BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
CHÍNH SÁCH THU HÚT NGUỒN NHÂN LỰC
CHẤT LƯỢNG CAO CHO CƠ QUAN NHÀ NƯỚC
Ở TỈNH HÒA BÌNH HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Đức Thắng
Sinh viên : Nguyễn Thế Hiệp
Lớp : KH11 - CSC
Chuyên ngành : Chính sách công
Niên khóa : 2010 - 2014
Hà Nội, năm 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện khóa luận, Tôi đã có nhiều cơ hội
được học hỏi những điều chưa biết, được tạo điều kiện nghiên cứu đề tài mà
mình tâm huyết. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô Khoa
Hành chính học đã tạo cơ hội cho Tôi có thể hoàn thành tốt nhất khóa luận của mình.
Với sự biết ơn sâu sắc của người học trò, Tôi xin gửi lời cảm ơn đến giảng
viên Th.s Nguyễn Đức Thắng. Cảm ơn Thầy trong thời gian qua đã tận tình
hướng dẫn, giúp Tôi sửa chữa dần những sai sót. Những tâm huyết của Thầy đã
cho Tôi rất nhiều động lực để hoàn thành đề tài khóa luận này.
Những hạn chế khi tiếp cận đề tài thực tiễn chắc chắn sẽ còn nhiều thiết
sót. Tôi mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy, các cô và các bạn sinh
viên để Tôi hoàn thiện hơn nữa kiến thức và kỹ năng của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 6 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thế Hiệp
MỤC LỤC
5D'!"!/"'89&_Z!/7-!/Z-'!<f#7-g-'"k#E'!"!/"'89#"Z&l!"`*.!"
5D'!"!/"'89#)*9c&d;!<f#
5D'!"!/"'89#)*m'!n/*n%Z
5D'!"!/"'89#)*-!T2;#[
5D'!"!/"'89#)*9c&d;+o*%"<A!/5p
5D'!"!/"'89#)*"-!"%";W" '!"5p
5D'!"!/"'89#)*-q!/5
55-'"k#E'!"!/"'89#"Z&l!"`*.!"55
']2E(&#"<A!/5@
"<A!/5
PrsKLMNOPIQRSSTU
QV5
tuv5
D"B'42B&#"2!/7,&l!"`*.!"5
',2E'8!&Y!"'0!7-wX!d;5
.!"".!"E'!"&(nab"c'5G
" !"dB#"&"2"e&!/2W!!"X!3Y##"$&3<=!/#*Z&_Z!/#A42*!!"-!<f#j&l!"`*.!" 5[
-'!x&7,!/2W!!"X!3Y#&_Z!/#A42*!!"-!<f#j&l!"`*.!"5[
c'w2!/#" !"dB#"&"2"e&!/2W!!"X!3Y##"$&3<=!/#*Z#"Z#A42*!!"-!<f#j&l!"
`*.!":
6#y02:
;'&<=!/#)*#" !"dB#":5
5'8!%"B%#)*#" !"dB#":
:/2W!3Y#+]&"Y#"'8!#" !"dB#":
5B!"/'B#" !"dB#"&"2"e&#"$&3<=!/#*Z#"Z#A42*!!"-!<f#&l!"`*.!" :[
5"z!/E(&42h+>&+<=#:[
n,!c'w2!/#" !"dB#"&"2"e&@p
n,E(&42h&"Y#"'8!#" !"dB#"@
5"z!/">!#"(^i(2Ex9@:
n,!c'w2!/#" !"dB#"&"2"e&@:
4 CQNN Cơ quan nhà nước
5 DTTS Dân tộc thiểu số
6 HĐND Hội đồng nhân dân
7 KT-XH Kinh tế - Xã hội
8 NNL Nguồn nhân lực
9 NQ Nghị quyết
10 QĐ Quyết định
11 QLNN Quản lý nhà nước
12 TTg Thủ tướng
13 UBND Ủy ban nhân dân
14 VC Viên chức
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Số bảng Tên bảng, biểu Trang
Bảng 2.1
Thống kê số lượng và chất lượng CB, CC, VC cấp
tỉnh, huyện theo trình độ đào tạo tính đến ngày
30/06/2013
39
Bảng 2.2
Thống kê số lượng và chất lượng của CB chuyên
trách, CC cấp xã, VC y tế cơ sở theo trình độ đào tạo
tính đến ngày 30/06/2013
40
Bảng 2.3
Danh mục ngành nghề được tỉnh Hòa Bình ưu tiên
tiếp nhận, bố trí công tác (Kèm theo Nghị quyết số
35/2005/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Hòa Bình)
45-46
Bảng 2.4
lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân
tài ngày càng phát triển càng thêm nhiều”. [12,tr99] Người cho rằng phải
biết chăm lo phát hiện nhân tài, phải biết đào tạo, bồi dưỡng nhân tài và
phải biết sử dụng nhân tài một cách hợp lý. Việc trọng dụng nhân tài theo
quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phải làm thường xuyên, liên tục
như “người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”. [13,tr273] Tại Đại
hội X, Báo cáo Ban chấp hành Trung ương chỉ rõ “Thực hiện chính sách
trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư
trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao…
thu hút chuyên gia giỏi người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia
giảng dạy, phát triển khoa học và công nghệ tại Việt Nam”. [3,tr212]
Để phát triển mỗi quốc gia phải dựa vào các nguồn lực cơ bản: nguồn
nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, tiềm lực khoa học công nghệ và cơ sở vật
chất kỹ thuật, nguồn vốn. Trong đó, NNL luôn luôn là nguồn lực cơ bản và
chủ yếu nhất cho sự phát triển, có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng
và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay. Trong thời đại ngày
nay, tài nguyên thiên nhiên đang dần cạn kiệt, cùng với đó kinh tế tri thức,
1
khoa học công nghệ đang phát triển mạnh mẽ khiến nhân tố con người càng
được quan tâm nhiều hơn, đặc biệt là NNL chất lượng cao.
Từ thực tiễn hiện nay, để nâng cao hiệu quả hoạt động của cả khu
vực tư nhân và khu vực nhà nước, vấn đề thu hút NNL chất lượng cao đặc
biệt được quan tâm. Tuy nhiên, môi trường làm việc cũng như các chế độ
ưu đãi của hai khu vực này khác nhau rất lớn, khu vực kinh tế tư nhân đang
phát triển mạnh, với cơ chế thông thoáng và mức thu nhập cao hơn nhiều so
với khu vực nhà nước, điều đó được coi là “mảnh đất màu mỡ” để lực
lượng lớn NNL chất lượng cao đến đó để phát triển. Khu vực nhà nước với
những đặc thù hoạt động gò bó, tính linh hoạt kém, chế độ đãi ngộ thấp
nên lượng nguồn nhân lực chất lượng cao vào làm việc không nhiều. Vậy
để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của QLNN, đảm bảo KT-XH tầm vĩ mô
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về NNL chất lượng cao nói chung
và NNL chất lượng cao cho CQNN nói riêng. Cụ thể:
Lê Thị Hồng Điệp, Kinh nghiệm trọng dụng nhân tài để hình thành
nền kinh tế tri thức của một số quốc gia châu Á và những gợi ý cho Việt
Nam, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế và Kinh doanh
25 (2009). Nội dung của bài tập trung vào tổng kết kinh nghiệm trọng dụng
nhân tài trong khu vực công và khu vực sản xuất, kinh doanh để hình thành
nền kinh tế tri thức của các quốc gia châu Á.
Phạm Kim Cúc (2009), Thu hút NNL chất lượng cao cho các cơ
quan HCNN cấp huyện tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sỹ Quản lý hành
chính công, Học Viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội.
Đỗ Thị Thủy (2013), Chính sách thu hút NNL chất lượng cao cho
các cơ quan hành chính nhà nước tỉnh Phú Thọ, Luận văn Thạc sỹ Quản lý
hành chính công, Học viện Hành chính, Hà Nội.
Đậu Thị Hiếu (2012), Hoạt động thu hút NNL chất lượng cao cho
các cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh Nghệ An hiện nay, Khóa luận tốt
nghiệp, Học viện Hành chính, Hà Nội.
Ba đề tài trên tập trung nghiên cứu chính sách thu hút NNL chất
lượng cao trong phạm vi cho các cơ quan hành chính nhà nước của một số
địa phương cụ thể. Nội dung các bài cũng tập trung vào nghiên cứu chủ yếu
3
về hoạt động thu hút (thực thi chính sách) NNL chất lượng cao và đưa ra
các giải pháp để nâng cao hoạt động thu hút NNL chất lượng cao.
Nguyễn Chín (2011), Các giải pháp thu hút NNL trình độ cao cho
các cơ quan nhà nước ở tỉnh Quảng Nam, Luận văn thạc sỹ Kinh tế, Đại
học Đà Nẵng, Đà Nẵng. Đề tài tập trung nghiên cứu, tìm ra những giải pháp
để nâng cao hiệu quả hoạt động thu hút NNL chất lượng cao cho các
CQNN ở tỉnh Quảng Nam qua việc nghiên cứu thực trạng và tổng kết, đánh
giá hoạt động thu hút của tỉnh trong thời gian qua.
Tuy nhiên, các đề tài trên chủ yếu nghiên cứu về thực trạng hoạt
cao cho CQNN tỉnh Hòa Bình.
- Về không gian: Đề tài được thực hiện trong phạm vi các cơ quan
nhà nước ở tỉnh Hòa Bình, (Bao gồm các cơ quan mà lĩnh vực hoạt động có
đối tượng được ưu tiên thu hút, tiếp nhận phù hợp với danh mục ngành
nghề nêu trong chính sách).
- Về thời gian: Nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2005 đến nay (Từ
khi Hội đồng nhân dân tỉnh Hòa Bình ban hành Nghị quyết số 35/2005/NQ-
HĐND ngày 22 tháng 07 năm 2005 và Quyết định số 55/2005/QĐ-UBND
ngày 15 tháng 12 năm 2005 Về việc quy định một số chính sách khuyến
khích cán bộ, công chức học tập; Thu hút và tiếp nhận, sử dụng người có
trình độ về công tác tại tỉnh giai đoạn 2005 – 2015).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Khóa luận được nghiên cứu trên cơ sở lý luận và
phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Quan
điểm của Đảng về vấn đề thu hút NNL chất lượng cao cho các CQNN.
- Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu khóa luận
sử dụng các phương pháp sau:
+ Phương pháp thu thập thông tin: Đây là phương pháp quan trọng và
chủ yếu nhất để nghiên cứu đề tài khóa luận này, vận dụng một cách linh
hoạt để có thể thu thập đầy đủ, chính xác nhất các thông tin liên quan đến
chính sách thu hút nguồn NNL như: nội dung chính sách, tình hình thực
hiện chính sách trong những năm qua, các bài học, kinh nghiệm thu hút
NNL chất lượng cao của một số nước, một số địa phương,…
5
+ Phương pháp thống kê: Từ những thông tin, tài liệu đã thu thập
được, cần được thống kê lại một cách đầy đủ, khoa học để có thể nghiên
cứu, phân tích các tài liệu dễ dàng hơn, trình bày một cách dễ hiểu, đặc biệt
các thông tin liên quan đến con số như: tình hình NNL trong CQNN tỉnh
Hòa Bình, Số lượng NNL chất lượng cao thu hút, tiếp nhận trong gian đoạn
thực hiện chính sách vừa qua,…
quản lý NNL có sự mềm dẻo và linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để
người là động có thể phát huy tốt hơn ở mức cao nhất các khả năng tiềm
tàng, vốn có của họ thông qua tích lũy tự nhiên trong quá trình lao động,
phát triển.
Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về thuật ngữ NNL. Theo
truyền thống, NNL thường được gọi là lao động, như một nguồn vốn đầu
vào của sản xuất bên cạnh các loại vốn vật chất khác. Cách hiểu thứ hai
được sử dụng phổ biến hơn thiên về chất lượng của NNL – là tất cả kiến
thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người, có
quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức, mỗi quốc gia. Trong
đó, trình độ đào tạo được xem là một trong các tiêu chí quyết định tạo nên
chất lượng và cơ cấu NNL.
Xuất phát từ quan niệm coi NNL là nguồn lực cùng với các yếu tố
vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ sự phát triển nói
chung của các tổ chức, do vậy NNL được hiểu là nguồn lực con người của
tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm
7
năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển
KT-XH của quốc gia, khu vực, thế giới”. [21,tr10]
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: “NNL là tất cả những kiến
thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có
quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. [27]
Theo Trần Thị Tâm Đan: “NNL là tổng thể sức dự trữ, những tiềm
năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người
trong việc cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội”. [22,tr10]
Theo tổ chức Lao động quốc tế thì: NNL của mỗi quốc gia là toàn bộ
những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. NNL được hiểu
theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho
sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó,
NNL bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa
Có rất nhiều thuật ngữ khác nhau dùng để chỉ NNL chất lượng cao
như: NNL trình độ cao, NNL tài năng, lao động trình độ cao, nhân tài…
Tùy theo cách tiếp cận mà có các quan niệm khác nhau. Cho đến nay, khái
niệm NNL chất lượng cao cũng chưa được hiểu một cách thống nhất.
NNL chất lượng cao được hiểu là NNL có khả năng đáp ứng các yêu
cầu phức tạp trong công việc từ đó tạo ra năng suất và hiệu quả cao trong
công việc. [17,tr7] Cách hiểu này dựa trên hiệu quả, năng suất công việc
của người lao động, xem là họ có đáp ứng được công việc đang làm hay
không, và đáp ứng ở mức nào.
Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD, phân theo trình độ
đào tạo thì có thể hiểu NNL chất lượng cao “bao gồm những người đã qua
đào tạo có trình độ đại học trở lên hoặc đáp ứng được công việc của người
đã tốt nghiệp đại học” [17,tr7]
Theo Nguyễn Hữu Dũng, “NNL chất lượng cao là khái niệm để chỉ
một con người, một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề về chuyên
9
môn kỹ thuật ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao
động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (đại học, trên đại học, cao đẳng,
lao động kỹ thuật lành nghề)”. Như vậy, khái niệm NNL chất lượng cao chỉ
có tính chất tương đối, một người có thể tài năng trên lĩnh vực này nhưng
lại bình thường trên các lĩnh vực khác. Vì thế, khi xem xét một người có
thuộc NNL chất lượng cao hay không phải xác định tài năng của người đó
trên một ngành, lĩnh vực, phạm vi nhất định. [4,tr10]
Trong thời đại ngày nay, con người được coi là “tài nguyên đặc biệt”,
một nguồn lực của sự phát triển kinh tế. Bởi vậy, phát triển con người, phát
triển NNL trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển
các nguồn lực. Không phải tự nhiên mà có được một lực lượng NNL chất
lượng cao, cần có một giai đoạn đào tạo hoặc phát triển, nâng cao năng lực
của con người. Đó chính là sự biến đổi về chất lượng và số lượng NNL trên
các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần.
1.1.2.1. Đặc điểm của nguồn nhân lực chất lượng cao
Bản thân NNL chất lượng cao là một bộ phận tinh túy nhất của NNL
xã hội. Nên ngoài những đặc điểm chung của NNL xã hội thì NNL chất
lượng cao còn có những đặc trưng riêng. Theo hướng tiếp cận và cách nhìn
nhận của mỗi người sẽ xác định các đặc điểm của NNL một cách khác nhau.
Theo Francois Gagnes, có thể khái quát một số tiêu chí, đặc điểm để
xác định người có tài năng đó là:
- Chất lượng cao: Năng lực cao hơn đồng nghiệp
- Hiếm có: Trình độ kỹ xảo cao hơn đồng nghiệp
- Năng suất: Tạo ra sản phẩm với năng suất cao hơn đồng nghiệp
- Nổi trội: Kết quả công tác cao hơn
- Giá trị: Kết quả công việc được xã hội chấp nhận mang lại hữu ích
cho cuộc sống. [4,tr9,10]
Hay xác định đặc điểm nguồn nhân lực theo ba phương diện: thể lực,
trí lực và phẩm chất tâm lý xã hội. Cụ thể như sau:
11
- Về mặt thể lực của NNL chất lượng cao
Đó là sức khỏe của người lao động, bao gồm sức khỏe về cơ thể và
sức khỏe về tình thần. Sức khỏe cơ thể là sự cường tráng, là năng lực lao
động chân tay. Sức khỏe tinh thần là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh,
khả năng vận động trí tuệ và áp dụng vào thực tiễn.
NNL có chất lượng cao là lực lượng lao động có sức chịu đựng dẻo dai,
đáp ứng được quá trình sản xuất hay công việc nặng, khó khăn, căng thẳng và
lâu dài. NNL chất lượng cao phải đáp ứng được các thông số nhân chủng học
về chiều cao, cân nặng, giọng nói… phù hợp với từng công việc. NNL chất
lượng cao phải luôn luôn tỉnh táo, sảng khoái về mặt tinh thần để giải quyết
các công việc một cách nhanh chóng, đúng thời gian, đảm bảo hiệu quả của
công việc, có tính vượt trội hơn so với NNL có trình độ trung bình.
- Về mặt trí lực của NNL chất lượng cao:
Trí lực là một nhân tố không thể thiếu của NNL chất lượng cao, nó
niềm say mê với công việc chuyên môn của mình. Thích ứng với những
thay đổi trong công việc như công nghệ và quản lý.
1.1.2.2. Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao trong phát triển kinh tế, xã hội
Trong thế giới hiện đại, khi chuyền dần sang nền kinh tế chủ yếu dựa
trên tri thức và trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, NNL chất
lượng cao ngày càng thể hiện vai trò quyết định trong hiệu quả KT-XH. Các
lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng
nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: áp dụng công
nghệ mới, phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại và nâng cao chất lượng NNL.
Trong đó động lực quan trọng nhất của sự tăng trưởng kinh tế bền vững
chính là những con người, đặc biệt là NNL chất lượng cao, tức là những con
người được đầu tư phát triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm,
năng lực sáng tạo trở thành “nguồn vốn – vốn con người, vốn nhân lực”. Bởi
trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt, phần
13
thắng sẽ thuộc về những quốc gia có NNL chất lượng cao, có môi trường
pháp lý thuận lợi cho đầu tư, có môi trường chính trị xã hội ổn định. [27]
Mối quan hệ giữa nguồn lao động với phát triển kinh tế thì nguồn lao
động luôn luôn đóng vai trò quyết định đối với mọi hoạt động kinh tế trong
các nguồn lực để phát triển kinh tế. Theo nhà kinh tế người Anh, William
Petty cho rằng lao động là cha, đất đai là mẹ của mọi của cải vật chất.
C.Mác cho rằng con người là yếu tố số một của lực lượng sản xuất. Trong
truyền thống Việt Nam xác định “hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Nhà
tương lai Mỹ, Avill Toffer nhấn mạnh vai trò của lao động tri thức, theo
ông “tiền bạc tiêu mãi cũng hết, quyền lực rồi sẽ mất; Chỉ có trí tuệ của con
người thì khi sử dụng không những không mất đi mà còn lớn lên”. [1]
Vai trò của NNL chất lượng cao đối với sự phát triển KT-XH có thể
kể đến như sau:
- Thứ nhất: NNL chất lượng cao vừa là mục tiêu vừa là động lực của
sự phát triển
lý, còn các nguồn vốn khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và
chỉ phát huy được tác dụng khi kết hợp với NNL một cách hiệu quả. Vì vậy,
con người với tư cách là NNL, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của
quá trình sản xuất, là trung tâm của nội lực, là nguồn lực chính quyết định
quá trình phát triển KT-XH.
Ngày nay một quốc gia có thể không giàu về tài nguyên, điều kiện
thiên nhiên không mấy thuận lợi nhưng nền kinh thế có thể tăng trưởng
nhanh và phát triển bền vững nếu hội tụ bốn điều kiện :
+ Một là, quốc gia đó biết đề ra đường lối kinh tế đúng đắn.
+ Hai là, quốc gia đó biết tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối đó.
+ Ba là, quốc gia đó có đội ngũ công nhân kỹ thuật tay nghề cao và
đông đảo
+ Bốn là, quốc gia đó có các nhà doanh nghiệp tài ba
15
- Thứ ba: NNL chất lượng cao là một trong thững yếu tố quyết định
sự thành công của sự nghiệp CNH-HĐH
Đó là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất,
kinh doanh, từ sử dụng lao động thủ công sang sử dụng một cách phổ biến
sức lao động được đào tạo với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên
tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
Đối với nước ta, đây là một quá trình tất yếu để phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khi đất nước ta đang bước vào giai
đoạn CNH-HĐH, tiếp cận kinh tế tri thức trong điều kiện phát triển KT-XH
còn thấp, do đó yêu cầu nâng cao chất lượng NNL, nhất là trí lực có ý nghĩa
quyết định tới sự thành công của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước và phát
triển bền vững. Đảng ta đã xác định phải lấy việc phát huy chất lượng NNL
làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững.
- Thứ tư: NNL chất lượng cao là điều kiện để rút ngắn khoảng cách
tụt hậu. Tiếp thu nhanh các thành tựu khoa học công nghệ để thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế và đẩy nhanh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước nhằm phát
sẽ gặp khó khăn lớn trong cơ hội tìm kiếm việc làm.
1.2. Chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao cho cơ quan
nhà nước
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1. Cơ quan nhà nước
Trong thực tiễn và trong khoa học, thuật ngữ “Cơ quan nhà nước” đã
được đề cập đến và giải thích theo nhiều cách khác nhau.
Trong tiếng Pháp có từ “établissement public” được hiểu: “CQNN là
một pháp nhân công quyền, chịu trách nhiệm tiến hành một trong các hoạt
động của các đơn vị hành chính địa phương thay cho nhà nước, cho tỉnh,
cho xã nhưng chịu sự kiểm tra của cấp đó. [29,tr80]
Theo một số tài liệu của các nhà khoa học Việt Nam, thuật ngữ
CQNN được giải thích như sau:
17