Chuyên đề DẠY HỌC THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 3 - Pdf 27

DẠY HỌC THEO CHUẨN KIẾN THỨC,
KĨ NĂNG PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 3
========= =========
I/ĐẶT VẤN ĐỀ:
Môn Tiếng Việt ở cấp tiểu học nói chung và phân môn tập đọc nói riêng. Mỗi
phân môn đều có mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học khác nhau. Vậy làm thế
nào để thực hiện việc xác định chuẩn kiến thức, kỹ năng cũng như đổi mới nội dung và
phương pháp dạy học cho phù hợp với từng đối tượng học sinh.
Đây là một vấn đề khó, bởi vì năng lực về ngôn ngữ Tiếng việt cũng như trình độ
tiếp thu của từng đối tượng học sinh khác nhau. Việc điều chỉnh nội dung và phương
pháp của môn tập đọc lớp 3 là vấn đề mà mỗi giáo viên tiểu học phải suy nghĩ và lựa
chọn cho mình một phương pháp dạy học phù hợp. Đó là vấn đề cấp thiết đặt ra cho
chúng ta cần giải quyết.
II/.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1. Những yêu cầu chung:
Nhìn chung đối với môn tập đọc học sinh được chú trọng hình thành 4 kỹ năng:
nghe, nói, đọc, viết.Thời lượng chung của môn tập đọc 3 tiết/ tuần, chiếm 37,5%.
Để thực hiện việc dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng môn tập đọc trước hết:
- Giáo viên cần nắm vững mục tiêu của từng bài học (xác định chuẩn kiến thức, kỹ
năng).
- Lựa chọn các nội dung dạy học cho phù hợp với học sinh của lớp mình phụ
trách.
- Sử dụng nhiều phương pháp dạy học phù hợp với nội dung từng bài hay nói chính
xác đó là kế hoạch bài học của giáo viên trong mỗi tiết lên lớp.
- Thông qua kế hoạch bài học, giáo viên sẽ hình thành cho học sinh kiến thức kỹ
năng của môn học cũng như tình cảm thái độ.
2. Nội dung chương trình:
Nội dung chương trình môn Tập đọc được xây dựng gồm 15 đơn vị học, mỗi đơn
vị gắn với một chủ điểm học trong 2 tuần (ngoài chủ điểm “Ngôi nhà chung” học trong 3
tuần). Các chủ điểm cụ thể (ở nội dung phân phối chương trình lớp 3).
1

* Rèn kỹ năng đọc – hiểu:
+ Biết cách đọc thầm: Tìm hiểu ý chính của đoạn, nội dung chính của bài.
+ Biết trả lời được những câu hỏi về nội dung và ý nghĩa bài học. Biết nhận xét
một số hình ảnh, nhân vật.
+ Đọc thuộc một số bài thơ, đoạn văn ngắn ( bài thơ 10 – 12 dòng, bài văn xuôi
khoảng 80 chữ).
Sau khi xác định chuẩn kiến thức kỹ năng ở từng giai đoạn ta có kế hoạch điều
chỉnh nội dung, phương pháp dạy học:
Yêu cầu của việc điều chỉnh nội dung dạy học được phân chia từng bài cụ thể
trong sách giáo khoa và được quy định theo phân phối chương trình của từng bài. Đối với
giáo viên thực hiện nội dung dạy học thông qua giảng dạy từng bài học cụ thể. Việc thực
hiện điều chỉnh nội dung dạy học cho phù hợp với trình độ học sinh của lớp mình. Muốn
vậy giáo viên phải xác định được mục tiêu, phương pháp dạy học theo từng bài hay nói
cách khác đó là kế hoạch bài học của giáo viên trong mỗi tiết lên lớp. Thông qua kế
hoạch bài học, giáo viên sẽ hình thành cho học sinh kiến thức, kỹ năng của môn học cũng
như tình cảm, thái độ giáo dục phù hợp với nội dung bài học. Thực hiện điều chỉnh nội
dung bài học theo từng đối tượng học sinh và vấn đề khó bởi sự khác biệt của từng học
sinh về năng lực (đặc biệt về ngôn ngữ là rất lớn)
Nguyên nhân do học sinh có hoàn cảnh sống, môi trường giao tiếp có sự khác
biệt. Chẳng hạn học sinh dân tộc, học sinh cá biệt vốn từ và khả năng nhu cầu giao tiếp
còn hạn chế. Trình độ tiếp thu không đồng đều. Để thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học
theo đối tượng, thì người giáo viên phải hiểu rõ đối tượng học sinh của mình về mọi
phương diện từ hoàn cảnh gia đình (kinh tế, xã hội), nhu cầu, năng lực, sở trường của mỗi
em để có thể xác định các phương pháp dạy học phù hợp cho từng loại đối tượng. Thông
thường ở mỗi lớp học đều có đủ các đối tượng học sinh như sau:
- Học sinh có khả năng ngôn ngữ tốt (hay còn gọi là những em có trí thông minh
ngôn ngữ).
- Học sinh có khả năng bình thường và dạng thứ 3 là học sinh chậm phát triển về
ngôn ngữ.
Trong 3 dạng trên thì đối với học sinh dạng 3 là đối tượng cần có sự đầu tư quan

tranh minh họa ở sách giáo khoa và sử dụng đồ dung dạy học một cách thiết thực, tránh
thiên về hình thức.
Ở những bài dạy có yêu cầu học thuộc lòng giáo viên cần chú ý cho học sinh
luyện đọc kĩ hơn, có thể hướng dẫn học sinh vừa ghi nhớ nội dung vừa dựa vào một số từ
ngữ trên bảng (điểm tựa) để đọc thuộc toàn bộ (đọc cá nhân, đọc đồng thanh nhịp nhàng,
vừa phải) hoặc tổ chức cuộc thi hay trò chơi luyện đọc thuộc lòng một cách nhẹ nhàng
gây hứng thú cho học sinh. Yêu cầu tối thiểu là học thuộc từ 8 đến 10 dòng thơ trên lớp.
Khi dạy Tập đọc, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài (Giáo viên
có thể gợi dẫn bằng một – hai câu hỏi phụ để học sinh dễ trả lời, tùy thuộc vào trình độ
học sinh của lớp); tránh đặt thêm những câu hỏi khai thác nội dung vượt quá yêu cầu bài
học.
4
Ví dụ: Khi dạy bài “Cảnh đẹp non sông” (Sách Tiếng việt 3, tập 1, trang 98) giáo
viên có thể thay đổi hình thức câu hỏi 3:
- Theo em, ai đã giữ gìn, tô điểm cho non sông ta ngày càng đẹp hơn? Em hãy
chọn câu trả lời đúng:
a. Đó là chúng em.
b. Đó là nhân dân ta.
c. Đó là thiên nhiên.
Đối với những câu hỏi như vậy không những các học sinh khá, giỏi trả lời được mà
những em trung bình vẫn có thể xác định đúng và dể hiểu.
Ví dụ 2: Bài “Mưa” (Sách Tiếng Việt 3, tập 2 trang 135) giáo viên cũng có thể
thay đổi hình thức câu hỏi 4:
- Hình ảnh Bác Ếch gợi cho em nghĩ đến ai ? Em hãy chọn câu trả lời đúng:
a.Em nghĩ đến các cô chú công nhân.
b.Em nghĩ đến các cô chú bộ đội.
c.Em nghĩ đến các cô bác nông dân.
Ví dụ 3: Bài “Về quê ngoại” (Sách Tiếng Việt 3, tập 1 trang 133).
Khi kết thúc phần tìm hiểu bài giáo viên có thể nêu thêm câu hỏi để phát triển học
sinh giỏi:

cụ thể, làm cho nội dung học tập thêm phong phú. Muốn được như vậy giáo viên cần phải
đọc mẫu một cách chuẩn xác, phù hợp với từng loại văn bản. Biết hướng dẫn học sinh về
cách đọc và sử dụng các biện pháp, hình thức tổ chức dạy học thích hợp nhằm phát huy
tính tích cực học tập của học sinh. Thực hiện quy trình giảng dạy một cách linh hoạt
nhằm đạt được mục đích yêu cầu bài dạy. Có câu hỏi phụ cho học sinh trả lời, tránh đặt
thêm câu hỏi vượt quá nội dung yêu cầu bài học. Và giáo viên cần chú ý thêm ở những
bài tập đọc có 2 tiết, nội dung ở tiết 2 mức độ cần đạt về chuẩn kiến thức kỹ năng cao hơn
ở tiết 1: ở tiết 1 chỉ yêu cầu HS đọc trôi chảy, rành mạch, bước đầu có giọng đọc phù hợp
tính cách của nhân vật…; ở tiết 2 yêu cầu giọng đọc phù hợp tính cách mạnh mẽ của
nhân vật…
Về mức độ cần đạt tốc độ đọc của HS / phút không phải HS đọc qua bài học đó mà
GV yêu cầu cần đạt tốc độ đọc và phải tùy vào giai đoạn đọc khác nhau như: Giữa HK1,
cuối HK1, giữa HK2 và cuối HK2.
An thạnh 2, ngày 24 tháng 10 năm 2009
TM Khối 2-3
6
HOẠT ĐỘNG CỦA GV HOẠT ĐỘNG CỦA HS
1.Ổn đònh : ( 1’ )
2.Bài cũ :(3')
-Gọi HS đọc bài" Các em nhỏ và cụ
già" và trả lời câu hỏi.
?Điều gì gặp trên đường khiến các
bạn nhỏ phải dừng lại?
?Ông cụ gặp chuyện gì buồn?
- Giáo viên nhận xét, cho điểm.
- Nhận xét chung khâu kiểm tra.
3.Bài mới :
Giới thiệu bài : ( 1’ )
- Ghi bảng.
Hoạt động 1 :Luyện

bài và hỏi :
*Câu 1:Con ong, con cá, con chim
yêu những gì ?(Con ong yêu hoa vì
hoa có mật ngọt giúp ong làm mật.
Con cá bơi yêu nước vì có nước cá
mới sống được, bơi lội được.Con chim
ca yêu trời vì chỉ có bầu trời cao rộng
mới cho chim có chỗ bay nhảy, hót
ca.
- Giáo viên gọi học sinh đọc câu hỏi :
- Hát
-2em, Lớp theo dõi nhận
xét.
-Nghe.
-Cá nhân nhắc lại.
-Nghe.
-Học sinh nối tiếp nhau
đọc.
-Nghe.
-Học sinh lắng nghe.
-Cá nhân đọc tiếp nối.
-Nghe
-Cá nhân đọc chú giải.
-Nhóm đọc theo yêu cầu.
-Học sinh đọc tiếp nối 1
lượt bài.
-Lớp đọc đồng thanh.
-Lớp đọc thầm theo yêu
cầu.
-Cá nhân trả lời.

8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status