Các nước đánh dấu trên biểu đồ là:
Argentina (AG), Thổ Nhĩ Kỳ (TK), Mexico (MX), Cộng Hòa Séc (CZ), Hungary (HN),
Hà Lan (PL), Chile (CL), Hàn Quốc (KR), Trung Quốc (CN), Hồng Kông (HK), Đài
Loan (TW), Singapore (SG).
Như trong hình 1, hai nhóm nước có thể được xác định. Nhóm đầu tiên, lạm phát trung
bình hàng năm chưa tới 10%, mức độ ERPT thấp (thường ít hơn 10%). Nhóm thứ hai, lạm
phát trung bình cao hơn - từ 10 đến 20%, mức độ ERPT lên giá tiêu dùng cao hơn (khoảng
40%). Những nhóm nước này góp phần ủng hộ các giả thuyết của Taylor. Hai nước khác
trong mẫu, Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ, là ngoại lệ, bởi vì chúng có tỷ lệ lạm phát trung bình
rất cao (trên 60%) và sự chuyển dịch lên giá tiêu dùng thấp. Kiểm tra đơn giản hình ảnh
của biểu đồ trên cho thấy nếu hai nước này được lấy vào phân tích thì giả thuyết của Taylor
sẽ bị bác bỏ. Tuy nhiên, các phương pháp VAR có thể không thỏa đáng đối với các nước đã
từng có sự bất ổn kinh tế vĩ mô được phản ánh trong siêu lạm phát hay tỷ lệ lạm phát rất
cao.
Lấy ví dụ của Argentina, các biến tài chính biến đổi quá nhiều (đi theo tốc độ khác nhau
của việc điều chỉnh hơn mức "bình thường"). Bằng cách hạn chế giai đoạn mẫu để loại trừ
hoàn chỉnh ở giai đoạn lạm phát cao, có thể dẫn đến sai lệch. Ví dụ khi rơi vào thời kỳ lạm
phát cao, trong lúc chính sách ổn định kinh tế vĩ mô vẫn được thực hiện, làm cho đồng tiền
được định giá cao (bật lại từ sự định giá quá thấp trong thời kỳ siêu lạm phát). Trong những
trường hợp này, rất khó để phục hồi lại mối quan hệ cơ bản giữa biến động tỷ giá và giá
làm cho các mẫu biến động bất thường phát sinh theo một môi trường kinh tế bất ổn.
Phương pháp VAR và tất cả các ước lượng kinh tế nói chung không thể phản ánh được sự
chuyển dịch nếu giá, tỷ giá và lãi suất biến động quá mức. Ngược lại những cái nhìn sâu
sắc về kinh tế được đề xuất bởi Taylor để tìm sự hỗ trợ nếu nghiên cứu này loại trừ Thổ
Nhĩ Kỳ và Argentina.
Nhấn mạnh tương quan dương giữa sự chuyển dịch và lạm phát được xác nhận bởi hai tiêu
chuẩn của sự tương quan - các sản phẩm thời điểm Pearson và xếp hạng hệ số tương quan
Spearman - giữa hệ số chuyển dịch và một số yếu tố quyết định chính đáng. Các kết quả
xuất hiện trong Bảng 6. Những đo lường này xác nhận rằng có mối tương quan dương giữa
sự chuyển dịch và lạm phát ở cả 4 quý và 8 quý. Hệ số tương quan có ý nghĩa cả trong
trường hợp hệ số tương quan của Pearson và Spearman ở cả 4 quý và 8 quý với mức ý
nghĩa 1%. Các đo lường khác của sự bất ổn kinh tế vĩ mô cũng tương quan dương với
ERPT, mặc dù nói chung mức độ có ý nghĩa là hơi nhỏ hơn. Tương tự như nghiên cứu của
Choudhri và Hakura (2006) và McCarthy (2000), tác giả tìm thấy rất ít bằng chứng của
tương quan dương giữa ERPT tới giá tiêu dùng và mức độ mở cửa. Phát hiện này có thể
được xem là đáng ngạc nhiên trong tương quan dương kỳ vọng giữa các biến, như là kết
quả của sự ảnh hưởng từ giá nhập khẩu đến giá tiêu dùng. Một cách hợp lý, kết quả nghiên
cứu trước đó cho thấy mối tương quan âm giữa lạm phát và mức độ mở cửa theo nghiên
cứu của Romer (1993). Sau khi kiểm soát lạm phát, hệ số tương quan giữa sự chuyển dịch
và mức độ mở cửa là dương, mặc dù không có ý nghĩa thống kê.
5. Sự thay thế
Page 21
EXCHANGE RATE PASS-THROUGH
IN EMERGING MARKETS
Trong phần này, tác giả đánh giá những kết quả của mô hình cơ bản ban đầu sẽ thay đổi
như thế nào đến sự lựa chọn những phương pháp và có một vài sự thay đổi trật tự giữa các
giá nhập khẩu tương đương. Hệ số bây giờ được nhận thấy là cao nhất trong vòng 1 năm
sau cú sốc tại CH Séc, Mexico và Ba Lan. Tại Châu Á, ERPT lên giá tiêu dùng một lần nữa
lại cho thấy là thấp. Một lần nữa, trong trường hợp của Singapore, mặc dù ước lượng điểm
của các hệ số là số âm nhưng chúng không khác 0 là bao nhiêu. Kết quả tổng quan các
quốc gia được đặc trưng bởi tỷ lệ lạm phát thấp hơn 10% nhìn chung đặc trưng bởi mức độ
ước lượng ERPT vẫn như cũ.
Page 22
EXCHANGE RATE PASS-THROUGH
IN EMERGING MARKETS
Khi Argentina và Turkey nổi bật lên với mức chuyển dịch lên giá tiêu dùng rất thấp. Ngoại
trừ 2 quốc gia này, tương quan giữa sự chuyển dịch và lạm phát vẫn là dương sau 4 và 8
quý, mặc dù mức ý nghĩa thấp hơn so với các kết quả đầu tiên (bảng 9). Một phương pháp
đo lường sự ổn định kinh tê vĩ mô khác cũng có tương quan cùng chiều đến mức độ của
ERPT ở những mức ý nghĩa khác nhau ở cả thời kỳ 1 và 2. Cuối cùng, một lần nữa tác giả
không tìm thấy những bằng chứng nào cho thấy có mối quan hệ cùng chiều có ý nghĩa giữa
ERPT và độ mở của nền kinh tế ngay cả sau khi đã điều chỉnh lạm phát.
Ở thay thế thứ 2, trong trường hợp với mô hình baseline đã bao gồm những điều chỉnh với
các biến và sắp xếp thứ tự khác nhau các biến theo phân tích Cholesky. Trong mô hình
trước, tác giả đã bao gồm biến giá dầu như một biến có thể mô tả tác động về phía cung
cũng như là chi phí quốc tế và vì vậy có thể có ích để tháo bỏ những tác động tỷ giá hối
đoái ngoại sinh khỏi những chi phí thế giới. Một luận chứng tương tự được áp dụng cho sự
tăng trưởng của giá nội địa. Tác giả thay thế giá dầu bằng giá sản xuất nội địa ppi
t
. Một
biến khác được sử dụng cho mục đích này là biến về tiền lương. Tuy nhiên, biến này lại
không thể tìm được cho một vài nước. Đối với sự thay đổi thứ tự các biến, trong mô hình
thay thế thứ 2 này, tác giả dựa trên quan điểm rằng tỷ giá không bị ảnh hưởng đồng thời
bởi những cú sốc do những biến khác trong hệ thống mang lại, ví dụ đầu tiên nó được thay
thế theo thứ tự như sau: e
t
rất quan trọng trong những thị trường mới nổi).
Tuy nhiên, với mô hình tương đối khác biệt này, kết quả có được rất tương đồng với những
thảo luận của những phần trước (bảng 10 và 11). Sự chuyển dịch đến giá nhập khẩu rất gần
với 1, ở cả giai đoạn sau 1 và 2 năm, ở Argentina, Chile, Hungary, Poland, Mexico và
Turkey, trong khi những tính toán lại cho thấy kết quả thấp hơn nhiều ở những nước Châu
Á và ở Séc. Sự chuyển dịch lên giá tiêu dùng nhìn chung là thấp hơn sự chuyển dịch lên
giá nhập khẩu đối với tất cả các quốc gia và một vài trường hợp ở các nước châu á thì lại
gần bằng 0 sau cả giai đoạn 1 và 2 năm. Lặp lại phân tích tương quan, tác giả tìm ra được
những bằng chứng của sự tương quan dương giữa chuyển dịch lên giá CPI và lạm phát (ở
mức ý nghĩa 1%) sau khi loại bỏ Argentina và Turkey khỏi mẫu (xem bảng 12). Tham số
tương quan giữa sự chuyển dịch lên giá CPI và những phương pháp đo lường tính bất ổn
kinh tế vĩ mô cũng là tương quan cùng chiều và có ý nghĩa cho tất cả những giai đoạn
nghiên cứu. Mối quan hệ giữa sự chuyển dịch CPI và độ mở của nền kinh tế cũng có mối
quan hệ cùng chiều sau khi điều chỉnh tỷ lệ lạm phát nhưng lại không có ý nghĩa thống kê.
Page 24
EXCHANGE RATE PASS-THROUGH
IN EMERGING MARKETS
6. Nhận xét:
Bài viết này cung cấp bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về mô hình ERPT lên giá nội
địa dựa trên mô hình vector tự hồi quy được xem xét ở một số quốc gia, bao gồm một số
lượng lớn các nước thị trường mới nổi từ ba khu vực chính mới nổi trên thế giới và nhóm
các nước công nghiệp hóa. Qua kết quả của các quốc gia chỉ ra một sự sụt giảm trong
ERPT theo chuỗi giá cả. Phân tích phần nào trái ngược với các nghiên cứu trước đây rằng
ERPT ở "các nước mới nổi" luôn cao hơn so với "các nền kinh tế phát triển". Đối với thị
trường mới nổi có tỷ lệ lạm phát chỉ một con số (nhất là các nước châu Á) ERPT là rất thấp
và không quá khác biệt so với mức độ ERPT ở các nền kinh tế phát triển. Để tổng quát
hơn, tác giả thấy rằng mối quan hệ giữa sự dịch chuyển và lạm phát có ý nghĩa thống kê
khi loại trừ 2 nước (Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ). Hơn nữa, các bằng chứng về một mối
tương quan dương giữa sự chuyển dịch và mức độ mở cửa thấp hơn mối tương quan giữa
sự chuyển dịch và lạm phát, ngay cả sau khi kiểm soát lạm phát.