i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ “Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam” là kết quả của quá trình học tập,
nghiên cứu khoa học độc lập, nghiêm túc; các số liệu sử dụng trong luận văn là
trung thực, có nguồn gốc rõ ràng; các giải pháp được rút ra từ cơ sở lý luận và quá
trình nghiên cứu thực tiễn.
Hà nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Cù Thi Hồng Quyên
ii
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
LỜI MỞ ĐẦU 1
4
CHƯƠNG 1 5
TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 5
CHƯƠNG 2 24
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI
NGÂN HÀNG TMCP ĐT VÀ PT VIỆT NAM (BIDV) 24
CHƯƠNG 3 63
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NHĐT TẠI BIDV 63
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt Nghĩa tiếng Anh
1 ACB Ngân hàng thương mại cổ
phần á châu
Asia commercial Bank
2 ATM Máy rút tiền tự động Automatic teller machine
3 BIDV Ngân hàng thương mại cổ
phần Đầu tư và Phát triển Việt
25 NHBL Ngân hàng bán lẻ
26 NHĐT Ngân hàng điện tử
27 NHĐT&PT Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
28 NHNN Ngân hàng Nhà nước
29 NHTM Ngân hàng thương mại
30 PGD Phòng Giao dịch
31 PIN Personal Indentification
number
32 POS Thiết bị thanh toán điện tử Point of sale
33 PT Phát triển
34 SMS Dịch vụ tin nhắn ngắn
Short Message Services
35 Techcombank Ngân hàng TMCP Kỹ Thương
Việt Nam
Technological and
Commercial Joint Stock Bank
36 TM Thương mại
37 TMCP Thương mại cổ phần
38 TMĐT Thương mại điện tử
39 VBARD Ngân hàng Nông nghiệp và
phát triển nông thôn Việt Nam
Vietnam Bank for
Agriculture and Rural
Development
40 VCB Ngân hàng thương mại cổ phần
Ngoại thươngViệt Nam
Joint Stock Commercial Bank
for Foreign Trade of Vietnam
iv
41 VIB Ngân hàng quốc tế Vietnam international
1
LỜI MỞ ĐẦU
Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứu của tác giả, tại Việt
Nam đã có một số đề tài nghiên cứu như sau:
Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Ngoại Thương
Việt Nam, luận văn thạc sỹ kinh tế của Huỳnh Thị Lệ Hoa trường Đại học kinh tế
TP Hồ Chí Minh năm 2004: Luận văn nghiên cứu thực trạng phát triển dịch vụ
NHĐT tại NH ngoại thương Việt nam, phân tích các sản phẩm dịch vụ NHĐT mà
Ngân hàng Ngoại thương đang cung cấp và đưa ra giải pháp để phát triển dịch vụ
NHĐT tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam; thời gian nghiên cứu của đề tài là từ
2000 đến 2003.
Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng TMCP Á Châu, luận văn
thạc sỹ kinh tế của Lưu Thanh Thảo Trường Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí
Minh năm 2008: Đề tài phân tích thực trạng, những thuận lợi, thành công cũng như
những khó khăn, hạn chế trong việc phát triển dịch vụ tại Ngân hàng TMCP Á
Châu từ đó đề xuất các giải pháp phát triển dịch vụ NHĐT tại Ngân hàng TMCP Á
Châu, thời gian nghiên cứu của đề tài là từ 2003 đến 2007
Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế, luận văn tiến sỹ kinh tế của Phạm Thu Hương – Trường Đại học
Ngoại Thương năm 2012: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về phát triển
dịch vụ NHĐT trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế; phân tích thực trạng các
nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển dịch vụ NHĐT và các giải pháp phát triển dịch
vụ NHĐT tại Việt Nam trong bối cảnh hộp nhập kinh tế quốc tế.
Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng đầu tư và phát
triển Việt Nam giai đoạn 2011-2015, luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Kim Thoa
năm 2010: Phân tích thực trạng, những thành công, thuận lợi cũng như khó khăn
trong quá trình phát triển ngân hàng điện tử tại BIDV, từ đó đề xuất giải pháp nhằm
2
hoàn thiện và phát triển ngân hàng điện tử tại BIDV trong thời gian tới. Thời gian
thì 1 người sử dụng Internet và trung bình mỗi người sử dụng 02 thuê bao điện
thoại. Cơ hội mở ra để khai thác dịch vụ ngân hàng điện tử đối với các ngân hàng là
rất lớn. Cho tới bây giờ có thể nói rằng dịch vụ này hiện đang rất phát triển tại các
ngân hàng TM Việt nam. Mỗi ngân hàng đều có thế mạnh riêng của mình trong việc
phát triển dịch vụ này. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội thì khó khăn mà các ngân
hàng gặp phải cũng không phải là nhỏ như tâm lý lo ngại rủi ro, thói quen tiêu dùng
tiền mặt, cơ sở hạ tầng chưa phát triển đồng đều, thiếu nguồn nhân lực có chất
lượng chuyên môn cao ,đặc biệt, thời gian gần đây những lo ngại về rủi ro đã làm
dịch vụ này phát triển trầm lắng hơn.
Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam là một ngân hàng lâu đời
tại Việt nam với bề dày 56 năm hoạt động. Ngân hàng có các chi nhánh ở khắp các
tỉnh thành trong cả nước. Tuy nhiên xuất thân từ một ngân hàng nhà nước mở ra
phục vụ cho nhu cầu đầu tư xây dựng ở Việt nam, trước đây Ngân hàng TMCP Đầu
tư và phát triển Việt Nam luôn chú trọng vào các dịch vụ ngân hàng truyền thống
mà chưa chú trọng phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại. Có thể nói Ngân hàng
TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam đã tham gia phát triển dịch vụ ngân hàng điện
tử chậm hơn so với các ngân hàng thương mại khác. Do đó, việc phát triển ngân
hàng điện tử tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam gặp rất nhiều khó
khăn, thách thức đó là thách thức về cạnh tranh, thách thức về công nghệ, thách
thức về trình độ chuyên môn song bên cạnh đó cơ hội mở ra cũng rất lớn. Với
mục đích nghiên cứu sâu hơn về thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại
BIDV, nghiên cứu các cơ hội cũng như thách thức để phát triển dịch vụ ngân hàng
điện tử tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam để đó từ đó đóng góp
những giải pháp nhằm phát triển hơn nữa các dịch vụ này, tác giả đã chọn đề tài
“Phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử tại ngân hàng TMCP ĐT và PT Việt nam”
4
Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích thực trạng, những thành công, những mặt hạn chế, những cơ hội
cũng như thách thức trong quá trình phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại BIDV,
từ đó đề xuất giải pháp nhằm phát triển ngân hàng điện tử tại BIDV trong thời gian tới.
phân phối sản phẩm mới, giúp ngân hàng ngày càng đa dạng hoá sản phẩm và mở
rộng phạm vi hoạt động của mình. Do vậy, khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử
được xuất phát từ khái niệm TMĐT, theo tài liệu đào tạo về TMĐT của Microsoft
(Fundamentals of E-business), khái niệm TMĐT được hiểu như sau:
TMĐT là kinh doanh trên môi trường điện tử nhằm kết hợp người bán và
người mua. Nó tích hợp dữ liệu, liên lạc điện tử và dịch vụ bảo mật để tạo thuận lợi
cho công việc kinh doanh. TMĐT là một tập hợp công nghệ, ứng dụng và quy trình
kinh doanh nhằm liên kết các tổ chức, khách hàng và cộng đồng thông qua những
giao dịch điện tử. Nhìn chung TMĐT là các dạng của giao dịch thương mại dựa trên
quả trình xử lý và chuyển giao số liệu số hoá bao gồm cả văn bản, âm thanh và hình ảnh.
Hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm dịch vụ ngân hàng
điện tử. Có quan niệm cho rằng dịch vụ ngân hàng điện tử là loại hình dich vụ ngân
hàng truyền thống được cung cấp cho khách hàng một cách tự động thông qua các
kênh truyền thông điện tử tương tác (FFIEC, 2003).
Lại có quan điểm cho rằng dịch vụ ngân hàng điện tử là dịch vụ cho phép
khách hàng có khả năng truy nhập từ xa nhằm: thu thập thông tin; thực hiện các
giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lưu ký tại Ngân hàng, và đăng
ký sử dụng các dịch vụ mới. Theo cách hiểu này, dịch vụ Ngân hàng điện tử chính
là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay sử dụng dịch
vụ Ngân hàng thông qua việc kết nối mạng máy vi tính của mình với Ngân hàng.
6
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng đã định nghĩa về dịch vụ ngân hàng
điện tử là: “Các dịch vụ và sản phẩm ngân hàng hiện đại và đa tiện ích được phân
phối đến khách hàng bán buôn và bán lẻ một cách nhanh chóng (trực tuyến, liên tục
24h/ngày và 7 ngày/tuần, không phụ thuộc vào không gian và thời gian) thông qua
kênh phân phối (Internet và các thiết bị truy nhập đầu cuối khác như máy tính, máy ATM,
POS, điện thoại để bàn, điện thoại di động…) được gọi là dịch vụ ngân hàng điện tử”
Như vậy, qua các khái niệm đã nêu ở trên có thể hiểu “dịch vụ ngân hàng
điện tử là các dịch vụ ngân hàng được cung cấp thông qua các phương tiện
điện tử”. Trong đó, theo Điều 4 Luật Giao dịch điện tử Việt Nam 2005 phương tiện
Trong kinh tế, phát triển là sự gia tăng về số lượng, mở rộng quy mô và nâng
cao chất lượng một thành tố. Phát triển bao hàm cả sự tăng trưởng về số lượng và
nâng cao chất lượng.
Đối với các dịch vụ ngân hàng nói chung, phát triển được hiểu là sự gia tăng
về loại hình dịch vụ, về tiện ích cung cấp, về giá trị giao dịch, về quy mô và chất
lượng dịch vụ ngân hàng.
Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử là sự gia tăng về các loại hình dịch
vụ ngân hàng điện tử, về tiện ích cung cấp, về giá trị giao dịch, về quy mô và chất
lượng dịch vụ của các loại hình dịch vụ ngân hàng điện tử.
1.1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của dịch vụ NHĐT
a. Chỉ tiêu về số lượng
Số lượng loại hình dịch vụ NHĐT và tiện ích cung cấp
Mỗi một loại hình dịch vụ NHĐT đều có ưu và nhược điểm riêng. Để đánh
giá sự phát triển dịch vụ Ngân hàng điện tử của một ngân hàng phải kể đến số lượng
loại hình dịch vụ mà ngân hàng đó cung cấp.
Bên cạnh đó, dịch vụ NHĐT được cung cấp qua các kênh điện tử. Do đó, để
đánh giá được sự phát triển của dịch vụ NHĐT, việc xem xét khả năng cung ứng
các tiện ích của dịch vụ NHĐT thông qua các kênh điện tử là cần thiết.
8
Số lượng và giá trị giao dịch
Phát triển ngân hàng điện tử phải được thể hiện thông qua số lượng giao dịch
cũng như giá trị giao dịch. Dịch vụ NHĐT ra đời nhằm giúp khách hàng có thể thực
hiện giao dịch ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử. Vì vậy sự phát triển
dịch vụ này thể hiện thông qua số lần khách hàng sử dụng dịch vụ này thay vì đến
quầy giao dịch của ngân hàng.
Ngoài ra, dịch vụ NHĐT cung cấp các tiện ích thông tin và tiện ích về giao
dịch. Do đó, để đánh giá sự phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử không chỉ dựa trên
số lượng giao dịch mà phải dựa trên cả giá trị giao dịch, khả năng đáp ứng các hạn
mức khác nhau của giao dịch NHĐT.
b. Chỉ tiêu về chất lượng
tiếp nhận công nghệ của khách hàng và do đó phụ thuộc vào tính dễ dàng sử dụng
của dịch vụ.
Dịch vụ NHĐT là một quá trình khép kín nên chất lượng dịch vụ cũng thể
hiện ở mức độ tự động hóa, thời gian xử lý giao dịch và khả năng bao phủ của dịch vụ.
c. Các chỉ tiêu về tăng trưởng
Ngoài các chỉ tiêu về số lượng và chất lượng, việc đánh giá sự phát triển dịch
vụ NHĐT phải dựa trên các chỉ tiêu về tỷ lệ tăng trưởng như tỷ khách hàng sử dụng
dịch vụ/ tổng khách hàng, tỷ lệ tăng trưởng của dịch vụ ngân hàng qua các năm,…
1.2. Sự phát triển của dịch vụ ngân hàng điện tử
1.2.1. Các giai đoạn phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử
Có thể nói dịch vụ NHĐT ra đời vào năm 1989 khi ngân hàng Well Fargo
của Mỹ lần đầu tiên cung cấp dịch vụ ngân hàng qua mạng. Cho đến nay qua rất
nhiều nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng, hệ thống ngân hàng điện tử đã trở nên
hoàn thiện, hiện đại đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất. Nhìn
chung, hệ thống NH ĐT phát triển trải qua các giai đoạn sau:
- Website quảng cáo (Brochure – Ware) là hình thái đơn giản nhất của ngân
hàng điện tử, hầu hết các ngân hàng đều bắt đầu xây dựng ngân hàng điện tử theo
10
hình thái này. Thực chất là các ngân hàng xây dựng một Website quảng cáo, trên đó
đăng tải các thông tin về ngân hàng mình, các sản phẩm, dịch vụ mà ngân hàng
cung cấp cũng như các thông tin chỉ dẫn, liên lạc Mọi giao dịch ngân hàng vẫn
được thực hiện qua kênh phân phối truyền thống đó là các chi nhánh và phòng giao dịch.
- Thương mại điện tử ( E- Commerce ): Ngân hàng sử dụng internet như một
kênh phân phối mới cho những dịch vụ truyền thống như xem thông tin tài khoản,
nhận giao dịch chứng khoán internet đóng vai trò là dịch vụ cộng thêm để tạo điều
kiện thuận lợi cho khách hàng trong việc kiểm tra các giao dịch tài chính đã thực hiện.
- Quản lý điện tử (E- Business) trong hình thái này các xử lý cơ bản của ngân
hàng ở cả khía cạnh khách hàng và người quản lý đều được tích hợp trên internet và
các kênh phân phối khác. Giai đoạn này đánh dấu sự phát triển về sản phẩm dịch vụ
cũng như chức năng của ngân hàng. Các sản phẩm được phân biệt theo nhu cầu và
1997. Trung Quốc mới tham gia ngân hàng trực tuyến từ năm 2000 nhưng cũng đã
có rất nhiều cải tiến chiến lược trong lĩnh vực này.
Ngân hàng điện tử, đặc biệt là internet-banking, sản phẩm ngân hàng trực
tuyến đã tạo một bộ mặt mới cho ngành ngân hàng và có những ảnh hưởng đáng kể
trong thị trường tài chính, ngân hàng. Theo thống kê trong báo cáo mới đây của
Hiệp hội viễn thông quốc tế có khoảng 2,4 tỷ người sử dụng internet tương đương
12
với 34.3% dân số (hơn 1/3 dân số thế giới), trong đó có hơn 1 tỷ người sử dụng dịch
vụ ngân hàng điện tử. Điều này cho thấy tiềm năng phát triển ngân hàng theo hướng
hiện đại, một thế giới mà đồng tiền điện tử thống trị và mang lại hiệu quả tối ưu nhất.
1.2.3. Sự phát triển ngân hàng điện tử tại Việt Nam
1.2.3.1. Tiềm năng thị trường
Dân số việt nam hiện nay có khoảng 91,5 triệu người trong đó có khoảng
35% người dưới 35 tuổi.
Theo thống kê của Vụ thanh toán- Ngân hàng nhà nước, ước tính đến thời
điểm hiện tại có khoảng 20% dân số Việt nam có tài khoản tại các ngân hàng.
Số lượng người sử dụng Internet liên tục gia tăng một cách mạnh mẽ. Hiện
nay, có khoảng 31 triệu người Việt Nam sử dụng internet, chiếm khoảng 1/3 người
Việt Nam. Việt Nam đang là nước có sự phát triển internet nóng nhất thế giới với
28 triệu lượt người dùng internet/tháng (theo Tổng cục thống kê). Theo VTC, Việt
Nam là 1 trong 20 nước sử dụng internet nhiều nhất.
Số lượng thuê bao điện thoại là 214 triệu, trong đó 188 triệu là thuê bao điện
thoại di động. Do di động chiếm đa số nên tính trung bình, tốc độ phát triển mới
thuê bao điện thoại năm 2013 đạt tỷ lệ 18%.
1.2.3.2. Quá trình phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử ở Việt nam
Thực tế, các ngân hàng Việt Nam đã quan tâm đến phát triển các dịch vụ
ngân hàng điện tử từ khoảng 20 năm trở lại đây. Tuy nhiên trong thời gian đầu, mức
độ ứng dụng dịch vụ này còn khá hạn chế.
Khái niệm ngân hàng điện tử thực sự được biết đến khi VCB triển khai dịch
vụ thẻ ghi nợ nội địa đầu tiên vào năm 1994.
mại cổ phần có sự bứt phá rất mạnh trong mảng dịch vụ này.
14
Biểu đồ 1.2: Mức độ cung cấp dịch vụ NHĐT của các NH tại Việt nam
(Nguồn: Tài liệu đào tạo dịch vụ NHĐT của BIDV)
1.2.3.3. Một số dịch vụ ngân hàng điện tử tại Việt Nam hiện nay
a. Dịch vụ Ngân hàng điện tử qua máy giao dịch tự động (ATM
banking)
ATM ( Automatic Teller Machine) là thiết bị viễn thông được máy tính hóa
của các ngân hàng nhằm cung cấp một giao dịch ngân hàng an toàn trong môi
trường công cộng mà không cần đến giao dịch viên.
Các tiện ích mà ATM banking mang lại có thể kể đến như: đổi mã PIN, rút
tiền mặt từ tài khoản, vấn tin số dư tài khoản, chuyển khoản cùng hệ thống ngân
hàng. Ngoài ra một số loại máy ATM còn có thể cung cấp các dịch vụ như nhận tiền
mặt nộp vào tài khoản, nhận séc, in séc trắng, thanh toán hóa đơn, nạp tiền vào điện
thoại
b. Dịch vụ Ngân hàng điện tử qua điểm chấp nhận thẻ (POS banking)
40
%
26
%
67
%
%
76
%
15
POS banking là phương thức cung cấp dịch vụ ngân hàng qua máy POS tại
các điểm bán hàng ( Point of Sale). Máy POS dùng để cung cấp ngân hàng điện tử
là hệ thống điện tử dùng tại các điểm bán hàng có khả năng đọc thẻ và được nối tới
một trung tâm dữ liệu tài khoản để thực hiện chức năng thanh toán thẻ.
- Thanh toán hóa đơn điện, nước, điện thoại,…
- Thanh toán thẻ tín dụng
- Mua hàng trực tuyến (mới chỉ có Techcombank, DongA bank)
e. Dịch vụ ngân hàng điện tử qua điện thoại cố định
(Telephonebanking)
Telephonebanking là hệ thống tự động trả lời khách hàng hoạt động 24h/24h.
Khách hàng ấn vào các phím trên bàn phím điện thoại theo mã mà ngân hàng cung
cấp quy định trước để yêu cầu hệ thống trả lời các thông tin cần thiết.
Dịch vụ ngân hàng điện tử qua điện thoại cố định được cung cấp qua hệ thống
máy chủ và phần mềm quản lý đặt tại ngân hàng liên kết với khách hàng thông qua
tổng đài của dịch vụ. Thông qua các phím chức năng được định nghĩa trước khách
hàng sẽ được cung cấp dịch vụ mọi lúc, mọi nơi kể cả ngoài giời hành chính.
Những tiện ích mà Telephone banking mang lại phải kể đến cung cấp thông
tin tài khoản, bảng kê giao dịch, báo nợ, báo có, cung cấp các thông tin về ngân
dịch vụ hỗ trợ khách hàng…Dịch vụ này hiện đang triển khai tại Ngân hàng TMCP
Á Châu (ACB), Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank),…
f. Dịch vụ ngân hàng tại nhà (Home banking)
Ứng dụng, phát triển home-banking là bước phát triển chiến lược của các
Ngân hàng thương mại Việt Nam trước sức ép lớn của tiến trình hội nhập.
Homebanking được xây dựng trên nền tảng là phần mềm ứng dụng
( Software base) và nền tảng công nghệ Web (Web base) thông qua hệ thống máy
chủ, mạng internet, máy tính con của khách hàng, thông tin tài chính sẽ được thiết
lập, mã hoá, trao đổi và xác nhận.
17
Home banking cung cấp các dịch vụ ngân hàng thông qua kết nối đường
truyền trực tiếp từ khách hàng đến ngân hàng. Các dịch vụ tương tự như cung cấp
trên internet banking, ngoại trừ dịch vụ thanh toán trực tuyến. Loại hình này
thường chỉ phục vụ đối tượng khách hàng doanh nghiệp.
g. Trung tâm chăm sóc khách hàng (Call center)
Call center là dịch vụ giao dịch với ngân hàng qua điện thoại. Khách hàng
Là một phần của thương mại điện tử, phát triển thương mại điện tử chịu ảnh
hưởng rất nhiều từ chính sách phát triển thương mại điện tử của chính phủ. Những
chính sách như đào tạo, tuyên truyền nâng cao ý thức của người dân về TMĐT, đầu
tư phát triển công nghệ hỗ trợ thương mại điện tử, cung cấp các dịch vụ công trực
tuyến, phát triển môi trường ngành…sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của
TMĐT. Như vậy chính sách TMĐT tốt sẽ thúc đẩy TMĐT nói chung phát triển và
thúc đẩy dịch vụ ngân hàng điện tử phát triển nói riêng.
1.3.1.4. Hệ thống thanh toán điện tử
Có thể nói một trong những vai trò quan trọng nhất của ngân hàng đó là cung
cấp dịch vụ thanh toán. Cùng với sự phát triển của công nghệ, các dịch vụ thanh
toán qua kênh điện tử ngày càng phát triển đa dạng và phong phú. Hệ thống thanh
toán điện tử cơ bản bao gồm hệ thống kết nối giữa ngân hàng trung ương và ngân
hàng thượng mại và các tổ chức tài chính; hệ thống thanh toán kết nối giữa các
ngân hàng thương mại với nhau; hệ thống thanh toán kết nối giữa các chi nhánh,
phòng giao dịch với hội sở chính của các NHTM (hệ thống thanh toán nội bộ); hệ
thống thanh toán kết nối giữa khách hàng với ngân hàng. Hệ thống thanh toán điện
tử có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử. Hệ thống
thanh toán điện tử càng phong phú đa dạng càng thúc đẩy dịch vụ NHĐT phát triển.
1.3.1.5. Áp lực cạnh tranh quốc tế
Trong bối cảnh hội nhập diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, sự tham gia của các
ngân hàng nước ngoài ngày càng nhiều làm gia tăng áp lực cạnh tranh khiến các
19
nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng trong nước buộc phải đổi mới sản phẩm dịch vụ
của mình theo hướng hiện đại hóa. Do đó có thể xem áp lực cạnh tranh quốc tế có
tác động tích cực đến sự phát triển của các dịch vụ ngân hàng hiện đại trong đó có
dịch vụ NHĐT.
1.3.1.6. Tâm lý, văn hóa người tiêu dùng
Có thể nói văn hóa sử dụng tiền mặt của người tiêu dùng ảnh hưởng rất lớn
đến sự phát triển của dịch vụ NHĐT. Thói quen này xuất phát từ sự tiện lợi của tiền
mặt của cuộc sống xã hội đang phát triển khi mà các nhà cung cấp bán lẻ, hộ kinh
lượng và chất lượng. Có thể thấy, nhiều phần mềm mới còn chứa tham số rất lớn để
mỗi khi ngân hàng muốn phát triển một dịch vụ, sản phẩm sẽ dễ dàng hơn, chỉ cần
định nghĩa tham số là có thể tạo sản phẩm mới mà không phải sửa thẳng vào code
của chương trình.
Với một core banking hiện đại, khách hàng chỉ cần có một mã duy nhất ở
ngân hàng là có thể giao dịch với rất nhiều sản phẩm, và ở bất cứ điểm giao dịch
trong cùng hoặc không trong cùng một hệ thống. Core banking hiện đại phải đáp
ứng việc quản lý chặt chẽ, đầy đủ, vận hành nhanh và đáp ứng tính “mở” khi Ngân
hàng muốn triển khai thêm một số dịch vụ khác nữa (Mobile Banking, Internet
Banking, ATM …) chính vì vậy để xây dựng hệ thống ngân hàng điện tử hoàn hảo
thì đầu tư tạo dựng một core banking hiện đại là điều kiện vô cùng cần thiết.
1.3.2.3. Khả năng kết nối công nghệ giữa các đơn vị trong ngân hàng
Trong quá trình cung cấp dịch vụ NHĐT, các phương tiện tiếp xúc với khách
hàng như Website, máy ATM, POS,… sẽ giúp ngân hàng cung cấp các thông tin về
dịch vụ cho khách hàng. Để dịch vụ được diễn ra cần có sự kết nối giữa các phương
tiện giao tiếp và các đơn vị chức năng trong ngân hàng. Như vậy, khả năng kết nối
công nghệ giữa các đơn vị trong ngân hàng ảnh hưởng tới sự thành công của giao
dịch NHĐT và vì vậy ảnh hưởng đến sự phát triển của dịch vụ NHĐT.