Nội dung bài thuyết trình môn Tài chính quốc tế
Đề tài: “Các đồng tiền chung trên thế giới”
Thành viên nhóm 7:
1. Nguyễn Ngọc Tân
2. Đào Trúc Linh
3. Phí Thị Nga
4. Trần Nguyễn Khánh Nguyên
5. Nguyễn Ngọc Anh Thư
6. Nguyễn Cẩm Tú
7. Nguyễn Kim Thuận
8. Cao Đình Hiếu
9. Lê Thị Bích Phượng
10. Nguyễn Đào Xuân Định
11. Nguyễn Hoài Vĩnh Duy ( nhóm trưởng)
GVHD: PGS . TS . Lê Phan Thị Diệu Thảo
Lớp: T03
Tp.HCM, ngày 27 tháng 4 năm 2013
CÁC ĐỒNG TIỀN CHUNG TRÊN THẾ GIỚI
Sự hình thành và Khái niệm đồng tiền chung:
Các quốc gia dân tộc đang chuẩn bị hành trang cho 1 kỉ nguyên mới mà 1 trong các đặc trưng cơ bản là xu
hướng hợp tác, liên kết giữa các quốc gia để giải quyết các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hôi và mội
trường mang tính chất toàn cầu. Ngày nay trong quá trình phát triển của minh, các quôc gia trên thế giới đang
từng bước tao lập nên các mối quan hệ song phương và đa phương nhằm từng bước tham gia vào các liên kết
Kinh tế Quốc tế đó.
Một trong những kết quả của quá trình liên kết là tạo lập một đồng tiền chung của các quốc gia thành viên.
“Đồng tiền chung là 1 đồng tiền được sử dụng chung cho các quốc gia thành viên, các quốc gia để được là
thành viên trong khối nước sử dụng đồng tiền chung cần thoã mãn các điều kiện mà khối thành viên quy định.
Khi gia nhập đồng tiền chung các quốc gia sẽ được hưởng nhận lợi ích cũng như những thách thức mà đồng tiền
này mang lại
Các nước sử dụng đồng tiền chung được gọi là Liên minh tiền tệ - hình thức cao nhất của Liên kết
Kinh tế Quốc tế. Chúng ta sẽ tìm hiểu về 2 đồng tiền chung quan trọng đối với kinh tế thế giới đó là:
giữa các chính phủ thành viên EU.
Cơ sở pháp lý cho sự ra đời của đồng EURO là hệ thống các văn bản pháp quy của liên minh, cao nhất là Hiệp
ước (Maastricht) và các nghị quyết có liên quan được Nghị viện châu Âu, Uỷ ban châu Âu, Hội đồng châu Âu,
Hội đồng các Bộ trưởng kinh tế tài chính châu Âu phê chuẩn. Bên cạnh đó là hệ thống pháp luật của mỗi nhà
nước thành viên phải ban hành các văn bản luật và dưới luật cần thiết khác đảm bảo đầy đủ cơ sở pháp lý cho
đồng EURO ra đời và thay thế hợp pháp và vĩnh viễn các đồng tiền quốc gia đã lưu hành từ bao đời nay. Đồng
EURO có cơ quan điều hành độc lập và chịu trách nhiệm là ngân hàng TW châu Âu (ECB).
1.2.2.Cơ sở xác định giá trị.
Giá trị của đồng tiền trước hết được quyết định bởi thực lực kinh tế của nước phát hành.Giá trị nội bộ của đồng
tiền được quyết định bởi tình trạng biến động giá trị sản xuất quốc dân của nước đó. Giá trị bên ngoài của đồng
tiền thì được quyết định bởi tình trạng thu chi quốc tế (cán cân thanh toán) của nước đó. Đồng EURO là đồng
tiền chung của toàn khối vì vậy giá trị của đồng EURO được quyết định bởi thực lực kinh tế của toàn khối và
tình trạng cán cân thanh toán của các nước trong khối với các nước ngoài khối quyết định. Trong hiệp ước
Maastricht và hiệp ước Amsterdam đã quy định vào ngày trước khi đồng EURO đi vào sử dụng 31 – 12 – 1998,
giá trị của đồng EURO ngang với giá trị của đồng ECU, nghĩa là tỉ giá hối đoái EURO/ECU = 1. Do vậy, giá trị
của đồng EURO được xác định thông qua giá trị của đồng ECU. Giá trị của đồng ECU do 15 đồng tiền quốc gia
của EU bình quân lại sau khi đã tính thêm như công thức:
Trong đó: di là giá trị của đồng tiền quốc gia
ai là hệ số thêm của đồng tiền quốc gia
D/Ecu là giá trị của đồng ECU.
Hệ số thêm vào dùng để bình quân được xác định theo địa vị ngoại thương và giá trị sản xuất quốc dân nhiều,
ít của các nước thành viên. Như vây, đồng EURO trước khi ra đời đã có cơ sở xác định rõ ràng, điều này góp
phần giúp đồng EURO có thể trụ vững trên thi trường quốc tế.
1.2.3 Hình thái vật chất của đồng EURO.
Đồng EURO được thể hiện dưới hai hình thái: Tiền giấy và tiền xu theo những đặc điểm yêu cầu kỹ thuật và
hình thức đã được hội đồng Châu Âu họp tháng 12 năm 1995 và Amsterdam tháng 6 năm1997 chính thức phê
duyệt như sau:
Về tiền giấy: Có bẩy loại tiền giấy: loại 5 EURO màu ghi, loại 10 EURO màu đỏ, 20 EURO màu xanh lơ, 50
EURO màu da cam, loại 100 EURO màu xanh lá cây, loại 200 EURO màu vàng, 500 uero màu tím. Các tờ giấy
bạc EURO có hai mặt, một mặt mang biểu tượng quốc gia, mặt kia thể hiện biểu tượng chung của liên minh
64,5%. Tầm quan trọng ngày càng tăng của đồng Euro cũng thể hiện qua một khía cạnh khác: Trong năm 1999,
21,7% tất cả các giấy nợ quốc tế được tính bằng Euro, trong năm 2001 là 27,4% và trong năm 2003 đã là 33%.
Năm 2004 đồng Đô la Mỹ đã chấm dứt vai trò là tiền tệ quan trọng nhất cho các loại trái phiếu và công trái với
lãi suất cố định và lãi suất thả nổi. Trong cuối tháng 9 năm 2004 có trên 12.000 tỉ đô la trái phiếu và công trái
quốc tế lưu hành trên toàn thế giới. Trong đó có 5.400 tỉ là đồng Euro, 4.800 tỉ là đồng Đô la Mỹ, 880 tỉ đồng
Bảng Anh, 500 tỉ tiền Yen và 200 tỉ là đồng Franc Thụy Sĩ. Tỷ lệ của đồng Đô la Mỹ trong tổng số tiền gửi tại
các tài khoản của các quốc gia OPEC giảm từ 75% trong mùa hè 2001 xuống còn 61,5% trong mùa hè 2004. Tỷ
lệ tiền Euro tăng trong cùng khoảng thời gian từ 12% lên 20%. Trong năm 2003 tỷ lệ mua bán Euro trên các thị
trường ngoại tệ là 25% so với 50% của đồng Đô la Mỹ và 10% cho hai loại tiền Bảng Anh và Yen Nhật. Đồng
Euro vì vậy là tiền tệ quan trọng đứng thứ nhì hiện thời.
Giá trị Euro trong lưu hành đã vượt qua đồng USD lần đầu tiên vào năm 2006. Theo Quỹ Tiền tệ thế giới
(IMF), dự trữ ngoại tệ toàn cầu trong quí 1 -2006 xấp xỉ 4,34 ngàn tỷ USD. Trong số đó, đồng USD chiếm
66,3% và đồng Euro 24,8%.
Năm 2009, đồng Euro chiếm 27,3% dự trữ ngoại tệ toàn cầu, tăng so với mức 27% của năm trước đó. Trong
khi đó, thị phần tương ứng của đồng USD là 62,2% và đồng yên Nhật là 3%.
Tuy nhiên, giá trị của đồng Euro đã giảm mạnh so với USD trong những tháng đầu năm 2010, bắt nguồn từ
những lo ngại về tình trạng thâm hụt ngân sách và nợ công tăng vọt tại nhiều nước thành viên khu vực đồng
Euro.
1.4.1.Tác động tích cực của đồng EURO về mặt kinh tế
-Thị trường chung Châu âu trở nên đồng nhất và hiệu quả hơn
-Tiết kiệm đáng kể chi phí giao dịch ngoại hối:
Người tiêu dùng và các doanh nghiệp ở mỗi nước thành viên sẽ bớt được một khoản chi phí chuyển đổi ngoại
tệ trong giao dịch quốc tế, tiết kiệm được một khoản tiền 100 tỷ mác hoặc không dưới 1% GDP của các nước
thành viên. Hơn nữa, đối với người dân các nước sử dụng đồng EURO giúp việc di chuyển dễ dàng giữa các
nước thành viên mà không cần phải lo đến việc đổi tiền.
-Giảm rủi ro và chi phí bảo hiểm rủi ro
Sự ra đời của đồng EURO sẽ giúp cho các nước thành viên tránh được sức ép của việc phá giá đột ngột các
đồng tiền quốc gia cũng như việc đầu cơ tiền tệ.
-Tăng cường hoạt động thương mại giữa các nước thành viên
Mọi hàng hoá bày bán trong các nước thành viên đều được niêm yết giá bằng đồng EURO nên sẽ làm giảm sự
• Chi phí thời kỳ quá độ
Khi quyết định sử dụng đồng tiền chung các quốc gia thành viên phải chịu chi phí gọi là chi phí thời kì quá độ
bao gồm chi phí thu hồi đồng bạc hiện hành, in đồng bạc chung ,thay đổi hệ thống thông tin phù hợp với đồng
tiền chung.
Như vậy, có thể thấy Liên minh tiền tệ vẫn có những hạn chế riêng của nó. Chính sự gắn kết này làm cho
khủng hoảng từ nội bộ một hoặc vài nước lan rộng ra toàn khu vực liên minh và đem lại hậu quả khủng khiếp.
Minh chứng rõ nhất cho điều này chính là cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu năm 2008, đã tác động tiêu cực
đến không chỉ nội bộ các nước thành viên EU mà còn đến cả các nền kinh tế thế giới.
1.5 Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng hệ thống tiền tệ Châu âu:
• Nguyên nhân đầu tiên và rõ nét nhất thường được các nhà lãnh đạo EU đề cập là tác động của khủng
hoảng tài chính năm 2008. Để cứu vãn nền kinh tế khỏi cơn suy thoái, các chính phủ đã tung ra
những gói hỗ trợ khổng lồ nhằm kích thích kinh tế phát triển. Gói hỗ trợ này làm gia tăng chi ngân
sách và nợ công một cách đáng kể. Tuy nhiên, thực trạng này diễn ra tại hầu hết các nước trên thế
giới, không chỉ có Hy Lạp và EU. Do vậy, bên cạnh các tác nhân bên ngoài, Hy Lạp còn có những
nguy cơ tiềm ẩn - đó là các yếu tố nội sinh của khu vực đồng tiền chung.
• Việc không tuân thủ chặt chẽ các quy định trong liên minh tiền tệ
• Tác động tiêu cực của tiến trình hội nhập kinh tế khu vực
• Mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa
1.5.1 Nguyên nhân khủng hoảng nợ công Hy Lạp
Tác nhân bên ngoài và rõ nét nhất thường được các nhà lãnh đạo EU đề cập là tác động của cuộc khủng hoảng
tài chính năm 2008. Để cứu vãn nền kinh tế khỏi cơn suy thoái, chính phủ Hy Lạp đã tung ra những gói hỗ trợ
khổng lồ nhằm kích thích kinh tế phát triển Chính sách "vung tay quá trán" và "căn bệnh thành tích" đã khiến
Hy Lạp trượt sâu trong vũng lầy nợ công. Thực chất, nợ không phải là điều gì xấu, nhưng vấn đề đặt ra đối với
mỗi quốc gia là mức nợ ấy phải rõ ràng và trong tầm kiểm soát.
Ở trường hợp Hy Lạp, có thể thấy rằng khủng hoảng nợ công bắt nguồn từ sự "lạm chi" và sự lơi lỏng của EU
khi Brussel sốt ruột muốn đẩy nhanh tiến trình hội nhập của Hy Lạp. Nói cách khác, những "ảo tưởng" về một
viễn cảnh mới, về ánh hào quang của EU đã khiến Athens phớt lờ mọi cảnh báo, tiếp tục mạnh tay chi tiêu và
hậu quả nhãn tiền đều như người ta đã thấy.
Sau đây chúng ta sẽ đi sâu vào những nguyên nhân riêng có của Hy Lạp.
• Nạn nhân của bệnh thành tích
ngầm chiếm tới hơn 30% GDP và sản xuất kém phát triển nên nước này luôn phải nhập siêu. Khủng hoảng nổ
ra, nợ công lên tới 115% GDP (gấp đôi quy định của hiệp ước) và thâm hụt ngân sách quốc gia là 14% GDP
(cao hơn quy định 3,5 lần). Khả năng thanh toán nợ của Chính phủ Hy Lạp bị nghi ngờ và các nhà đầu tư vội vã
rút vốn khỏi Hy Lạp và không cho Chính phủ nước này vay thêm tiền.
Việc cam kết giảm thâm hụt ngân sách về mức 3% được xem như bất khả thi do: thứ nhất, Hy lạp không thể hạ
giá đồng euro để khuyến khích xuất khẩu, thứ hai là Chính phủ không thể tự ý điều chỉnh lãi suất cơ bản để vực
dậy nền kinh tế. Nếu đứng ngoài khối euro, làm hai việc trên không khó đối với Hy Lạp.
Đồng tiền chung hệ thống ngân hàng trung ương châu Âu bao gồm Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và
16 ngân hàng trung ương của các quốc gia thành viên. ECB điều hành chính sách tiền tệ theo mục tiêu lạm phát.
Tuy nhiên, yếu kém trong thanh khoản của Hy Lạp đã làm lộ ra thiếu sót mang tính cơ cấu trong chính
sách tiền tệ chung: Các quốc gia thành viên khu vực đồng euro chấp thuận một ngân hàng trung ương chung,
một chính sách tiền tệ chung nhưng không chấp thuận một chính sách thuế chung.
Nguyên nhân sâu xa là mỗi quốc gia có một nhà nước riêng và nhà nước riêng thì cần có ngân sách riêng với
hàng loạt nguyên tắc chi tiêu đính kèm. Điều này hợp lý nhưng lại là rào cản đối với khu vực đồng tiền chung
bởi vì chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa luôn có mối quan hệ khắng khít với nhau.
Cụ thể, lãi suất trên thị trường tiền tệ phụ thuộc vào chính sách lãi suất do ECB định đoạt. Lãi suất trái phiếu
chính phủ lại do bộ tài chính của từng quốc gia quyết định.
Quyết định của bộ tài chính phụ thuộc vào chính sách tài khóa của từng quốc gia. Đối với một số nước có năng
lực cạnh tranh kém hơn, thâm hụt ngân sách lớn hơn các quốc gia khác trong khối, để bình ổn nền kinh tế, phát
hành trái phiếu chính phủ với lãi suất cao hơn là giải pháp được ưa chuộng. Vì vậy, khủng hoảng nợ do mất khả
năng chi trả chỉ còn là vấn đề thời gian.
Ngoài ra, so với các quốc gia khác, khoản chi phúc lợi - an sinh xã hội và thu thuế của EU rất cao so với nhiều
quốc gia khác trên thế giới. Thật vậy, Mỹ có thu nhập bình quân đầu người là 34.320 đô la nhưng chỉ dành
19,4% GDP chi phúc lợi và an sinh xã hội. Con số tương tự ở Nhật là 25.130 đô la Mỹ/người và 18,6%. Trong
khi đó, tại EU, tỷ lệ này dao động từ trên 20-38,2%.
Để có tiền chi phúc lợi và an sinh xã hội, các nước buộc phải gia tăng các khoản thuế. Thực tế cho thấy, tỷ lệ
thu thuế tính trên GDP của các nước trong khối EU cũng tăng vượt trội so với các quốc gia khác trên toàn cầu.
Tỷ lệ này biến động từ trên 30-50% GDP.
Là một thành viên của EU, trong các hoạt động kinh tế đối ngoại với các quốc gia ngoài EU, Hy Lạp cũng gặp
những khó khăn tương tự.Không chỉ bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài, Hy Lạp còn bị thất thế trong các giao
7/2010
(ii)
, Euro đã giảm giá khoảng 15,7% so với USD, 8,5% so với GBP và 20% so với JPY… Những gì đang
diễn ra bên trong eurozone, khiến nhiều người phải đặt câu hỏi về sự gắn kết ở khu vực này.Tương lai của Euro
sẽ ra sao? Tiếp tục tồn tại và phát triển hay đồng tiền chung Châu Âu bị tan vỡ…?
Tỷ giá USD/EUR từ tháng 7/2009 đến tháng 7/2010
Nguồn: RatesFX
Nhận định về xu hướng này, chúng tôi cho rằng các nước trong khu vực không dễ dàng để Euro chết yểu, Euro
vẫn tồn tại, nhưng sẽ bị giảm giá trong trung hạn. Nhận định này được xuất phát từ ba lý do sau:
Một là, cuộc khủng hoảng nợ công
( iii)
ở các nước eurozone cùng với các kế hoạch cắt giảm chi tiêu, cứu trợ
kinh tế tiếp tục là mối đe dọa nghiêm trọng đến tăng trưởng kinh tế của eurozone. Việc cứu trợ Hy Lạp có thể sẽ
phải kéo dài, thậm chí có thể phải cơ cấu lại nợ. Kế hoạch cứu trợ kinh tế của các nước tiếp theo như Bồ Đào
Nha, Tây Ban Nha,… sẽ tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế của khu vực Euro. Vì thế, Châu Âu khó tránh
khỏi cuộc suy thoái kinh tế vào năm 2011 và tình trạng trì trệ vào những năm tiếp theo. Như vậy, tăng trưởng
kinh tế của khu vực này sẽ chậm hơn các nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, Trung Quốc và các nền kinh tế phát triển
khác, trong khi lượng tiền không nhỏ đưa ra để cứu trợ, sẽ đẩy nhanh đà mất giá của Euro.
Hai là, Sự suy giảm niềm tin của giới đầu tư và người tiêu dùng sẽ tiếp tục đặt áp lực giảm giá Euro. Niềm tin
đối với triển vọng kinh tế của 16 quốc gia khu vực sử dụng Euro đã sụt giảm trong quí 2 và 3 năm 2010. Theo
số liệu của IMF, chỉ số niềm tin của giới chủ doanh nghiệp và người tiêu dùng tại Eurozone đã giảm từ mức
100,6 điểm trong tháng 4 xuống 94,5 điểm trong tháng 6, trong đó, tại Hy Lạp giảm từ mức 69,1 điểm xuống
còn 51,9 điểm, tại Bồ Đào Nha giảm từ 93,8 điểm xuống còn 87,1 điểm. Xu hướng giảm giá Euro càng thể hiện
rõ khi Liên minh Châu Âu và IMF phải đưa ra quyết định về việc thành lập Quỹ cứu trợ khẩn cấp trị giá 1.000
tỷ USD, nhằm ngăn ngừa sự sụt giảm liên tục của Euro hiện tại và trong tương lai.
Ba là, Khi các gói cứu trợ nhằm giúp các nước trong Eurozone thoát khởi cuộc khủng hoảng nợ, phục hồi tăng
trưởng kinh tế, thì việc Euro suy yếu cũng tạo cơ hội để khu vực này phát triển. Bởi khi Euro mất giá, hàng hóa
nhập khẩu vào Châu Âu trở nên đắt hơn, sẽ giúp giảm thâm hụt thương mại, đồng thời tăng cường xuất khẩu,
cải thiện sức cạnh tranh vốn đang rất yếu của các nước trong Eurozone, từ đó thúc đẩy tiến trình phục hồi kinh
tế của khu vực
(Nguồn: Reuters, ngày 25/6/2012)
Bảng 3. Dự báo về tỷ giá USD/EUR của Financial Forecast
Tỷ giá dự báo bình quân
tháng
T5/2012 T6/2012 T7/2012 T8/2012 T9/2012 T10/2012 T11/2012
EUR/USD 1,2806 1,260 1,272 1,244 1,210 1,216 1,239
(Nguồn: Financial Forecast Center, 6/6/2012)
Bảng 4. Dự báo tỷ giá EUR/USD trong năm 2012-2013 của các tổ chức tài chính
Tỷ giá dự báo bình quân 1 tháng tới 3 tháng tới 6 tháng tới 12 tháng tới
Barclays Capital 1,250 1,210 1,190 1,150
Morgan Stanley 1,280 1,240 1,210 1,180
Nomura 1,280 1,260 1,237 1,220
Scotiabank 1,220 1,230 1,230 1,220
Deutsche Bank 1,250 1,300 1,350 1,250
(Nguồn: Tổng hợp từ Reuters, ngày 25/6/2012)
-Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) và Ngân hàng Trung ương các quốc gia thành viên trong Khu vực
đồng tiền chung Châu Âu vừa đưa ra thông tin về bộ tiền giấy thế hệ thứ hai của đồng Euro dự kiến phát hành
vào tháng 5 năm 2013.
2.Nhu cầu hình thành đồng ACU
* Xuất phát từ thực tế:
- Sau khủng hoảng tài chính – kinh tế châu Á năm 1997, các nước châu Á liên tục hợp tác chặt chẽ về kinh tế-
tài chính và người ta cũng đã tính đến một hướng đi mới trong quá trình hợp tác, thậm chí hợp nhất đơn vị tiền
tệ tại khu vực
- Sự trao đổi giao lưu thương mại giữa các nước châu Á ngày càng tăng đặc biệt là các quốc gia Đông Nam Á
với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc
- Tháng 11/2002, các nhà lãnh đạo ASEAN cũng nhất trí khám phá khả năng hình thành một Cộng đồng Kinh
tế ASEAN (AEC) vào 2020 với sự hội nhập kinh tế ở mức độ cao hơn.
* Xuất phát từ điều kiện khách quan:
- Năm 2003, cha đẻ của đồng euro (Robert Mundell) cũng đưa ra kiến nghị xây dựng một đồng tiền chung cho
châu Á, cùng sử dụng song song với đồng tiền hiện tại của các nước trong khu vực.
* Đối với thế giới:
+ Trong quá trình giới thiệu một đồng tiền chung, tiến trình tự do hóa kinh tế sẽ được giải quyết (bao gồm tự
do hoá thương mại khu vực và các giao dịch vốn), làm cho việc tiếp cận đến thị trường Châu Á dễ dàng. Tự do
hóa thương mại toàn cầu và giao dịch vốn sẽ thúc đẩy sự ổn định nền kinh tế toàn cầu.
+ Xét về lợi thế chính trị, việc giới thiệu một đồng tiền chung Châu Á sẽ làm nó khó hơn cho xung đột chính
trị để xảy ra trong khu vực, tăng ổn định chính trị trong khu vực Châu Á, góp phần ổn định chính trị toàn cầu.
+ Xét về lợi ích kinh tế, nó sẽ làm cho sự phát triển kinh tế trong khu vực Châu Á hiệu quả hơn và ổn định
hơn, và sẽ tạo ra những thị trường đầy hứa hẹn cho phần còn lại của thế giới Hơn nữa, đối với những nền kinh
tế quy mô nhỏ hơn, lưu hành một loại tiền tệ lớn sẽ ổn định thương mại và giao dịch vốn, làm gia tăng sự ổn
định nền kinh tế.
+ Trong quá trình giới thiệu một đồng tiền chung, tiến trình tự do hóa kinh tế sẽ được giải quyết (bao gồm tự
do hoá thương mại khu vực và các giao dịch vốn), làm cho việc tiếp cận đến thị trường Châu Á dễ dàng. Tự do
hóa thương mại toàn cầu và giao dịch vốn sẽ thúc đẩy sự ổn định nền kinh tế toàn cầu.
+ Xét về lợi thế chính trị, việc giới thiệu một đồng tiền chung Châu Á sẽ làm nó khó hơn cho xung đột chính
trị để xảy ra trong khu vực, tăng ổn định chính trị trong khu vực Châu Á, góp phần ổn định chính trị toàn cầu.
2.2 Thuận lợi và khó khăn trong việc hình thành đồng tiền chung
2.2.1. Thuận lợi
-Nền tảng của các nước Châu Á hiện nay tương đối tốt: Mặc dù các nước châu Á cũng bị ảnh hưởng bởi cuộc
khủng hoảng tài chính Mỹ năm 2008 nhưng hiện nay các nước đang dần hồi phục khả quan. Theo dự báo của
IMF, châu Á sẽ tiếp tục dẫn đầu tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong hai năm tới bất chấp lạm phát đang diễn ra
và bất ổn ở Trung Đông với tốc độ tăng trưởng là 7%.
-Sự chuyển dịch nền kinh tế từ phương Tây sang phương Đông: Những năm gần đây, Trung Quốc nổi lên như
cơn bão kinh tế trở thành nền kinh tế thứ hai trên thế giới. Theo cựu thủ tướng singapore Lý Quang Diệu dự
đoán Trung Quốc sẽ tiếp tục phát triển nhanh gấp ba lần Mỹ để soán ngôi nền kinh tế số 1 trong thập kỷ tới, làm
cường quốc số 1 ở châu Á và cả thế giới. Ngoài ra, chúng ta còn biết đến các nền kinh tế mới nổi khác như Ấn
Độ… Các nền kinh tế trên góp phần đưa châu Á lên vị thế mới trên trường quốc tế. Nó cũng thể hiện đang có sự
chuyển dịch từ phương Tây sang phương Đông. Điều này thúc đẩy các nước châu Á phải có sự liên minh chặt
chẽ hơn để đưa vị thế của mình lên cao hơn, mà hình thức thể hiện của nó là đồng tiền chung.
-Sự ra đời của đồng EURO tạo tiền đề thuận lợi cho sự ra đời của đồng tiền chung châu Á – ACU: Dù hiện
nay, châu Âu cũng đang gặp một số vấn đề khó khăn với với đồng tiền chung của mình, nhưng trên hết EURO
Điều kiện quan trọng cho sự thành công của liên minh khu vực trong đó có liên minh về tiền tệ là sự đồng đều
của các quốc gia trong khu vực đó. Sự ra đời của đồng tiền chung châu Âu cũng dựa trên điều kiện đó.
Mức chênh lệch phát triển giữa các quốc gia phát triển ASEAN 6 (Bru-nây, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-lip-
pin, Thái Lan và Singapore) với ASEAN 4( Việt Nam, Campuchia, Lào, Myanma) khá cao - được coi là yếu tố
cản trở chính của sự liên kết. Chênh lệch phát triển trong ASEAN chủ yếu tập trung ở 4 lĩnh vực chủ yếu (4I),
gồm: kết cấu hạ tầng, thu nhập, liên kết và thể chế.
Ví dụ: chênh lệch thu nhập bình quân đầu người. Mức thu nhập bình quân đầu người theo giá hiện hành của
Singapore (25.207 USD) - cao gấp 152 lần so với Mianma (166 USD) - nước nghèo nhất khu vực.
Biểu đồ 3: GDP/người năm 2010 của các nước ASEAN + 3
Nguồn: Thống kê của UNDP, 2010
Trong khi đó, vào thời điểm hình thành đồng EURO, các nước EU có GDP/người tương đối đồng đều:
Biểu đồ 4: GDP/người của các nước EU năm 2000
Nguồn: Thống kê của UNDP, 2010
Hay chênh lệch về chỉ số phát triển nguồn nhân lực (HDI). Dựa trên các thông số về tuổi thọ, mức chi tiêu cho
giáo dục, sức khỏe, tỷ lệ người biết chữ ASEAN +3 được chia thành 4 nhóm về HDI: nhóm phát triển nguồn
nhân lực cao, trung bình cao, trung bình và thấp. Việt Nam nằm trong nhóm trung bình.
Biểu đồ 5: Chỉ số HDI của các nước ASEAN + 3 năm 2010
Nguồn: Thống kê của UNDP, 2010
Và HDI của các nước EU:
Biểu đồ 6: Chỉ số HDI của các nước EU năm 2010
Nguồn: Thống kê của UNDP, 2010
Chênh lệch phát triển giữa các nước thành viên ASEAN còn được thể hiện ở chênh lệch về sự phát triển của thị
trường tài chính, năng lực tài chính Trong đó, việc thiếu tài trợ tài chính trong khu vực được xem là khó khăn
nhất. Chênh lệch về trình độ phát triển làm cho ASEAN khó khăn hơn trong các nỗ lực tập thể, tính khả thi của
các chính sách đồng tiền chung bị hạn chế.
Một số khó khăn khác như:
*Tranh chấp biên giới giữa các quốc gia như Việt Nam và Trung Quốc giao tranh về quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa, Thái Lan và Campuchia về ngôi đền Prếch-vihia. Đồng tiền chung châu Á chỉ ra đời khi các vấn đề
về tranh chấp trên được giải quyết sớm.
* Sự khác nhau về tôn giáo
triển của kinh tế khu vực.
Do đó trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam cần tiếp tục lộ trình cắt giảm tiến tới xóa bỏ hàng rào thuế quan về
số lượng hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu phù hợp với chính sách và luật lệ với các nước còn lại trong khu vực để
đạt được mục tiêu này.
• Điều chỉnh chính sách đầu tư nước ngoài
Để tận dụng được cơ hội tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài không chỉ từ các nước ASEAN mà còn nhiều
quốc gia khác khi tham gia thực hiện AFTA, Việt Nam phải tích cực điều chỉnh chính sách đầu tư nước ngoài,
tạo môi trường đầu tư thông thoáng. Chính sách đầu tư của Việt Nam trong thời gian tới nên điều chỉnh theo các
hướng sau:
- Mở rộng, đa dạng hoá các lĩnh vực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, mở thêm kênh thu hút vốn
- Đơn giản hoá thủ tục đầu tư
- Cung cấp thông tin kinh doanh cũng như nhanh chóng hoàn thiện công tác hành chính, đảm bảo các yếu tố
trong sạch, trách nhiệm, giải thích rõ ràng và khả năng có thể dự đoán trước. Việt Nam phải phát triển hệ thống
khuyến khích đầu tư, cung cấp thông tin ra các nước về cơ hội và môi trường đầu tư ở Việt Nam.Cho đến nay,
các nhà đầu tư vẫn chưa có đủ thông tin thông qua Internet hoặc các websites.
• Điều chỉnh chính sách tài chính - tiền tệ
Chính sách tài chính - tiền tệ, đặc biệt là chính sách tỷ giá hối đoái có vị trí quan trọng hàng đầu trong các
chính sách thương mại. Trong quá trình hội nhập AFTA hướng tới hình thành đồng tiền chung, nền kinh tế
nước ta đang gặp nhiều khó khăn nghiêm trọng: trong hầu hết mọi lĩnh vực kinh tế, chi phí sản xuất đều rất cao,
làm cho giá hàng Việt Nam cao hơn, khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam thấp so với các nước trong
khu vực. Theo ý kiến của nhiều chuyên gia kinh tế, để thoát khỏi tình trạng hiện nay, tự do hoá kinh tế nhanh và
quyết liệt hơn kết hợp với phá giá vừa phải tỷ giá danh nghĩa là giải pháp phù hợp nhất.Tuy nhiên, việc phá giá
tiền tệ là một trong những quyết định hết sức khó khăn và nhạy cảm vì nó liên quan đến rất nhiều khía cạnh của
hoạt động kinh tế, xã hội và đời sống của dân chúng. Do đó, cần phải nghiên cứu thận trọng trước khi quyết
định có phá giá nội tệ hay không.
Phá giá nội tệ sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực đến các khoản nợ Chính phủ bằng ngoại tệ, đến thu nhập cố
định của người lao động và sự ổn định xã hội. Đây là những yếu tố Việt Nam cần xem xét khi quyết định phá
giá trong giai đoạn hiện nay.Nhìn một cách tổng thể, chúng ta sẽ được lợi nhiều hơn khi phá giá thêm đồng tiền
Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.
Trong điều kiện Việt Nam tham gia AFTA , hướng tới hình thành đồng tiền chung, vấn đề chúng ta quan tâm
- Tại thời điểm này hệ thống tỷ giá hối đoái cố định trong khuôn khổ Hiệp ước Bretton Woods đang
tồn tại nên các nước tham gia hiệp ước phải đảm bảo dự trữ vàng hoặc tiền tệ mạnh để có thể sử dụng
nó mua vào nội tệ khi cần thiết nhằm duy trì tỷ giá hối đoái. Với sự phát triển của thương mại và tài
chính quốc tế, đến lúc đó nguồn lực dự trữ chủ yếu bằng vàng và USD của các quốc gia trở nên
không đủ đáp ứng.
- SDRs ra đời cung cấp cho các quốc gia thành viên một nguồn lực bổ sung để có thể duy trì tỷ giá hối
đoái của đồng nội tệ.
- IMF nhận tiền đóng góp (tương ứng là quyền biểu quyết) và sử dụng nguồn góp đó, cộng thêm với
các tài trợ khẩn cấp đặc biệt để cho một số nước thành viên vay, nhằm ổn định cung cầu tiền tệ, tỷ giá
hối đoái, cán cân thanh toán ngắn hạn.
- Số tiền cụ thể mà mỗi quốc gia phải đóng góp được IMF xem xét quyết định căn cứ tình hình kinh tế
của quốc gia đó. Trước ngày 1 tháng 4 năm 1978, cứ 5 năm một lần, IMF sẽ xem xét lại số tiền mà
mỗi thành viên phải đóng góp (tăng lên hoặc giảm đi), từ ngày 1 tháng 4 năm 1978 trở đi, việc này
được thực hiện 3 năm một lần.
3.3 Sử dụng SDR
• SDRs có thể được sử dụng trong quan hệ tín dụng giữa các nước thành viên IMF với quỹ này cũng
như trong thanh toán cán cân thương mại giữa các quốc gia.
• Khi giải ngân, có thể quy đổi ra một loại tiền tệ mạnh nào đó như Đô la Mỹ, Euro, hoặc Yên Nhật,
tùy tình huống.
• SDRs cũng được sử dụng trong một số thỏa thuận, công ước quốc tế như Công ước Warsaw về trách
nhiệm vật chất của các hãng hàng không đối với hành khách, hành lý, hàng hóa chuyên chở; sử dụng
để tính toán cước bưu chính, viễn thông quốc tế theo thỏa thuận giữa các nước thành viên Liên minh
Bưu chính Thế giới (Universal Postal Union), Liên minh Viễn thông Quốc tế (International
Telecommunication Union).
Tuy nhiên nó chỉ là đơn vị qui ước, chỉ được sử dụng để tính toán chứ không thực sự tồn tại trong lưu thông do
vậy người ta không thể tiêu nó như các loại tiền tệ dùng trong lưu thông khác.
3.4 Xác định giá trị của SDR
Từ 1969 đến tháng 6 năm 1974, SDRs được định nghĩa bằng giá trị của USD và USD xác định theo giá trị so
với vàng:
• Từ 1969 đến ngày 17 tháng 12 năm 1971: 35 USD = 1 oz vàng.
- Tỷ giá hối đoái mà IMF sử dụng để tính toán và công bố giá trị của SDR hàng ngày là tỷ giá trên thị trường
ngoại hối London, nếu thị trường này đóng cửa thì dùng tỷ giá trên thị trường ngoại hối New York, cuối cùng là
tỷ giá trên thị trường ngoại hối Frankfurt sẽ được sử dụng nếu thị trường New York cũng đóng cửa.
Ví dụ về cách xác định giá SDR ngày 01/07/2009
Nguồn: http://www.imf.org/external/np/fin/data/rms_sdrv.aspx
Notes:
- Cột 2 (Currency amount under Rule O-1): tỷ trọng của từng loại tiền tệ trong rổ SDR được xác định theo Rule
O-1 của IMF.
- Cột 3 (Exchange Rate): TGHĐ ở cột này là tỷ giá của 1 loại tiền tệ/USD, riêng TGHĐ của JPY được thể hiện
USD/JPY.
3.4 Ưu và khuyết điểm cả SDR , mối liên hệ với Việt Nam
• Ưu điểm
- SDR ra đời góp phần làm thay đổi hệ thống tỷ giá hối đoái từ cố định sang tỷ giá thả nổi linh hoạt hơn.
- Giảm thiểu những hạn chế trong việc sử dụng đồng đôla và vàng _công cụ thanh toán quốc tế duy nhất.
-SDR ra đời cung cấp cho các quốc gia thành viên một nguồn lực bổ sung để có thể duy trì tỷ giá hối đoái của
đồng nội tệ.
- SDR ra đời đã bổ sung vào quỹ dự trữ tiền tệ thế giới, làm cho hoạt động thanh toán quốc tế được thông suốt
hơn, đồng thời khiến cho thị trường hối đoái ổn định hơn.
- Việc sử dụng SDR một khi đáp ứng được yêu cầu dự trữ tiền tệ của toàn cầu trong thời gian dài là một cách
thúc đẩy việc đạt được mục đích của IMF và tránh suy giảm kinh tế và giảm phát.
- Việc sử dụng SDR góp phần làm giảm suy thoái kinh tế thế giới, đặc biệt là trong và sau cuộc khủng hoảng.
Nhiều nước tiếp tục tích lũy dự trữ tiền tệ ở mức cao phòng ngừa, đặc biệt là để tránh các cuộc khủng hoảng
trong tương lai xảy ra do sự đảo chiều vốn hay thâm hụt thương mại.
-Các thành viên của IMF có thể trao đổi SDR tự do với nhau và với các chủ sở hữu theo quy định, việc trao
đổi có thể diễn ra theo thỏa thuận tự nguyện hoặc theo chỉ định của Quỹ.
-Thành viên IMF cũng có thể sử dụng SDR trong hoạt động kinh doanh và các giao dịch liên quan đến IMF,
chẳng hạn như việc thanh toán lãi và trả nợ.
• Nhược điểm
_ Việc sử dụng SDR gặp khó khăn vì các nước lớn nghĩ nhiều đến quyền lợi riêng của họ hơn là quyền lợi
chung và cũng vì dự tính trên lý thuyết thì hay nhưng khó thực hiện trong thực tế. Lúc ban đầu, SDR được phân