1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hiện nay, xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu gặp gỡ, giao tiếp của con
người ngày càng cao. Nhưng do bận rộn với công việc nên việc gặp mặt trực tiếp
dường như hơi khó khăn với mọi người. Vì vậy, những năm gần đây một số MXH
rất phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu kết bạn, trò chuyện của con người với nhau.
Đơn cử như mạng Twitter, My space, Facebook…Nhưng ở đây chúng tôi chỉ tập
trung nói về Facebook, bởi Facebook là MXH phổ biến nhất hiện nay với gần một
tỷ lượt người sử dụng trên thế giới (số liệu thống kê cuối năm 2012). Rất nhiều
nhân vật nổi tiếng cũng sử dụng MXH này như Tổng thống Mỹ Barack Obama,
ông hoàng nhạc Pop Michael Jackason, Megan Fox ( nữ diễn viên của
Transformer)… Và cũng từ đó, Facebook đã làm nên một hiên tượng, một cơn sốt
mạnh mẽ trên toàn cầu.
Nhìn lại chặng đường phát triển của Facbook ở Việt Nam chúng ta thấy
rằng, dù mới xuất hiện nhưng Facebook đã nhanh chóng trở nên một trang MXH
phổ biến và ảnh hưởng mạnh mẽ đến một phần không nhỏ của đời sống xã hội.
Theo số liệu từ các công ty nghiên cứu thị trường, Việt Nam được ghi nhận là
nước có lượng người dùng Facebook tăng nhanh nhất thế giới với 146% chỉ trong
6 tháng (01/2012 – 06/2012). Cụ thể hơn, có thời điểm lượng người dùng
Facebook ở Việt Nam tăng thêm 500.000 người chỉ trong hai tuần. Hiện nay, theo
nguồn tin từ trang nguồn http://marketing.24h.com.vn , We Are Social cho rằng,
lượng người dùng Facebook tại Việt Nam đã tăng từ 8,5 triệu người tháng 10/2012
lên 12 triệu người. Như vậy, mỗi tháng có gần 1 triệu người Việt Nam gia nhập
MXH lớn nhất hành tinh này. So sánh tỷ lệ phát triển của MXH Facebook đối với
những phương tiện truyền thông trước đây như điện thoại di động, Internet, truyền
hình hay báo chí thì tỷ lệ phát triển trên là không thể tưởng tượng được, kể cả đối
với những người lạc quan nhất.
2
không phải là thế mạnh cho những người có tuổi. Vì thế những người còn trẻ hoặc
tương đối trẻ đang là những người làm chủ thị trường về MXH Facebook hiện
nay.
Facebook tại Việt Nam đang từng ngày lớn mạnh hơn và ăn sâu hơn vào
tiềm thức của giới trẻ. Không thể khẳng định được Facebook là một thứ xấu hay
tốt mà chỉ là do người dùng sử dụng nó như thế nào mà thôi, lợi ích hay tác hại
của nó sẽ tùy thuộc vào mỗi người sử dụng. Với món ăn tinh thần này thì người sử
dụng có thể ngồi bên máy tính hàng giờ mà không cần quan tâm chuyện xung
quanh như thế nào. Bởi chỉ với một góc nhỏ cho việc cải thiện tinh thần và ống
kính nhỏ nhìn ra thế giới bên ngoài thì Facebook là nơi họ có thể giao lưu và chia
sẻ tâm tư, tình cảm cũng như tự làm mới bản thân mình thông qua các suy nghĩ và
các tác động tích cực từ các hoạt động cộng đồng và sinh hoạt qua thế giới ảo. Một
trong những tiện ích không thể phủ nhận của Facebook là việc chia sẻ thông tin,
hình ảnh của cá nhân hay tập thể, tin tức thời sự đang quan tâm, hay cả những tin
hot vừa xảy ra như tai nạn giao thông hay hỏa hoạn,… với tốc độ tính bằng giây.
Bên cạnh đó, Facebook cũng là nơi để ta có thể bộc lộ cảm xúc với tất cả mọi
người mà không cảm thấy ngại hay xấu hổ vì đơn giản bạn có khoảng không gian
riêng cũng như chia sẻ hoặc giao tiếp riêng với một ai đó. Hay thay vào đó là việc
tìm kiếm các quán ăn ngon, các nơi bán sách báo, tạp chí cũng như là các nơi mua
sắm sinh viên.
Lợi thế là vậy, nhưng Facebook cũng mang lại nhiều tác hại bởi các trang
MXH lại chính là những góc tối và cũng là nơi dễ khiến cho những bạn trẻ chưa
đủ nhận thức dễ đánh mất mình và sa ngã vào các tệ nạn. Bên cạnh đó, còn phải kể
đến tác hại là sự ham mê, Facebook quá thu hút và lôi cuốn nên một bộ phận giới
trẻ hiện nay quá ham mê mà bỏ quên tất cả những công việc khác, việc này làm họ
không chú tâm đến mọi việc xung quanh mình diễn ra như thế nào hay ra làm sao.
Không chỉ là sự ham mê mà Facebook còn là nơi hoạt động của một số thành phần
phản động hay là các hội nhóm mang tính đồi trụy và phản cảm.
4
2. Tổng quan nghiên cứu
Qua tìm hiểu, có một số đề tài, các bài báo, sách đọc, các hội thảo liên quan
đến đề tài của chúng tôi như:
Trong nước:
1. Đề tài “Mức độ sử dụng mạng xã hội của giới trẻ khu vực TP.HCM và ý nghĩa
của nó đối với việc truyền thông tiếp thị” – nghiên cứu của nhóm sinh viên K14
trường ĐH Dân Lập Văn Lang niên khóa 2010-2011 do nhóm sinh viên Lã Thị
Lan, Nguyễn Trường Giang, Lê Huy Khang, Nguyễn Thị Kim Oanh và Võ Vũ
Lâm Quyên thực hiện.
Với đề tài này nhóm sinh viên đã nghiên cứu về mức độ sử dụng các trang
MXH của giới trẻ tại TP.HCM và việc sử dụng truyền thông tiếp thị thay cho
quảng cáo truyền thống trên các MXH này. Trong đề tài có đề cập rõ vấn đề việc
truyền thông tiếp thị trong giai đoạn mới này chỉ thật sự có hiệu quả đối với một
số ngành nghề kinh doanh với quy mô nhỏ và chi phí thấp. Tuy nhiên, người tiêu
dùng chưa quen và chưa thật sự tin tưởng với cách thức mua hàng mới mẻ này
nên giá trị mang lại từ mô hình này cho các doanh nghiệp chưa cao. Và từ đó,
nhóm nghiên cứu đã cho thấy được ý nghĩa hai chiều giữa người bán và người
mua.
So sánh với đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi nhận thấy rằng đề tài
nghiên cứu của nhóm sinh viên K14 có sự giống nhau đó là đều nghiên cứu về
trang MXH và trên cùng địa bàn TP.HCM. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ tập trung
nghiên cứu về MXH Facebook chứ không nghiên cứu trên nhiều trang MXH và
sự tác động của trang mạng này đối với công việc, học tập của sinh viên tại
trường Đại học Tôn Đức Thắng.
2. Đề tài “Tác động của truyền hình đến nhận thức về lối sống của giới trẻ tại
TP.HCM hiện nay” của nhóm sinh viên Lê Xuân Thái, Đoàn Thị Thanh Thảo,
Bùi Tá Thảo Trang, giáo viên hướng dẫn ThS.Tạ Xuân Hoài. Đề tài nghiên cứu
này nói về thực trạng của truyền hình tác động tới đời sống, lối sống của những
6
một công nghệ mới trong lĩnh vực nghiên cứu xã hội, bên cạnh đó tác giả còn đề
cập tới nhiều vấn đề thực thi trong xã hội hiện tại như liệu truyền thông có thể
làm cho những con người cách xa nhau trong xã hội có thể xích lại gần nhau….
Bên cạnh những thuận lợi đi sau nó luôn kèm theo những khiếm khuyết nhất
định, đó là tính hai mặt của truyền thông, nếu sử dụng theo nhu cầu, mục đích
của mỗi cá nhân thì nó sẽ biến tướng theo nhiều hình thức khác nhau. Nhưng vấn
đề cốt lõi ở đây là tác giả muốn chỉ ra sự tương quan giữa truyền thông đại
chúng và những dư luận trong xã hội. Tuy nhiên, bài viết này của tác giả chưa đề
cập gì nhiều đến vấn đề MXH Facebook - MXH số 1 tại Việt Nam và trên thế
giới.
8. Bài viết “Nguy cơ từ mạng xã hội” của tác giả Gia Vũ được đăng trên báo
VNMedia, bài viết đã đề cập tới vấn đề bị hack khi sử dụng các trang MXH.
9. Hội thảo “Mạng xã hội với lối sống của giới trẻ TP.HCM” do Viện nghiên cứu
phát triển TP.HCM thực hiện vào ngày 27/08/2011. Trong hội thảo cũng đã có
nhiều nhà khoa học xã hội đã chỉ ra tính hai mặt của MXH và ảnh hưởng của nó
đến giới trẻ hiện nay.
10. Hội thảo “Khai thác mạng xã hội MXH tại Social Media 2009” do VCCorp,
Vega, Báo mới, Time, Universal tổ chức vào ngày 18/07/2009 tại Hà Nội. Tại
hội thảo các chuyên gia về MXH đã thảo luận, đánh giá xu hướng, khả năng ứng
dụng sức mạnh của MXH trong cuộc sống và khai thác súc mạnh của nó để phục
vụ doanh nghiệp, cộng đồng.
11. Cũng vào ngày 27/08/2011 hội thảo “Mạng xã hội - Nền tảng mở” tại TP.HCM
đã được MXH Zing Me và Việt Nam go.vn đồng tổ chức tại khách sạn New
World. Có thể nói đây là hội thảo đầu tiên và lớn nhất từ trước đến nay do các
nhà phát triển MXH tổ chức. Trong hội thảo cũng đã đề cập việc triển khai chiến
lược phát triển các MXH tại Việt Nam trong tương lai và tạo điều kiện cạnh
tranh với các MXH trên thế giới nhằm mang lại giá trị lớn nhất cho người sử
dụng. Tại hội thảo, ông Vương Quang Khải – Phó Tổng giám đốc VNG, phụ
trách Zing.vn đã cam kết về sự phát triển của Zing.vn: Với lợi thế có tới 6,8 triệu
chứng tự yêu mình. Nghiên cứu đã khảo sát 300 người tham gia và kết quả được
đăng trên tạp chí Personality and Individual Differences.
9
Kết quả cao nhất là việc sử dụng Facebook là Tag bạn bè của mình vào
những bức ảnh hay status của chính mình để có nhiều lượt Like hay thói quen
thường gọi là câu like.
14. Bài nghiên cứu về tình trạng nghiện Facebook của Tiến sĩ Tâm lí học Cecillie
Schou Andreassen của trường Đại học Bergen, Na Uy. (Bergen Facebook
Addition Scale, University of Bergen). Tác giả đã thực hiện cuộc khảo nhằm
xem tình trạng nghiện Facebook của sinh viên tại trường. Cuộc khảo sát được
thực hiện vào tháng 04/2011 với 423 người - 227 phụ nữ và 196 nam giới. Bằng
cách đưa ra 6 câu hỏi để đánh giá xem bạn có hay vào Facebook không và dành
bao nhiêu thời gian cho nó. (Nguồn: Vietnam.net, Trang mục Tin công nghệ, số
ra thứ 6 ngày 25/05/2012).
Nội dung 6 câu hỏi như sau:
1. Bạn thường nghĩ đến Facebook hay định sử dụng nó?
2. Bạn có cảm thấy cần dùng Facebook nhiều hơn nữa không?
3. Bạn dùng Facebook để quên đi nỗi niềm riêng?
4. Bạn đã cố từ bỏ Facebook mà không thành?
5. Bạn có thấy bồn chồn, khó chịu khi không dùng Facebook không?
6. Bạn dùng Facebook nhiều đến nỗi nó có ảnh hưởng xấu đến học tập hay
công việc?
Tiến sĩ Cecillie Schou Andreassen đã đưa ra năm cấp độ đánh giá là: Rất ít,
Ít, Đôi khi, Thường xuyên và Rất thường xuyên. Nếu người trả lời 4/6 câu hỏi
với hai mức độ Thường xuyên và Rất thường xuyên thì đáp án họ đã nghiện
Facebook.
Kết quả nghiên cứu cho biết: người trẻ tuổi hay nghiện Facebook hơn và nữ
giới hay nghiện Facebook hơn nam. Người bất an về tâm lí và ít để ý đến bảo
mật có xu hướng nghiện nhiều hơn vì trên Facebook dễ giao tiếp hơn là gặp mặt
Nhóm ngành Khoa học – Kĩ thuật gồm 2 khoa: Khoa học ứng dụng (chuyên
ngành Công nghệ hóa học) và Điện – Điện tử ( chuyên ngành Kĩ thuật điện tử
- truyền thông).
5. Nội dung nghiên cứu
Qua cuộc nghiên cứu này chúng tôi muốn tìm hiểu những nội dung:
- Vì sao Facebook là sự lựa chọn của sinh viên với tỉ lệ rất đông?
- Nghiên cứu những tác động của Facebook đến sinh viên trong việc học tập của
sinh viên tại trường.
- Lợi ích mang lại từ MXH Facebook và các ứng dụng của chúng vào trong học
tập của sinh viên.
- Đề xuất các giải pháp cho việc sử dụng MXH Facebook có hiệu quả hơn trong
việc học tập.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phướng pháp nghiên cứu định tính
và định lượng.
6.1. Phương pháp chọn mẫu:
Dung lượng mẫu là 320 sinh viên. Chúng tôi chia đều cho 2 nhóm ngành
Kinh tế - Xã hội và nhóm Khoa học – Kĩ thuật. Mỗi nhóm ngành chúng tôi lựa
chọn và chia đều khảo sát cho sinh viên năm 1 và năm 3 làm đại diện cho sinh
viên của 4 năm học tại trường.
Ở đây chúng tôi lựa chọn sinh viên năm 1 và sinh viên năm 3 là vì 1 số
nguyên nhân sau:
- Có sự so sánh về việc sử dụng MXH Facebook giữa sinh viên mới vào trường
(chưa quen cơ sở vật chất, điều kiện sinh hoạt, …) và sinh viên đã học ở trường
được 2 năm, nhằm xem xét có sự khác nhau hay không.
- Mặt khác, do tình hình từ thực tiễn là trong thời gian thực hiện đề tài nghiên
cứu này thì sinh viên năm 4 ở các Khoa/Ngành đang trong quá trình thực tập
Tốt nghiệp nên việc gặp gỡ thu thập thông tin cho đề tài là khá khó khăn.
12
- Hầu hết sinh viên cả 2 nhóm ngành Khoa học - Kĩ thuật và Kinh tế - xã hội đều
sử dụng MXH Fcaebook. Tuy nhiên, do đặc thù của nhóm ngành học cần nhiều
thông tin, kiến thức đời sống nên sinh viên nhóm ngành Kinh tế - xã hội sử dụng
MXH Facebook nhiều hơn hẳn sao với nhóm ngành còn lại.
- Các yếu tố: môi trường học tập, sự quan tâm của gia đình có ảnh hưởng đến
nhận thức, thái độ, hành vi của sinh viên đối với việc sử dụng MXH Facebook.
8. Khung phân tích
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
15
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
Cơ sở lí luận và phương pháp luận
1.1. Các khái niệm liên quan
1.1.1. Khái niệm MXH Facebook
Khái niệm MXH (Social Network Site –SNS-)
Theo nguồn từ http://www.tinhoctre.org thì MXH hay còn gọi là MXH ảo
là dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên Internet lại với nhau với nhiều
mục đích khác nhau mà không phân biệt không gian và thời gian.
Khái niệm Facebook
Facebook là một website MXH truy cập miễn phí do Mark Zuckerberg –
giám đốc công ty Facebook Inc điều hành và sở hữu tư nhân. Trong đó, Facebook
cho phép người dùng có thể tham gia các mạng lưới được tổ chức theo thành phố,
Alto, California. Công ty đã bỏ chữ The ra khỏi tên sau khi mua được tên miền
Facebook.com vào năm 2005 với giá 200.000 USD.
Facebook ra mắt phiên bản trung học vào tháng 9 năm 2005, Zuckerberg
gọi nó là một bước logic tiếp theo. Vào thời gian đó, các mạng của trường trung
học bắt buộc phải được mời mới được gia nhập. Facebook sau đó mở rộng quyền
đăng ký thành viên cho nhân viên của một vài công ty, trong đó có Apple
Inc. và Microsoft. Tiếp đó vào ngày 26 tháng 9 năm 2006, Facebook mở cửa cho
mọi người trên 13 tuổi với một địa chỉ email hợp lệ.
Lượng người truy cập Facebook tăng ổn định từ 2009. Trong ngày 13 tháng
3 năm 2010 số người truy cập Facebook đã vượt qua lượng người truy cập vào
Google. Thế giới hiện có hơn 7 tỷ người và trung bình 1/7 trong số đó sử dụng
Facebook, một con số rất đáng tự hào với một dịch vụ mạng xã hội được phát triển
từ năm 2003. Trước đó, Facebook đạt 100 triệu người dùng vào năm 2008 và sau
17
đó thì tăng lên nhanh chóng. Trong số hơn 1 tỷ người dùng Facebook, có 600 triệu
người dùng truy cập từ di động. Độ tuổi trung bình của người dùng mới là 22 tuổi,
năm ngoái (2012) là 23 tuổi và 4 năm trước (2009) là 26 tuổi, ngày càng có nhiều
người trẻ sử dụng Facebook. Ngoài ra, Facebook có tổng cộng 1,13 nghìn tỷ like,
219 tỷ hình ảnh được tải lên dịch vụ và 17 tỷ hình được gắn vị trí địa lý. Mục đích
trong tương lai của Mark Zuckerberg sẽ là kết nối hàng tỷ người tiếp theo với
nhau. (Số liệu đăng trên báo chí ngày 04-04-2013).
Facebook ở Việt Nam
(Nguồn: http://vinh-incom.vn/home/tin-tuc/facebook-chinh-thuc-vuot-moc-
12-trieu-nguoi-dung-o-viet-nam/103 ).
Mạng xã hội lớn nhất hành tinh Facebook đã chính thức vượt mốc 12 triệu
người dùng tại thị trường Việt Nam trong một báo cáo được đưa ra bởi trang
WeAreSocial.
Ngoài ra, theo một nguồn tin khác thu thập từ những người làm việc cho
Facebook Việt Nam được trang công nghệ Techinasia tập hợp thì con số thực tế
nghĩa khác nhau của các nhà tâm lý học về thái độ. Năm 1918, hai nhà tâm lý học
người Mỹ là W.I.Thomas và F.Znaniecki cho rằng: Thái độ là định hướng chủ
quan của cá nhân có hành động hay không hành động khác mà được xã hội chấp
nhận. Thái độ là trạng thái tinh thần của cá nhân đối với một giá trị.
Trong từ điển Tiếng Việt, thái độ được định nghĩa là: Cách nhìn nhận, hành
động của cá nhân về một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình huống được
giải quyết. Đó là những tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài ý nghĩ, tình cảm
của cá nhân đối với con người hay một sự việc nào đó.
Trong từ điển các thuật ngữ Tâm lý và Phân tâm học xuất bản tại New
York năm 1996 cho rằng: Thái độ là một trạng thái ổn định bền vững, do tiếp thu
được từ bên ngoài, hướng vào sự ứng xử một cách nhất quán đối với một nhóm
đối tượng nhất định, không phải như chúng ta ra sao mà chúng ta nhận thức ra
sao. Một thái độ được nhận biết ở sự nhất quán của những phản ứng đối với một
19
nhóm đối tượng. Trạng thái sẵn sàng có ảnh hưởng trực tiếp lên cảm xúc và hành
động liên quan đến đối tượng.
Theo từ điển Xã hội học thì: Thái độ là nền tảng ứng xử xã hội của các cá
nhân, là một hoạt động tâm lý của cá nhân, bao hàm sự lý giải và biến đổi các
khuôn mẫu xã hội qua các kinh nghiệm cá nhân đều có các cách ứng xử, thái độ
khác nhau và thái độ này bao giờ cũng chịu sự chi phối bới các yếu tố xã hội nhất
định như: yếu tố tâm lý xã hội, dư luận xã hội, phong tục tập quán và những thái
độ này được bày tỏ sau khi con người xem xét những yếu tố xã hội xung quanh có
cho phép hay không, có phù hợp hay không.
Như vậy, các từ điển định nghĩa về thái độ đều cho rằng đó là cách ứng xử
của từng cá nhân đối với các vấn đề trong xã hội.
1.1.4. Khái niệm sinh viên
Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng hay trung cấp
chuyên nghiệp. Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề,
chuẩn bị cho công việc sau này của họ. Họ được xã hội công nhận qua những bằng
người học cần phải có trách nhiệm với chính bản thân mình.
Trong từ điển Tiếng Việt, hoạt động học được hiểu là hoạt động tiếp thu
những tri thức lý luận, khoa học. Nghĩa là việc học không chỉ dừng lại ở việc nắm
bắt những khái niệm đời thường mà học phải tiến đến những tri thức khoa học,
những tri thức có tính chọn lựa cao đã được khái quát hoá, hệ thống hoá.
Để hình thành hoạt động học tập cần phải:
Hình thành động cơ học tập
Hình thành mục đích học tập
Hình thành các hành động học tập
1.1.7. Khái niệm Ảnh hưởng
Ảnh hưởng là mức độ tác động từ vật này lên vật khác, hành vi người này
lên hành vi người khác. Trong xã hội loài người, mỗi cá nhân chịu sự ảnh hưởng
sâu sắc của những con người sự vật xung quanh và đồng thời tạo ảnh hưởng theo
21
chiều ngược lại, bao gồm ảnh hưởng tích cực và ảnh hưởng tiêu cực. Mức độ thể
hiện thứ bậc chịu tác động nhiều hay ít và phụ thuộc vào đặc điểm cá nhân, cường
độ tác động và tính thường xuyên.
(Nguồn: http://moore.vn/Tin-tuc/Tin-thi-truong/Mang-xa-hoi/433/Facebook-da-
tham-nhap-sau-vao-doi-song-cua-chung-ta-nhu-the-nao.html).
1.1.8. Khái niệm Mức độ ảnh hưởng của Facebook
Mức độ ảnh hưởng của Facebook là mức độ tác động của MXH Facebook
lên hành vi của người sử dụng cũng bao gồm tác động tích cực và tác động tiêu
cực. Để đo lường mức độ ảnh hưởng của Facebook, người ta cần xem xét các yếu
tố biểu hiện mức độ ảnh hưởng của Facebook. Các biểu hiện này là: sự thõa mãn
cuộc sống, niềm tin xã hội, sự tham gia vấn đề dân sự và chính trị.
(Nguồn: http://sohoa.vnexpress.net/tin-tuc/doi-song-so/muc-do-anh-huong-cua-
facebook-2769613.html).
1.2. Hướng tiếp cận lí thuyết
1.2.1. Tiếp cận lí thuyết nhu cầu của Maslow
hiệu chỉnh thành 8 bậc như sau:
- Nhu cầu sinh lí (cơ bản) (basic needs)
- Nhu cầu về an toàn (safety needs)
- Nhu cầu về xã hội (social needs)
- Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs)
- Nhu cầu về nhận thức (cognitive needs)
- Nhu cầu về thẩm mỹ (aesthetic needs)
- Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs)
- Sự siêu nghiệm (transcendence)
Hình 1.2. Tháp nhu cầu của Maslow – Nguồn Giaovien.net
Trong môi trường xã hội thay đổi và ngày được nâng cao như hiện nay thì
nhu cầu về cái tôi cá nhân và tự thể hiện bản thân càng được coi trọng và đề cao.
Trong đó, Maslow nhận định về nhu cầu xã hội như sau: Nhu cầu xã hội còn được
24
gọi là nhu cầu mong muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó hoặc nhu
cầu về tình cảm, tình thương. Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như
việc tìm kiếm, kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào
đó, đi làm việc, đi chơi picnic, tham gia các câu lạc bộ, làm việc nhóm…và sợ bị
cô độc, bị coi thường. Nội dung của nhu cầu này bao gồm các vấn đề tâm lí như:
được dư luận xã hội thừa nhận, sự gần gũi, yêu thương, ủng hộ và mong muốn
được hòa nhập với cộng đồng, tình bạn, tình yêu, tình thân ái là nội dung cao nhất
của nhu cầu này. Chính vì thế mà các trang MXH ra đời, và Facebook đã đáp ứng
đầy đủ những nhu cầu thực tại này nên được xã hội và đặc biệt là giới trẻ quan tâm
đến. Cũng có thể là do nhu cầu của xã hội, nhu cầu của bản thân hay bản thân của
họ muốn chứng tỏ, khẳng định mình bằng các lời lẽ, hình ảnh trên trang MXH
Facebook. (Nguồn Giaovien.net)
1.2.2. Tiếp cận lí thuyết lựa chọn hợp lí
Thuyết lựa chọn hợp lí có nguồn gốc từ triết học, nhân học và kinh tế học
đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí, tìm kiếm thông tin, tài liệu, sách báo… như thế
nào.