1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu trong Luận văn này là chính xác và có nguồn gốc rõ ràng.
Bản luận văn “QUẢN LÝ CỦA TỔNG CỤC HẢI QUAN ĐỐI VỚI MỨC
ĐỘ TUÂN THỦ CỦA DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU,
NHẬP KHẨU” là đề tài nghiên cứu của bản thân, chưa được ai công bố trong bất kì
công trình nào khác.
Học viên
Phạm Thanh Hương
1
1
2
MỤC LỤC
2
2
3
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
STT Ký hiệu Tên sơ đồ, bảng biểu
Tran
g
1 Hình 1.1 Kim tự tháp tuân thủ 15
2 Biểu 2.1
Tình hình vi phạm pháp luật Hải quan
giai đoạn 2006-2013
38
3 Biểu 2.2
Cơ cấu vi phạm theo tuyến địa bàn
hoạt động hải quan
49
4 Bảng 2.1
Số liệu vụ việc vi phạm theo tuyến địa bàn
18 NK Nhập khẩu
19 PLHQ Pháp luật Hải quan
20 QLRR Quản lý rủi ro
21 TAP Chương trình lựa chọn mang tính phân tích
22 TK Tờ khai
23 TNHH Trách nhiệm hữu hạn
4
4
5
24 TT&TKHQ Thông tin và thống kê Hải quan
25 TTHQ Thủ tục hải quan
26 WCO Tổ chức Hải quan thế giới
27 XC Xuất cảnh
28 XK Xuất khẩu
29 XNC Xuất nhập cảnh
30 XNK Xuất nhập khẩu
5
5
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết
Những năm qua mặc dù kinh tế, tài chính thế giới đang trong tình trạng
khủng hoảng, chì trệ nghiêm trọng, nhưng với đường lối, chính sách đúng đắn của
Đảng và Nhà nước ta, nền kinh tế nước ta vẫn tiếp tục được duy trì phát triển ở
mức từ 5 – 6%, lạm phát được kiểm soát, bình ổn.
Cùng với sự phát triển về kinh tế, trong những năm qua, cộng đồng doanh
nghiệp ở Việt Nam đã có những bước phát triển cả về số lượng và chất lượng. Năm
2001, số lượng doanh nghiệp đăng ký chính thức hoạt động theo Luật doanh nghiệp
ở nước ta có khoảng 50.000, thì đến năm 2010, số lượng doanh nghiệp đã tăng lên
gấp hơn hai lần, trên 100.000. Cùng với đó, trên toàn quốc hiện có trên 2600 văn
phòng đại điện và chi nhánh các doanh nghiệp nước ngoài; hàng ngàn tổ chức khoa
kinh nghiệm thực tiễn. Việc tổ chức quản lý này còn ở mức độ đơn giản, thiếu tính
đồng bộ và thống nhất, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu quản lý của ngành Hải quan.
Xuất phát từ những trình bày ở trên, cho thấy rằng việc lựa chọn vấn đề “Quản lí
của Tổng cục Hải quan đối với mức độ tuân thủ của doanh nghiệp trong hoạt động
xuất khẩu, nhập khẩu” làm đề tài luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài làm rõ nhận thức lý luận về quản lí đối với mức độ tuân thủ doanh
nghiệp trong hoạt động XK, NK và thực trạng công tác quản lí đối với mức độ tuân
thủ doanh nghiệp hoạt động XK, NK tại TCHQ hiện nay; đưa ra dự báo các yếu
tố tác động có liên quan, qua đó xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượng
công tác này.
3.Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu, phân tích các vấn
đề lý luận, thực tiễn về công tác quản lí mức độ tuân thủ doanh nghiệp hoạt động
XK, NK; khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lí mức độ tuân thủ doanh
nghiệp hoạt động XK, NK tại TCHQ; nghiên cứu dự báo và xây dựng giải pháp
nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác này.
4. Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lí luận và thực tiễn của doanh nghiệp hoạt động XK, NK và
công tác quản lí của Tổng cục Hải quan đối với mức độ tuân thủ đối với doanh
nghiệp hoạt động XK, NK; thời gian từ năm 2006 đến tháng 6/2013.
5.Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: phương pháp nghiên
cứu dữ liệu thứ cấp (với nguồn dữ liệu, thông tin được tác giả thu thập từ số liệu
thống kê của các cơ quan quản lí, website, tạp chí…); phương pháp tổng hợp các
phân tích; phương pháp kết hợp nghiên cứu lí luận với khảo sát thực tiễn, phương
pháo thống kê so sánh; lấy ý kiến chuyên gia và các phương pháp khác.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn được bố cục gồm 03 Chương:
nước truyền tải được ý định của mình lên mọi tổ chức và cá nhân tham gia vào các
hoạt động kinh tế. Các công cụ chủ yếu mà Nhà nước sử dụng để quản lý kinh tế bao
gồm: hệ thống pháp luật, kế hoạch hóa, các chính sách kinh tế và tài sản quốc gia.
- Hệ thống pháp luật
Pháp luật thường được hiểu là hệ thống các quy tắc ứng xử có tính chất bắt
buộc chung do Nhà nước đặt ra, thực thi và bảo vệ, nhằm bảo toàn và phát triển xã
hội theo các định hướng đã định.
Hệ thống văn bản pháp luật trong QLNN về kinh tế bao gồm những văn bản
pháp luật do cơ quan QLNN về kinh tế ban hành và các văn bản pháp luật do cơ
quan quyền lực và các cơ quan nhà nước khác ban hành. Trong thực tế, có hai loại
văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động QLNN về kinh tế là văn bản quy phạm pháp
luật và văn bản áp dụng quy phạm pháp luật. Hai loại này gồm: luật, pháp lệnh,
nghị định, quyết định, nghị quyết, thông tư, chỉ thị…được ban hành bởi cơ quan nhà
nước trung ương và địa phương.
- Kế hoạch hóa
Kế hoạch theo nghĩa hẹp là phương án hành động trong tương lai; theo nghĩa
rộng là quá trình xây dựng, quán triệt, chấp hành và giám sát, kiểm tra việc thực
hiện phương án hành động trong tương lai. Kế hoạch với tính cách là một công cụ
quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước, bản thân là một hệ thống bao gồm nhiều nội
dung hoạt động. Kế hoạch QLNN về kinh tế bao gồm: chiến lược phát triển kinh tế-
xã hội, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch trung hạn (kế hoạch 3 năm,
kế hoạch 5 năm), kế hoạch hàng năm, chương trình, dự án, ngân sách…
- Chính sách
Chính sách là một trong những công cụ của Nhà nước sử dụng để quản lý
nền kinh tế quốc dân. Mỗi chính sách cụ thể là một tập các giải pháp nhất định để
thực hiện các mục tiêu bộ phận trong quá trình đạt tới các mục tiêu chung của kinh
tế - xã hội. Chính sách là một hệ thống phức tạp nhiều loại, theo lĩnh vực hoạt động,
có thể phân thành hai nhóm:
+ Các chính sách kinh tế chủ yếu là: Chính sách cơ cấu kinh tế; Chính sách
tài chính; Chính sách tiền tệ; Chính sách giá cả; Chính sách kinh tế đối ngoại;…
động, từ đó mà tự giác, chủ động hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, không cần
phải có sự tác động thường xuyên của Nhà nước bằng phương pháp hành chính.
Đặc điểm của phương pháp kinh tế là tác động lên đối tượng quản lý không
bằng cưỡng bức hành chính mà bằng lợi ích, tức là chỉ đề ra mục tiêu nhiệm vụ phải
đặt ra, đưa ra những điều kiện khuyến khích về kinh tế, những phương tiện vật chất
có thể sử dụng để họ tự tổ chức thực hiện nhiệm vụ.
- Phương pháp giáo dục
Phương pháp giáo dục trong QLNN về kinh tế là cách thức tác động của Nhà
nước vào nhận thức và tình cảm của những con người thuộc đối tượng QLNN về
kinh tế, nhằm nâng cao tính tự giác, tính tích cực và nhiệt tình lao động của họ
trong việc thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
Phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật tâm lý. Đặc
trưng của phương pháp này là tính thuyết phục, tức là làm cho người lao động phân
biệt phải – trái, đúng – sai, thiện – ác, từ đó nâng cao ý thức tự giác làm việc và gắn
bó với doanh nghiệp.
1.2 Tổng quan về quản lý nhà nước về hải quan đối với mức độ tuân thủ của
doanh nghiệp trong hoạt động XK, NK
1.2.1 Tổng quan về doanh nghiệp hoạt động XK, NK
1.2.1.1 Tiếp cận chung về doanh nghiệp và doanh nghiệp hoạt động XK, NK
Doanh nghiệp là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong hệ thống các văn
bản pháp luật của Nhà nước cũng như trong hoạt động kinh tế, đời sống, xã hội. Tuy
nhiên dưới góc độ học thuật, khái niệm doanh nghiệp được tiếp cận dưới nhiều góc
độ khác nhau và có nhiều cách diễn đạt khác nhau.
Theo Từ điển Tiếng Việt, doanh nghiệp được giải thích là: “Tổ chức hoạt
động kinh doanh của những chủ sở hữu có tư cách pháp nhân, nhằm mục đích kiếm
lời ở một hoặc nhiều ngành”
1
. Luật doanh nghiệp cũng đưa ra khái niệm về doanh
nghiệp “là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được
đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt
có thể rút ta định nghĩa về doanh nghiệp hoạt động XK, NK: là doanh nghiệp được
thành lập và hoạt động theo các quy định của pháp luật, đáp ứng các điều kiện hoạt
động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu và có tham gia vào hoạt động xuất khẩu,
nhập khẩu hàng hóa.
Hoạt động XK, NK hàng hóa, theo Luật Thương mại quy định: “Xuất khẩu
hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu
đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy
định của pháp luật. Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ
Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được
coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”
3
. Theo Luật hải quan,
hoạt động XK, NK hàng hóa được phân chia thành 12 loại hình cụ thể (quy định từ
Điều 33 đến Điều 44 Luật hải quan). Đồng thời, để phù hợp với thực tế hoạt động
XK, NK, các văn bản quy định, hướng dẫn Luật hải quan đã phát triển thêm nhiều
loại hình XK, NK khác nhau phù hợp với thực tế đặc thù của từng hoạt động này,
như: XK, NK tại chỗ; tạm nhập – tái xuất xăng dầu; XK, NK khu kinh tế cửa khẩu
Ngoài ra, trong hoạt động XK, NK hàng hóa còn phân chia làm hai loại, đó
là: kinh doanh xuất, nhập khẩu hàng hóa theo hợp đồng thương mại (mậu dịch) và
các hoạt động XK, NK không có hợp đồng thương mại (phi mậu dịch), như: hàng
XK, NK để phục vụ triển lãm, hàng quà biếu, quà tặng của tổ chức, cá nhân Việc
quản lý hoạt động XK, NK hàng hóa này đang được thực hiện theo các chế độ chính
sách riêng đối với từng loại hình hoạt động.
1.2.1.2 Đặc điểm doanh nghiệp hoạt động XK, NK
- Đặc điểm về điều kiện và các chế độ chính sách quy định đối với doanh
nghiệp hoạt động XK, NK
Pháp luật hải quan hiện nay không giới hạn doanh nghiệp hoạt động XK,
NK; mọi doanh nghiệp thành lập theo quy định của pháp luật đều được tham gia
hoạt động XK, NK hàng hóa. Tuy nhiên, xuất phát từ yêu cầu quản lý doanh nghiệp
cũng như việc quản lý chế độ chính sách hải quan, chính sách thuế đối với hàng hóa
phải đảm bảo yêu cầu của cả hai khu vực thị trường trên về mặt giá cả, chất lượng,
mẫu mã sản phẩm….
Các doanh nghiệp XK, NK thực hiện thanh toán bằng đồng ngoại tệ, cũng vì
vậy mà khả năng rủi ro lớn hơn so với các doanh nghiệp kinh doanh trong nước.
Đặc điểm này đỏi hỏi các doanh nghiệp XK, NK tùy điều kiện phải lựa chọn đồng
tiền thanh toán, các hình thức thanh toán bảo vệ quyền lợi của mình.
- Đặc điểm về mối quan hệ tương tác đối với doanh nghiệp XK, NK trong
môi trường kinh doanh
Xuất nhập khẩu là hoạt động lưu thông hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia
khác nhau, chính vì vậy các hoạt động của các doanh nghiệp XK, NK rất phong
phú, thường xuyên bị chi phối bới các yếu tố như chính sách, luật pháp, văn hóa,
chính trị…của các quốc gia khác nhau.
1.2.1.3 Phân loại doanh nghiệp hoạt động XK, NK
Doanh nghiệp hoạt động XK, NK được chia thành ba loại chủ yếu:
Một là, doanh nghiệp là chủ sở hữu của hàng hóa XK, NK: trong trường hợp
này, doanh nghiệp tham gia vào hoạt động XK, NK có thể với tư cách vừa là chủ
hàng hóa vừa trực tiếp tham gia vào quá trình làm thủ tục hải quan hoặc thuê đại lý,
người ủy thác thực hiện một số khâu hoặc toàn bộ quá trình làm thủ tục hải quan.
Hai là, doanh nghiệp làm đại lý làm thủ tục hải quan: theo quy định của Luật
hải quan, “Người đại lý làm thủ tục hải quan là người khai hải quan theo uỷ quyền
của người có quyền và nghĩa vụ trong việc làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá
xuất khẩu, nhập khẩu”
4
. Điều 1 Nghị định số 14/2011/NĐ-CP ngày 16/2/2012 đã
giải thích rõ hơn về đại lý hải quan “là thương nhân thay mặt người có hàng hóa
xuất khẩu, nhập khẩu (sau đây gọi chung là chủ hàng) thực hiện trách nhiệm của
người khai hải quan theo quy định tại khoản 1 Điều 16 Luật Hải quan và thực hiện
các công việc khác về thủ tục hải quan theo thỏa thuận trong hợp đồng”
5
.
hiểu là một hành động hoặc một quá trình hoạt động tuân theo các quy định hoặc
đáp ứng các yêu cầu trong từng giai đoạn cụ thể. Sự tuân thủ chịu ảnh hưởng của
các yếu tố khách quan, như các điều kiện về môi trường, vật chất, tài chính, phương
tiện và các yếu tố ngoại cảnh bên ngoài; đồng thời mang tính chủ quan, như thái độ,
sự mong muốn, ý thức, đạo đức, phẩm chất, năng lực của chủ thể.
Tuân thủ trong hoạt động XK, NK là dạng tuân thủ bắt buộc, các đối tượng
tham gia hoạt động này phải tuân theo các quy định của pháp luật hải quan, pháp
luật thuế và các thủ tục, quy định của ngành Hải quan.
Việc tuân thủ trong lĩnh vực này được thực hiện bởi các chủ thể dưới đây:
+ Doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thực hiện XK, NK, bao gồm: chủ hàng hoá
XK, NK, người nộp thuế, đại lý hải quan, người được chủ hàng hoá, người nộp thuế
uỷ quyền thực hiện thủ tục hải quan, thủ tục thuế. Những người phải chấp hành các
7 Đại Từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa – Thông tin, năm 1998, tr 1744
quy định của pháp luật, chế độ chính sách quản lý hải quan, quản lý thuế đối với
hàng hóa XK, NK;
+ Cán bộ, công chức tại Hải quan vừa là chủ thể thực thi pháp luật hải quan,
pháp luật thuế, đồng thời cũng là người phải chấp hành các quy định của pháp luật
trên lĩnh vực này.
+ Các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động XK, NK cũng là đối
tượng có tác động ảnh hưởng nhất định đến việc tuân thủ PLHQ, pháp luật thuế,
như: Ngân hàng, cơ quan thuế nội địa, đơn vị quản lý cảng, kho, bãi
Như vậy, tuân thủ trong hoạt động XK, NK bao gồm việc tuân thủ của các
thành viên tham gia hoặc liên quan đến việc tham gia vào môi trường hoạt động
XK, NK; trong đó doanh nghiệp phải tuân theo các yêu cầu của pháp luật về việc
khai và đăng ký khai hải quan, nộp thuế và việc thanh toán đúng hạn, yêu cầu báo
cáo và các yêu cầu thủ tục khác. Đối với công chức hải quan, sự tuân thủ bao gồm
việc thực hiện, tuân theo các quy định của pháp luật, các quy trình, quy định, hướng
dẫn của ngành Hải quan. Ngoài ra, tuân thủ trong hoạt động XK, NK còn bao gồm
sự đáp ứng về mặt cơ sở hạ tầng kỹ thuật để đảm bảo việc khai và làm thủ tục đối
với hàng hóa XK, NK theo đúng quy trình, quy định.
định của pháp luật, chế độ chính sách quản lý hải quan, quản lý thuế trong hoạt
động XK, NK. Vì vậy, tuân thủ của doanh nghiệp XK, NK là việc chấp hành, việc
đáp ứng các yêu cầu của pháp luật hải quan, pháp luật thuế và các quy trình, quy
định của ngành Hải quan khi tiến hành hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa.
- Phân nhóm mức độ tuân thủ của doanh nghiệp trong hoạt động XK, NK
Thứ nhất, theo nghiên cứu tài liệu hướng dẫn quản lý tuân thủ của Tổ chức
hải quan thế giới (WCO) cho thấy sự phân chia mức độ tuân thủ doanh nghiệp
thành bốn nhóm chính:
Hình 1.1: Kim tự tháp tuân thủ
+ Nhóm 1. Doanh nghiệp tự nguyện tuân thủ pháp luật: luôn có thái độ sẵn
sàng làm những việc đúng quy định của pháp luật. Điều này bắt nguồn từ nhận thức
của doanh nghiệp thấy rằng phải có trách nhiệm tuân thủ pháp luật; coi việc tuân
thủ như là một vần đề thuộc về khía cạnh đạo đức và đạo lý. Do đó, họ sẵn sàng và
chủ động thực hiện tốt trách nhiệm, nghĩa vụ của mình; đồng thời có ý thức tự điều
chỉnh sự tuân thủ khi có những thay đổi hoặc xuất hiện nguy cơ rủi ro liên quan đến
việc tuân thủ.
+ Nhóm 2. Doanh nghiệp luôn cố gắng tuân thủ nhưng không đôi khi không
thành công: nguyên nhân của sự không thành công chủ yếu là do thiếu kỹ năng,
kiến thức, năng lực tuân thủ. Nhóm này sẵn sàng thừa nhận những lỗi vô ý gây ra và
sẵn sàng hợp tác, thậm chí yêu cầu thêm sự hỗ trợ từ cơ quan quản lý để thực hiện
trách nhiệm, nghĩa vụ trước pháp luật.
+ Nhóm 3. Doanh nghiệp sẽ có xu hướng không tuân thủ nếu có cơ hội: trong
thực tế đây là nhóm doanh nghiệp khó nhận biết nhất, vì bình thường họ chấp hành
đầy đủ các quy định của pháp luật, nhưng luôn tìm các kẽ hở của chính sách, pháp
luật để lợi dụng và khi có cơ hội sẽ không để lỡ việc thực hiện các hành vi gian lận.
Doanh nghiệp nhóm này thường là doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoạt động không
thường xuyên, trong các lĩnh vực, ngành hành có tính nhạy cảm. Về thái độ, những
doanh nghiệp này thường không mong muốn thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm theo
quy định của pháp luật; khi bị phát hiện thường không muốn thừa nhận, tìm cách
trốn tránh trách nhiệm, biện minh cho các hành vi vi phạm đã thực hiện trước đó.
XK, NK;
- Tuân thủ quy định của pháp luật về kiểm soát hải quan đối với hàng hóa
XK, NK;
- Tuân thủ nghĩa vụ nộp thuế;
- Tuân thủ trong thực hiện các yêu cầu của cơ quan hải quan.
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về hải quan đối với mức độ tuân thủ của doanh
nghiệp trong hoạt động XK, NK:
1.2.3.1 Khái niệm quản lý nhà nước về hải quan đối với mức độ tuân thủ của doanh
nghiệp trong hoạt động XK, NK
Quản lý tuân thủ là việc cơ quan, tổ chức thực hiện các biện pháp có tính tổ
chức theo hệ thống nhằm đánh giá, phân tích và hướng dẫn việc thực hiện các quy
định pháp luật có liên quan một cách có hiệu quả nhất. Quản lý tuân thủ được áp
dụng ở nhiều lĩnh vực ngành, nghề trong hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa, chính
trị của các quốc gia. Ví dụ, ngành An ninh đã thực hiện quản lý tuân thủ đối với các
đối tượng kinh doanh nhà hàng, khách sạn, quán bar, sàn nhảy vũ trường nhằm ngăn
chặn, hạn chế các hoạt động tiêu cực, gây mất an ninh, trật tự an toàn nơi công
cộng. Ngược lại, đối tượng được quản lý phải nhận được sự hướng dẫn, giải thích,
tập huấn cho các nội dung cần thiết trong việc kinh doanh của mình để tránh vi
phạm pháp luật.
Quản lý nhà nước đối với mức độ tuân thủ của doanh nghiệp trong hoạt động
XK, NK là hoạt động của cơ quan hải quan nhằm tiến hành các biện pháp có tính hệ
thống và tổ chức cao trên cơ sở dựa vào nguyên tắc quản lý rủi ro hiện tại.
Quản lý mức độ tuân thủ trong lĩnh vực hải quan là công cụ hữu hiệu nhất
giúp cơ quan Hải quan giám sát, đánh giá được đầy đủ nhất các hoạt động của
doanh nghiệp, đảm bảo sự tuân thủ pháp luật hải quan, pháp luật thuế và các biện
pháp, chế tài xử phạt có tính ngăn chặn, giáo dục đối với các hoạt động liên quan
đến XK, NK không tuân thủ pháp luật.
1.2.3.2 Nội dung quản lý nhà nước về hải quan đối với mức độ tuân thủ của doanh
nghiệp trong hoạt động XK, NK
Nghiên cứu nội dung này trong bối cảnh QLNN về hải quan đối với mức độ
kỹ thuật (trong đó bao gồm cả đo lường tuân thủ) để xác định mức độ tuân thủ pháp
luật hải quan, pháp luật thuế trên từng lĩnh vực hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu,
xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.
Trong hoạt động XK, NK, cơ quan hải quan thường sử dụng các hình thức
đánh giá tuân thủ chủ yếu dưới đây:
+ Sử dụng kết quả đo lường tuân thủ, khung chỉ số đánh giá và các thông tin
liên quan để xác định mức độ tuân thủ;
+ Sử dụng kết quả phân tích thông tin, dữ liệu về tình hình vi phạm pháp luật
hải quan, pháp luật thuế để đánh giá mức độ tuân thủ trên từng lĩnh vực hoạt động
XK, NK cụ thể;
+ Sử dụng bảng câu hỏi điều tra và khảo sát: là phương pháp có sự tham gia
của cán bộ, công chức hải quan và người tham gia hoạt động XK, NK. Phương pháp
này có xu hướng độc lập và người trả lời phải là người liên quan và khách quan để
trả lời chính xác câu hỏi;
+ Cán bộ, công chức tiến hành quan sát, khảo sát trực tiếp trên địa bàn và
việc tiến hành các hoạt động tác nghiệp;
+ Xây dựng tiêu chí, ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ để tự động đánh
giá tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp;
+ Nghiên cứu chuyên đề, tập trung đánh giá các lĩnh vực trọng điểm về quản
lý hải quan để xác định các rủi ro tuân thủ pháp luật hải quan;
+ Cán bộ, công chức tiến hành thẩm tra, xác minh cụ thể để đánh giá mức độ
tuân thủ của từng doanh nghiệp;
+ Phân tích SWOT để xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ. Phương
pháp này sử dụng để phân tích dữ liệu định lượng và tổng hợp kết quả đánh giá.
- Nội dung quy trình về đo lường, đánh giá tuân thủ doanh nghiệp hoạt động
XK, NK
Đo lường tuân thủ doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu là việc lựa chọn
mẫu kiểm tra, tổng hợp, phân tích các chỉ số tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp.
Đánh giá tuân thủ doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu là việc sử
dụng các biện pháp, cách thức để xác định mức độ tuân thủ pháp luật và mức độ rủi