PHẠM THỊ THU HẰNG NĂM HỌC 2014 - 2015
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“MỘT SỐ MẸO GIÚP HỌC SINH YÊU LỚP 8
YÊU TÁC PHẨM VĂN HỌC”
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHẠM THỊ THU HẰNG NĂM HỌC 2014 - 2015
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Lí do chọn đề tài:
Người giáo viên bao giờ cũng muốn học trò của mình làm được những bài văn hay nhưng
đó không phải là một việc dễ. Muốn làm được những bài văn hay trước hết các con phải có
những niềm đam mê, yêu thích với tác phẩm văn học và có những dung động thực sự trước
những cái hay cái đẹp của tác phẩm văn học thì các con mới có sự trải nghiệm và thổn thức với
những dòng văn của các tác giả và tù đó mới tự mình làm được những bài văn thực sự có giá trị
với bản thân.
Ngày nay, dường như các trò ít khi quan tâm đến những môn xã hội và nhất là môn Văn
thì việc hình thành và say mê với tác phẩm một cách thực sự đó là một điều khó khăn, bởi thời
gian và xu hướng thời cuộc khiến các trò không mấy mặn mà với môn học này.
Trong thực tế dạy – học tôi thấy, việc các trò đọc trước tác phẩm trong sách giáo khoa khi
học văn bản là rất hạn chế, mà có đọc thì cũng là chiếu lệ, mà ít hứng thú, chứ chưa nói tới việc
tìm hiểu những thông tin liên quan đến văn bản văn học mà con sắp học. Ước mơ của tôi là các
con hãy dành thêm chút ít thời gian nữa để yêu thực sự các văn bản mà nhà biên soạn sách đã
chon lọc gửi vào hơn 200 trang sách của môn Ngữ Văn 8( mà trong đó đã bao gồm cả nội dung
phân môn Tiếng việt, và Tập làm văn).
Trong tôi luôn thao thức một câu hỏi: làm thế nào để các con yêu tác phẩm văn học?
Do đó tôi thấy cần phải tìm tòi, nghiên cứu để tìm ra giải pháp tốt giúp học sinh yêu
thích tác phẩm văn học lớp 8.
Cũng chính xuất phát từ đó tôi đã tiến hành tìm tòi nghiên cứu và vận dụng vào thực tế giảng
dạy “MỘT SỐ MẸO GIÚP HỌC SINH YÊU LỚP 8
YÊU TÁC PHẨM VĂN HỌC”.
2. Mục đích nghiên cứu:
Điều tra là phương pháp khảo sát một nhóm đối tượng trên diện rộng để phát hiện các quy luật
phân bố và các đặc điểm của đối tượng.
3.3.1.3 Phương pháp thực nghiệm khoa học
Là phương pháp các nhà khoa học chủ động tác động vào đối tượng và quá trình diễn biến sự
kiện mà đối tượng tham gia để hướng sự phát triển của chúng theo mục tiêu dự kiến của mình.
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHẠM THỊ THU HẰNG NĂM HỌC 2014 - 2015
3.3.1.4 Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm
Là phương pháp nghiên cứu và xem xét lại những thành quả thực tiễn trong quá khứ để rút ra
kết luận bổ ích cho thực tiễn và khoa học.
3.3.2. Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Là các phương pháp thu thập thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu đã
có và băng các thao tác tư duy logic để rút ra kết luận khoa học cần thiết.
3.3.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
Phân tích là nghiên cứu các tài liệu, lý luận khác nhau bằng cách phân tích chúng thành từng bộ
phận để tìm hiểu sâu sắc về đối tượng. Tổng hợp là liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã
được phân tích tạo ra một hệ thông lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về đối tượng.
3.3.2.2 Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết
Phân loại là sắp xếp các tài liệu khoa học theo từng mặt, từng đơn vị, từng vấn đề có cùng dấu
hiệu bản chất, cùng một hướng phát triển Hệ thống hóa là sắp xếp tri thức thành một hệ thống
trên cơ sở một mô hình lý thuyết làm sự hiểu biết về đối tượng đầy đủ hơn.
3.3.2.4 Phương pháp giả thuyết
Là phương pháp đưa ra các dự đoán về quy luật của đối tượng sau đó đi chứng minh dự đoán đó
là đúng.
3.2.2.5 Phương pháp lịch sử
Là phương pháp nghiên cứu bằng cách đi tìm nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển của đối
tượng từ đó rút ra bản chất và quy luật của đối tượng
3.4 Thời gian nghiên cứu:
Trong thời gian từ tháng 9 –năm 2014 đến tháng 3 năm 2015.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
nắm bắt được những nội dung cơ bản trong sách giáo khoa. Trong quá trình dạy chỉ dạy văn
học ở những tiết học về tìm hiểu tác phẩm văn học, chưa tận dụng được thời gian ở các phân
môn khác để tích hợp với phần văn bản. Đặc biệt chưa chú trọng luyện tập và ra bài tập về nhà
cho các em để từ đó hình thành kĩ năng tự tìm hiểu văn bản.
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHẠM THỊ THU HẰNG NĂM HỌC 2014 - 2015
Về phía học sinh, do đời sống còn nhiều khó khăn, đa số các em phải lao động hàng ngày
ở nhà để giúp cha mẹ, bên cạnh đó các em bây giờ cũng có quá nhiều loại hình vui chơi giải trí
và phim ảnh khiến các em bị chi phối bởi yếu tố bên ngoài nên ít có thời gian để đọc các tài liệu
tham khảo, mở rộng hiểu biết.
Xa trung tâm, nhà trường lại chưa đủ cơ sở vật chất để phục vụ việc dạy học nên các em
chưa có đủ tài liệu để tham khảo. Vì vậy chỉ có thể nắm bắt được những gì SGK cung cấp.
Học văn đòi hỏi viết nhiều (đọc nhiều) nhưng học sinh ở lại ít có điều kiện cũng như thời
gian để luyện tập. Bên cạnh đó học sinh chỉ thích các môn học khoa học tự nhiên là nhiều, khi
làm bài thì đã có sẵn rất nhiều tài liệu tham khảo bởi vậy ít chịu tìm tòi và kham sphas về văn
bản.
Thêm vào đó, nhiều học sinh chưa chú ý đến việc học, ý thức chưa cao, về nhà không
làm bài nên khi tìm hiểu tác phẩm trên lớp thường vụng về, lúng túng … .
Với những khó khăn như vậy, mỗi giáo viên dạy Ngữ văn phải tìm biện pháp giúp học
sinh nắm và cảm nhận tốt tác phẩm văn học đồng thời có tình yêu với tác phẩm văn học thực
sự . Cũng chính từ sự băn khoăn, trăn trở: “Làm sao giúp học sinh yêu tác phẩm văn học ?”.
Qua quá trình dạy học, quá trình tìm tòi tôi đã có được những biện pháp giúp học sinh yêu tác
phẩm văn học trong chương trình Ngữ văn 8.
Trong những biện pháp đó, việc động viên khích lệ về tinh thần cũng như vật chất (điểm
số) là rất quan trọng.
Sau đây tôi xin trình bày “ Một số mẹo giúp học sinh yêu tác phẩm văn học trong chương
trình Ngữ văn 8 ở trường THCS Hồng Dương”.
Số liệu thống kê chất lượng bài làm văn của HS khi chưa áp dụng SKKN
Tổng số HS Giỏi Khá
Trung
phẩm thì các em phải vạch ra được những câu hỏi:
- Vì sao tác giả lại viết văn bản này?
- Hoàn cảnh đất nước đương thời ra sao?
- Thông điệp mà người viết muốn truyền tải đến người nghe là gì?
- Cảm nhận về tầm nhìn ở thời đại lúc bấy giờ?
Đối với tác phẩm văn xuôi, mà là kịch thì việc sau khi các em đọc xong tác phẩm thì các
em phải vạch ra được những câu hỏi:
- Vở kịch ấy có mấy nhân vật?
- Có các lớp kịch, hay mấy cảnh xảy ra trong vở?
- Câu thoại nào là câu gây ấn tượng với em nhất?
- Ý nghia của vở kịch với bản thân em?
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHẠM THỊ THU HẰNG NĂM HỌC 2014 - 2015
Đối với học sinh thì việc chuẩn bị này là hạn chế khi tìm hiểu trước tác phẩm ở nhà.
Nắm được hạn chế đó của học sinh nên tôi luôn hướng dẫn học sinh thực hiện thao tác
này và nó được lặp đi lặp lại ở mỗi tác phẩm văn học, cũng như trước các vấn đề trong tìm hiểu
trước ở nhà của chương trìnhg địa phương. Trên cơ sở đó các em sẽ biến nó thành một kĩ năng
cần thiết trước khi tìm hiểu tác phẩm ở trên lớp.
Ví dụ:
Như chuẩn bị học tác phẩm : “ Lão Hạc” của Nam Cao, tôi yêu cầu trò phải về nhà đọc kĩ
tác phẩm trong sách giáo khoa.
Sau đó thì lần lượt trả lời cái câu hỏi mà tôi đã nêu ở trên như:
- Tác phẩm có nhân vật chính là ai? ( lão Hạc và ông giáo, ngoài ra có Binh Tư, vợ
ông giáo, cậu Vàng)
-Cốt truyện là gì? ( Diễn biến xoay quanh câu chuyện vì quá nghèo mà lão Hạc phải
bán con chó vàng – kỉ vật duy nhất mà con trai lão để lại -, và cũng vì quá nghèo mà
lão Hạc phải ăn bả chó để kết liễu cuộc đời mình cho đỡ tốn tiền để dành cho con
trai).
- Từ đó các con phải tóm tắt tác phẩm một cách ngắn gọn nhất.
- Phải nhớ được những lời thoại đặc biệt có trong truyện và những triết lí quan trọng có
Trung để dâng tấu về 3 điều cơ bản giúp vua trị quốc trong thời kì nước nhà vùa dẹp tan
29 vạn quân Thanh xong, và 2 trong 3 điều ấy là quan điểm giáo dục mới của nước nhà
nếu muốn nền giáo dục của quốc gia hưng thịnh.
- Hoàn cảnh đất nước đương thời ra sao?( nước nhà vùa dẹp tan xong giặc Thanh, đất nước
còn đầy rẫy những thù trong giặc ngoài, sự chống phá ngấm ngầm của cựu triều là nhà
Lê, kẻ thù bên ngoài thì mặc dù đang sợ vỡ mật nhưng thực chất chỉ chờ cơ hội sẽ có thể
quay lại để phục thù. Thế nên, Quang Trung muốn cầu người hiền có tấm lòng và có tầm
nhìn xa ra để giúp nước).
- Thông điệp mà người viết muốn truyền tải đến người nghe là gì?( muốn đất nước được
thịnh trị thì triều đình phải ngay ngắn, và muốn triều đình ngay ngắn thì việc duy nhất đó
là phải chấn chỉnh việc học cho ra hồn nếu không thì sao có thể có được một quốc gia
hưng thịnh lâu bền)
- Cảm nhận về tầm nhìn ở thời đại lúc bấy giờ? ( đến bây giờ thì những phép học và cách
dạy người của La sơn phu tử vẫn hết sức đúng đắn và được áp dụng một cách triệt để)
3.2. Giáo viên cung cấp tư liệu liên quan
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHẠM THỊ THU HẰNG NĂM HỌC 2014 - 2015
Muốn để các em có thể hiểu được và nhớ lâu cũng như thích môn Văn học thì có lẽ kể
các mẩu chuyện liên quan trực tiếp, hoặc những câu chuyện thời đại lịch sử là một
phương cách hữu hiệu để các trò nhớ rất lâu về văn bản.
Tôi đã áp dụng nhiều lần phương pháp này và được học sinh rất ưa thích.
Bởi nếu chỉ cung cấp những tư liệu trong sách thì chỉ cần đọc hết vài trang sách và làm
hết phần gợi ý trong hệ thống câu hỏi là có thể trẻ đã nắm gần hết nội dung bài rồi.
Nhưng việc mở rộng tư liệu bên ngoài sẽ giúp trẻ yêu thêm văn bản và quý trọng người
dạy mình hơn.
Ví dụ như khi dạy tác phẩm: “Tức cảnh Pắc Bó”, thì giáo viên có thể lòng ghép
cung cấp tư liệu cho học sinh khi giảng văn mẩu chuyện do Võ Nguyên Giáp kể về ở
rừng của Bác Hồ như cảnh Bác đang nằm ngủ khi tỉnh dậy thấy con rắn hổ mang đang
nằm cuộn khoanh trong người của Bác, khiến Người lạnh toát cả người mà không dám
động cựa.
đây có nghĩa là : “ vua”
Đồng thời trong văn bản này ta có thể thấy trong bản dịch sách giáo khoa có nhắc đến từ
“ xây” trong câu: “ Từ Triệu, Đinh , Lý Trần bao đời xây nền độc lập”, liệu dịch “ xây” có hợp
lí bằng”gây”
Hay là trong: “ hịch tướng sĩ”, có điển tích :” nếm mật nằm gai”, chắc chắn trò không thể
hiểu được ý nghĩa của cụm tù này thì việc của giáo viên phải cung cấp cho trò những kiến thức
cần thiết để cho có thể hiểu được giá trị của điển tích.
Cũng nhờ quá trình tìm hiểu từ mà trò có thêm được kĩ năng bình giảng văn học, chẳng hạn khi
học tác phẩm: “ Ngắm trăng”, thì chính việc tìm hiểu nghĩa của từ trong tiếng Hán và cách dịch
thơ có thể cho trò hiểu thêm về cách dịch ấy có gì hay và chưa hay. Trong bản dịch: “Ngục
trung vô tửu, diệc vô hoa/ Đối thử lương tiêu nại nhược hà”, và trong bản dịch của Nam Trân lại
dịch: “ Trong tù không rượu cũng không hoa/ cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ”. Và chính sự so
sánh này khiến trò sẽ thấy được sự khác biệt như thế này trong bản dịch và bản gốc.
3.4 Kết hợp với viết đoạn văn cảm nhận sau khi học xong văn bản văn học
Để kiểm chứng kết quả và thể hiện được những điều đã học xong trong một văn bản thì
việc hành văn hay chính là viết ra những hiểu biết của mình về nó đó là một giải pháp rất cần
thiết và quan trọng.
Ví dụ 1:
Khi học xong văn bản Lão Hạc của Nam Cao (tiết 13 -14, bài 4) tôi cho học sinh bài tập
về nhà: Về nhà mỗi em viết một đoạn văn nói về Lão Hạc – người nông dân Việt Nam trước
cách mạng tháng tám (cho HS câu chủ đề: Lão Hạc là con người nghèo khổ nhưng lão có nhiều
phẩm chất đáng quý.)
Ví dụ 2:
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHẠM THỊ THU HẰNG NĂM HỌC 2014 - 2015
Khi dạy xong tiết 21 – 22, văn bản Cô bé bán diêm, GV ra bài tập cho HS về nhà làm:
Em thử tưởng tượng mình là người chứng kiến cái chết của cô bé trong truyện Cô bé bán
diêm của An – đéc – xen, bây giờ các bạn muốn nghe em kể lại cái chết của cô bé. Vậy em hãy
viết một đoạn văn kể lại cho các bạn cùng nghe.
Tới tiết học tiếp theo giáo viên thu bài của các em về nhà chấm, sửa và nhận xét trong bài
đối khó. Cho nên trong quá trình dạy tôi luôn có những đoạn văn mẫu cho các em. Bên cạnh đó
là bài của các em học sinh khá giỏi. Đồng thời luôn khích lệ tinh thần cho các em.
Ở dạng bài này, giáo viên vừa cho học sinh luyện tập ở trên lớp vừa cho các em về nhà
làm (giáo viên phải thu vở bài tập rồi chấm và sửa cho học sinh).
Văn bản Đánh nhau với cối xay gió (Xéc - van - téc) có hai nhân vật Đôn - ki - hô - tê và
Xan - chô - Pan - xa tương phản nhau về mọi mặt. Vậy sau bài học đó giáo viên yêu cấu học
sinh viết 2 đoạn văn nói về hai nhân vật (hai đoạn có quan hệ đối lập).
Ví dụ 3:
Học xong văn bản Lão Hạc của Nam Cao (tiết 13 -14, bài 4), học sinh biết rằng chị Dậu
và lão Hạc là những con người tiêu biểu cho tầng lớp nông dân Việt Nam trước cách mạng
tháng 8. Giáo viên có thể cho học sinh viết hai đoạn văn nói về số phận và tính cách của người
nông dân (thông qua lão Hạc và chị Dậu).
Có thể nói rằng để viết được một bài văn đúng và hay là rất khó, bởi ngoài việc có kiến
thức vững vàng nó còn đòi hỏi người viết phải vận dụng nhiều kĩ năng khác nhau. Nhìn chung
các kĩ năng đó các em đã được học nhưng do đặc điểm lứa tuổi, cũng như thời gian thực hành
còn hạn chế nên người giáo viên phải có biện pháp giúp các em thành thạo những kĩ năng đó
mới mong các em vận dụng tốt được.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Để đánh giá kết quả đã đạt được, giáo viên dựa vào bài kiểm tra chất lượng học kì.
Kết quả khi chưa áp dụng:
Tổng
số
Giỏi Khá Trung bình Yếu-kém
SL % SL % SL % SL %
39 0 0 06 7.1 28 64.7 5 28.2
Kết quả khi áp dụng:
Tổng
số
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
mượn bài của bạn chép lại nhiều lần …
Hiện nay đã có tiết tự chọn (hai tiết/1tuần cho môn Ngữ văn), khi dạy tiết này, trong thực
hành giáo viên có những bài tập dễ hơn cho học sinh yếu. Khi các em làm được giáo viên mới
nâng độ khó lên dần.
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHẠM THỊ THU HẰNG NĂM HỌC 2014 - 2015
2. Lời kết:
Trên đây là một số biện pháp giúp học sinh yêu tác phẩm văn học trong nhà trường
chương trình Ngữ văn 8. Đó cũng là những gì tôi tích luỹ được trong quá trình dạy văn suốt
thời gian qua.
Qua quá trình giảng dạy, tìm hiểu, trao đổi với đồng nghiệp, thông qua tiết dự giờ, tham
khảo tài liệu … tôi đã tích luỹ được cho mình một số kinh nghiệm, nó được tôi áp dụng vào bài
dạy khi khi lên lớp tại trường THCS Hồng Dương.
Khi áp dụng những kinh nghiệm trên vào bài dạy, sau một thời gian chất lượng của học
sinh đã được nâng lên rõ rệt, giảm được số bài không đạt yêu cầu, và số bài tốt cũng tăng lên.
Những biện pháp trên được tôi rút ra từ thực tế cũng như thông qua trao đổi với đồng
nghiệp, có thể vẫn còn hạn chế. Vậy tôi mong được tiếp thu ý kiến đóng góp của BGH, Hội
đồng khoa học nhà trường và Hội đồng khoa học của Phòng giáo dục - đào tạo để từ đó có thể
trao đổi, rút kinh nghiệm giúp tôi nâng cao chất lượng giảng dạy ở bộ môn.
3. Bài học kinh nghiệm:
Trong dạy học nói chung và dạy học môn Ngữ văn nói riêng, người giáo viên phải luôn
không ngừng tìm tòi học hỏi để nâng cao trình độ nhận thức và trình độ chuyên môn. Sự sáng
tạo là yêu cầu cần phải có của người giáo viên khi làm công tác dạy học. Trên cơ sở đó giúp học
sinh của mình tiếp thu bài, hình thành kĩ năng, kĩ xảo tốt hơn.
Tuy nhiên khi áp dụng những biện pháp nào đó thì giáo viên phải tìm hiểu kĩ những hạn
chế của học sinh mình. Nếu thành công sẽ là động lực rất lớn làm cho người giáo viên tự tin
hơn, mạnh dạn hơn trong việc sáng tạo.
Người giáo viên cần ý thức được vai trò của mình. Khi lên lớp giáo viên phải có tinh thần
trách nhiệm cao. Như vậy mới có thể tận tâm, mới vui buồn khi học sinh học tốt hay không tốt.
Đó là động lực giúp giáo viên tìm tòi, sáng tạo trong công tác của mình. Nhờ vậy mà học sinh