PHẦN MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình hội nhập, giao lưu thương mại, việc phát sinh tranh chấp
thương mại là điều không thể tránh khỏi. Do đó, giải quyết tranh chấp đang là vấn đề
nổi cộm của nền kinh tế thế giới hiện nay. Các nhà kinh doanh, các cá nhân, tổ chức
hoàn toàn có quyền được lựa chọn phương thức để giải quyết những tranh chấp phát
sinh: Tòa án, thương lượng, hòa giải, trọng tài… Và trọng tài với những ưu điểm nổi
bật đang dần khẳng định vị thế của mình. Đây là phương thức được thương gia các
nước ưu tiên lựa chọn để giải quyết tranh chấp thương mại. Ở Việt Nam, trọng tài
cũng đang hình thành cho mình một chỗ đứng.
Khác với các phương thức giải quyết tranh chấp khác, tranh chấp của các bên
được đưa ra trọng tài giải quyết chỉ khi tồn tại một thỏa thuận trọng tài. Thỏa thuận
trọng tài được hiểu là sự nhất trí của các bên về việc đưa ra trọng tài giải quyết tranh
chấp đã hoặc sẽ phát sinh. Do vậy, thỏa thuận trọng tài là vấn đề then chốt trong việc
giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Thỏa thuận trọng tài được xem là công tắc khởi
động quá trình tố tụng trọng tài, bởi lẽ không có thỏa thuận trọng tài thì không thể có
việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Tuy nhiên không phải thỏa thuận nào cũng
dẫn đến quá trình tố tụng trọng tài. Chỉ những thỏa thuận đúng pháp luật, thể hiện
đúng ý chí của các bên mới vận hành được quá trình tố tụng trọng tài. Thỏa thuận
trọng tài có hiệu lực không chỉ là hình thức pháp lý ghi nhận sự thỏa thuận của các
bên, mà còn là căn cứ pháp lý để dựa vào đó bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi
phạm phải thực hiện nghĩa vụ thỏa thuận. Pháp luật các nước nói chung và Việt Nam
nói riêng cũng đều dành cho thỏa thuận trọng tài sự quan tâm đặc biệt, thể hiện ở việc
trong các đạo luật về trọng tài thường có một chương riêng quy định về thỏa thuận
trọng tài.
Đặc biệt là trong tiến trình hội nhập, tất yếu sẽ dẫn đến sự gia tăng về số lượng
và tính phức tạp của các tranh chấp thương mại. Đã đến lúc các cá nhân, tổ chức kinh
doanh phải nhận thức đúng về tầm quan trọng của thỏa thuận trọng tài, để xác lập
thỏa thuận trọng tài có hiệu lực, thực sự thể hiện được ý chí của các bên tạo cơ sở cho
việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được tiến hành một cách thuận lợi.
1
vậy, có thể thấy thỏa thuận trọng tài-một vấn đề quan trọng trong giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài tất yếu cũng đã được các tác giả trên đề cập, nghiên cứu. Tuy
nhiên vấn đề này cũng chỉ được nghiên cứu hết sức khái quát, chỉ chiếm một phần
nhỏ trong các luận văn nói trên. Đặc biệt trong đó, chỉ có khóa luận cử nhân “Một số
2
vấn đề pháp lý về điều khoản trọng tài trong hợp đồng thương mại quốc tế” của tác
giả Trần Thị Hồng đã đi sâu nghiên cứu về thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng
thương mại quốc tế. Tác giả Trần Thị Hồng đã phân tích kỹ những yếu tố ảnh hưởng
đến hiệu lực của thỏa thuận trọng tài từ đó tác giả đưa ra những đề xuất để xây dựng
một thỏa thuận trọng tài hoàn chỉnh giúp cho các doanh nghiệp khi đàm phán ký kết
hợp đồng. Chính vì vậy mà đề tài này mang một ý nghĩa thực tiễn rất lớn. Tuy nhiên,
tác giả Trần Thị Hồng đã không đi sâu vào phân tích thực trạng pháp luật cũng như
thực trạng áp dụng pháp luật về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài. Do đó, thiết nghĩ
việc nghiên cứu kỹ lưỡng về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài cũng như việc đánh giá
thực trạng pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật về hiệu lực của thỏa thuận trọng
tài từ đó đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện pháp luật là việc làm cần thiết, góp
phần nhất định làm sáng rõ hơn nhận thức về thỏa thuận trọng tài.
Phạm vi nghiên cứu và mục đích của đề tài
Trọng tài thương mại là một lĩnh vực khá rộng, bao gồm nhiều vấn đề về: thỏa
thuận trọng tài, trọng tài viên, quá trình tố tụng trọng tài… Trong phạm vi đề tài của
mình tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, thực trạng
pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật tại Việt Nam về hiệu lực của thỏa thuận
trọng tài. Trong phần đánh giá về thực trạng pháp luật về hiệu lực của thỏa thuận
trọng tài, tác giả sẽ phân tích, so sánh, đối chiếu giữa các văn bản pháp luật hiện hành
quy định về hiệu lực thỏa thuận trọng tài và Luật Trọng tài thương mại mới vừa được
Quốc hội thông qua để thấy được sự khác biệt giữa quy định cũ và quy định mới.
Qua đó, có thể làm rõ những điểm mới của Luật Trọng tài thương mại về hiệu lực
của thỏa thuận trọng tài.
Thông qua việc nghiên cứu đề tài, tác giả mong muốn đưa ra một cách nhìn
toàn diện và có hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật các nước
Việt Nam và các nước đều dành cho thỏa thuận trọng tài một sự ưu tiên nhất định, thể
hiện ở việc dành cho thỏa thuận trọng tài một chương riêng biệt trong các đạo luật
quy định về trọng tài. Chính vì thế mà thỏa thuận trọng tài được định nghĩa hết sức rõ
ràng trong các đạo luật này.
Luật Trọng tài thương mại (sau đây gọi tắt là LTTTM) đưa ra định nghĩa:
“Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên nhằm giải quyết bằng Trọng tài
tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh”. Trước đây, Khoản 2 Điều 2 Pháp
lệnh Trọng tài thương mại 2003 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh Trọng tài) đã đưa ra
định nghĩa về thỏa thuận trọng tài như sau: “Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa
các bên cam kết giải quyết bằng trọng tài các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã
phát sinh trong hoạt động thương mại”. Như vậy, đối tượng tranh chấp được đưa ra
trọng tài giải quyết được xem là vấn đề gây nhiều tranh cãi đã không được đề cập
trong định nghĩa về thỏa thuận trọng tài của Luật mới mà được quy định tại một điều
khoản riêng biệt (Điều 2 LTTTM). Việc quy định như vậy đã giúp cho những đối
tượng tranh chấp mà trọng tài có thẩm quyền giải quyết trở nên rõ ràng hơn nhiều so
với cách quy định chung chung “các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát
sinh trong hoạt động thương mại” trong Pháp lệnh đồng thời cũng làm cho định
nghĩa thỏa thuận trọng tài đơn giản, rõ ràng hơn tránh việc gây nên nhiều cách hiểu
khác nhau.
Luật Mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế của Ủy ban luật thương mại quốc tế
của Liên hiệp quốc (sau đây gọi tắt là Luật Mẫu UNCITRAL) đưa ra định nghĩa về
thỏa thuận trọng tài như sau: “Thỏa thuận trọng tài là thoả thuận mà các bên đưa ra
trọng tài mọi hoặc các tranh chấp nhất định phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa các
bên về quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải là quan hệ
hợp đồng. Thoả thuận trọng tài có thể dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp
đồng hoặc dưới hình thức thoả thuận riêng”.
5
Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài
nước ngoài (sau đây gọi tắt là Công ước New York) cũng đã định nghĩa về thỏa thuận
trọng tài như sau: “là thỏa thuận bằng văn bản theo đó các bên cam kết đưa ra trọng
1
Nguyễn Đình Thơ (2006), “Một số vấn đề về thỏa thuận trọng tài”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (Số 20/2006),
tr.16.
6
hoặc dưới hình thức thỏa thuận riêng”. Việc quy định thời điểm xác lập thỏa thuận
trọng tài như thế là hết sức linh hoạt. Tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tranh chấp,
giúp cho tranh chấp được giải quyết hiệu quả.
Thứ ba, về hình thức của thỏa thuận trọng tài là phải bằng văn bản. Pháp luật
Việt Nam cũng như các nước đều thống nhất, hình thức của thỏa thuận trọng tài phải
bằng văn bản
2
. Đây cũng là một trong những điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận
trọng tài. Vấn đề này sẽ được tác giả làm rõ ở Chương 2 của Khóa luận.
Thứ tư, phạm vi giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là các tranh chấp phát sinh
trong hoạt động thương mại. Luật Mẫu UNCITRAL cũng như Công ước New York
đều ghi nhận các tranh chấp được đưa ra trọng tài giải quyết có thể là tranh chấp
trong hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng. Trong khi, Pháp lệnh Trọng tài thương mại
Việt Nam chỉ quy định “các tranh chấp đã phát sinh hoặc sẽ phát sinh trong hoạt
động thương mại” mà không đề cập đến vấn đề các tranh chấp đó trong hợp đồng hay
ngoài hợp đồng
3
.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về thỏa thuận trọng tài một
cách khái quát như sau: “Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận bằng văn bản giữa các
bên nhằm giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh
giữa các bên. Thỏa thuận trọng tài có thể là điều khoản trọng tài trong hợp đồng
hoặc là một thỏa thuận riêng”.
1.2. Đặc điểm của thỏa thuận trọng tài
1.2.1. Tính tự nguyện
Đây là đặc điểm hết sức đặc trưng của thỏa thuận trọng tài. Thỏa thuận là “đi
định kinh doanh và như mọi quyết định kinh doanh khác, họ phải tự chịu rủi ro có thể
xảy ra
4
. Do vậy, một khi đã tự nguyện xác lập thỏa thuận trọng tài các bên phải chịu
sự ràng buộc của nó trong suốt quá trình giải quyết vụ tranh chấp. Sự ràng buộc thể
hiện ở những điểm sau:
- Trong thỏa thuận trọng tài các bên thống nhất lựa chọn trọng tài giải quyết
tranh chấp, lựa chọn hình thức trọng tài (thường trực hoặc lâm thời), lựa chọn trung
tâm trọng tài, lựa chọn địa điểm, ngôn ngữ… Do đó đòi hỏi các bên phải thực hiện
đúng theo thỏa thuận đã xác lập. Bởi các bên đã xác lập thỏa thuận một cách tự
nguyện, được tự do chọn lựa cách thức giải quyết tranh chấp. Chính vì vậy các bên
cần có trách nhiệm đối với sự lựa chọn của mình.
- Mặt khác, tính tự nguyện cũng ảnh hưởng đến thiện chí của các bên khi thi
hành quyết định trọng tài. Một khi đã xác lập thỏa thuận trọng tài một cách tự
nguyện, các bên cũng cần nghiêm chỉnh thi hành quyết định trọng tài. Góp phần
mang lại hiệu quả cho quá trình giải quyết tranh chấp.
Như vậy có thể thấy, đặc điểm này đã thể hiện được ưu điểm của phương thức
giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Trọng tài sẽ giải quyết nhanh chóng, hiệu quả,
thuận tiện cho các bên trong trường hợp tất cả các bên đều có thiện chí, trung thực và
hợp tác.
4
Trần Hữu Huỳnh (2003), “Pháp lệnh Trọng tài thương mại, những thử thách phía trước”, Tạp chí Nghiên
cứu lập pháp, (Số 04/2003), tr.64.
8
Do đặc điểm hết sức đặc trưng này mà pháp luật đã quy định tính tự nguyện của
các bên khi xác lập thỏa thuận trọng tài cũng là một trong những nội dung ảnh hưởng
đến hiệu lực của thỏa thuận trọng tài. LTTTM đã quy định một trong các trường hợp
làm cho thỏa thuận trọng tài vô hiệu là: “Một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, cưỡng
ép trong quá trình xác lập thỏa thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận
trọng tài đó là vô hiệu” (Khoản 5 Điều 18). Thật vậy, ý chí của các bên khi xác lập
• Chủ thể xác lập hợp đồng là người chưa thành niên, người mất năng lực hành
vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
• Hợp đồng có sự vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội;
• Hợp đồng vô hiệu do giả tạo;
• Hợp đồng vô hiệu do bị nhầm lẫn;
• Hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa;
• Hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức;
• Hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được.
Trong khi, những nguyên nhân làm cho thỏa thuận trọng tài vô hiệu được quy
định tại Điều 18 LTTTM
6
như sau:
• Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng
tài theo quy định tại Điều 2 của Luật này;
• Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của
pháp luật;
• Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo
quy định của Bộ luật dân sự;
• Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16
của Luật này;
• Một trong các bên bị lừa dối, bị đe doạ, bị cưỡng ép trong quá trình xác lập
thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu;
• Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.
Như vậy, có thể thấy có khi nguyên nhân làm cho hợp đồng vô hiệu trùng với
nguyên nhân làm cho thỏa thuận trọng tài vô hiệu, ví dụ như trường hợp chủ thể
không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Tuy nhiên nếu cả hợp đồng và thỏa thuận
trọng tài điều vô hiệu do cùng một nguyên nhân thì sự vô hiệu này vẫn độc lập. Bản
thân thỏa thuận trọng tài vô hiệu do người ký kết thỏa thuận trọng tài không có năng
lực đầy đủ theo Điều 18 LTTTM chứ không phải hợp đồng vô hiệu kéo theo thỏa
thuận trọng tài vô hiệu.
bên không hề mong muốn cho tranh chấp xảy ra cũng như không thể lường trước
được tranh chấp sẽ xảy ra khi nào. Các bên xác lập điều khoản trọng tài trong hợp
đồng nhằm dự liệu phương hướng giải quyết khi tranh chấp xảy ra, hi vọng tranh
chấp sẽ được giải quyết ổn thỏa, tốt đẹp. Nếu hợp đồng vô hiệu kéo theo thỏa thuận
trọng tài vô hiệu thì thật là vô lý. Trong khi, trước khi xảy ra tranh chấp hai bên đã tự
nguyện lựa chọn trọng tài giải quyết, khi tranh chấp xảy ra hai bên vẫn mong muốn
đưa ra trọng tài giải quyết. Hợp đồng vô hiệu kéo theo thỏa thuận trọng tài vô hiệu vô
hình chung đã không tôn trọng sự thỏa thuận của các bên. Trong trường hợp này nếu
muốn đưa ra giải quyết tại trọng tài có phải hai bên phải thỏa thuận lại trong một thỏa
7
Đỗ Văn Đại và Trần Hoàng Hải (2010), “Tuyển tập các bản án, quyết định của Tòa án Việt Nam về trọng tài
thương mại”, NXB Lao động, Hà Nội, tr.122.
11
thuận trọng tài riêng biệt? Việc này làm tốn kém thời gian cũng như công sức của các
bên. Chưa kể trường hợp một trong các bên không có thiện chí làm kéo dài thời gian
giải quyết tranh chấp. Vậy mà thỏa thuận trọng tài trước đó có tác dụng ràng buộc
các bên bây giờ lại vô hiệu theo hợp đồng. Do vậy, việc xác định thỏa thuận trọng tài
độc lập với hợp đồng là điều cần thiết.
Lý do thứ ba là, thỏa thuận trọng tài về bản chất là một “hợp đồng” đưa tranh
chấp giữa các bên ra giải quyết trước trọng tài, còn hợp đồng được các bên thỏa
thuận ký kết là nhằm điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên
8
. Thật vậy, nên xem
thỏa thuận trọng tài như một hợp đồng. Điều 388 BLDS quy định: “Hợp đồng dân sự
là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự”. Về hình thức thỏa thuận trọng tài có thể chưa phải là một hợp đồng
nhưng xét về bản chất thỏa thuận trọng tài dường như đã đáp ứng đầy đủ các yếu tố
cấu thành hợp đồng. Đó là văn bản các bên thỏa thuận về phương thức giải quyết
tranh chấp, trung tâm giải quyết, quy tắc tố tụng, địa điểm, ngôn ngữ… và các bên
cũng phải chịu trách nhiệm đối với sự lựa chọn của mình. Mặt khác khi được xem là
. Tính độc lập này rất quan trọng nhất là khi
hợp đồng vô hiệu thì thỏa thuận trọng tài vẫn có hiệu lực, cho phép xác định thẩm
quyền của trọng tài giải quyết vụ tranh chấp phát sinh từ hợp đồng đó. Như vậy thỏa
thuận trọng tài sẽ không chịu sự ràng buộc từ hợp đồng, ngay cả khi nó là một điều
khoản nằm trong hợp đồng.
- Luật áp dụng đối với thỏa thuận trọng tài và luật điều chỉnh nội dung hợp
đồng trong các hợp đồng thương mại quốc tế là khác nhau. Chính vì tính độc lập nên
không nhất thiết luật điều chỉnh nội dung hợp đồng và luật điều chỉnh thỏa thuận
trọng tài phải giống nhau. Trên thực tế các bên dường như chỉ quan tâm thỏa thuận
luật điều chỉnh nội dung hợp đồng mà chưa dành sự quan tâm đáng kể cho luật điều
chỉnh thỏa thuận trọng tài. Việc xem xét luật điều chỉnh hiệu lực của thoả thuận trọng
tài phụ thuộc vào từng giai đoạn tố tụng trọng tài mà sẽ có những quyết định riêng rẽ,
chẳng hạn, luật nơi tiến hành trọng tài, luật nơi phán quyết được tuyên, luật điều
chỉnh nội dung tranh chấp
10
. Như vậy để tránh những rắc rối có thể phát sinh trong
quá trình tố tụng, khi giao kết hợp đồng, đặc biệt là các hợp đồng thương mại quốc
tế, các bên nên thỏa thuận rõ luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài.
- Tính độc lập của thỏa thuận trọng tài còn được thể hiện qua nguyên tắc
“thẩm quyền của thẩm quyền”-“ competence of competence”. Theo nguyên tắc này
thì Hội đồng trọng tài có thẩm quyền xem xét thẩm quyền của chính mình. Việc xác
định sự độc lập của thỏa thuận trọng tài tạo cơ sở cho Hội đồng trọng tài xem xét
hiệu lực của hợp đồng. Nếu có khiếu nại của các bên về thỏa thuận trọng tài, Hội
đồng trọng tài sẽ tiến hành xem xét mình có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nữa
hay không. Nguyên tắc này được ghi nhận trong Điều 30 của Pháp lệnh “Trước khi
xem xét nội dung vụ tranh chấp, nếu có đơn khiếu nại của một bên về việc Hội đồng
Trọng tài không có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp; vụ tranh chấp không có
thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu, Hội đồng Trọng tài phải xem
xét, quyết định với sự có mặt của các bên, trừ trường hợp các bên có yêu cầu
khác...”. Như vậy, hợp đồng vô hiệu không loại trừ thẩm quyền của trọng tài. Đảm
trường hợp này nên hiểu khi thỏa thuận trọng tài là một thỏa thuận riêng biệt thì nó sẽ
không có đặc điểm này hay vì là một thỏa thuận riêng biệt nằm ngoài hợp đồng nên
nó sẽ đương nhiên độc lập với hợp đồng? Mặt khác, trong Điều 11 Pháp lệnh Trọng
tài chỉ đề cập đến các trường hợp hợp đồng bị thay đổi, gia hạn, hủy bỏ, vô hiệu. Vậy
trường hợp hợp đồng không thể thực hiện được, không rơi vào những trường hợp
trên thì giá trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài sẽ như thế nào? Trong điều kiện nước
ta hiện nay vốn còn nhiều bất cập trong việc giải thích và áp dụng luật. Thiết nghĩ, để
hạn chế tối đa rủi ro có thể xảy ra trong quá trình áp dụng luật nên quy định vấn đề
này một cách cụ thể hơn. Và LTTTM mới đã khắc phục được nhược điểm này. Điều
19 LTTTM đã quy định như sau: “Thoả thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp
đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể
14
thực hiện được không làm mất hiệu lực của thoả thuận trọng tài”. Như vậy Luật mới
đã giải quyết thỏa đáng lần lượt những câu hỏi đặt ra ở trên.
Quy định về tính độc lập giữa thỏa thuận trọng tài và hợp đồng có trong pháp
luật trọng tài của hầu hết các nước. Điều 7 Luật Trọng tài Anh quy định: “Tính chất
độc lập của thỏa thuận trọng tài: Trừ khi các bên có thỏa thuận khác, một thỏa thuận
trọng tài tạo thành hoặc được dự định tạo thành của một phần thỏa thuận khác
(thành văn hoặc không thành văn) sẽ không bị coi là không có giá trị pháp lý, không
tồn tại hoặc không có hiệu lực khi thỏa thuận kia bị mất giá trị pháp lý, không tồn tại
hay không có hiệu lực và vì mục đích này nó sẽ được coi như một thỏa thuận riêng
biệt”
11
. Điều 19 Luật Trọng tài Trung Quốc cũng quy định: “Thỏa thuận trọng tài
tồn tại độc lập. Mọi sự thay đổi, hủy bỏ, chấm dứt hoặc không có hiệu lực của hợp
đồng không ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài”
12
. Ở Nhật, tính
độc lập của thỏa thuận trọng tài không được ghi nhận trong văn bản pháp luật nhưng
trong thực tiễn xét xử Toà án coi điều khoản trọng tài độc lập với những vấn đề khác
http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2010/03/27/4609/
15
nguyên tắc về tính hiệu lực của điều khoản trọng tài, theo đó điều khoản trọng tài có
một chế độ pháp lý riêng, đặc thù và được suy đoán trước là có hiệu lực. Như vậy có
thể thấy, đặc điểm này được ghi nhận ở hầu hết pháp luật các nước, càng khẳng định
được ý nghĩa quan trọng của nó trong việc giải quyết tranh chấp, đó là ý nghĩa đảm
bảo cho mọi tranh chấp đều được giải quyết. Pháp luật Việt Nam quy định về vấn đề
này khá tương đồng với các nước trên thế giới.
1.3. Ý nghĩa của thỏa thuận trọng tài
Thỏa thuận trọng tài được xem là vấn đề then chốt và có vai trò quyết định đối
với việc áp dụng trọng tài như một phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh
doanh. Nhận thức đúng vai trò, ý nghĩa của thỏa thuận trọng tài sẽ giúp cho việc giải
quyết tranh chấp hiệu quả, nhanh chóng. Thỏa thuận trọng tài có những ý nghĩa quan
trọng sau đây:
Một là, thỏa thuận trọng tài là cơ sở đầu tiên để xác định thẩm quyền của trọng
tài. Sẽ không có việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nếu không có thỏa thuận
trọng tài giữa các bên tranh chấp. Khác với tòa án có thẩm quyền đương nhiên giải
quyết các vụ tranh chấp phát sinh, trọng tài chỉ có thẩm quyền nếu các bên có thỏa
thuận. Đây là nguyên tắc quan trọng của phương thức giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài, đảm bảo tối đa quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp. Khoản 1 Điều 5
LTTTM cũng đã khẳng định: “Tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài nếu các
bên có thỏa thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi
xảy ra tranh chấp”. Pháp lệnh Trọng tài cũng đã ghi nhận nguyên tắc này tại Khoản
1 Điều 5. Tuy nhiên, không phải cứ có thỏa thuận trọng tài thì trọng tài sẽ đương
nhiên có thẩm quyền giải quyết. Thỏa thuận trọng tài chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó có
hiệu lực. Tức là, thỏa thuận trọng tài đó phải thể hiện đúng ý chí của các bên, đồng
thời tuân theo các quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận
trọng tài. Khi thỏa thuận trọng tài đã vô hiệu mà trọng tài vẫn giải quyết thì quyết
định đó sẽ bị hủy bởi tòa án. Điều này được quy định tại Điều 54 Pháp lệnh và tiếp
tục được ghi nhận tại Điều 68 LTTTM.
tranh chấp.
Mâu thuẫn về thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa tòa án và trọng tài cũng đã
xảy ra trên thực tế, tranh chấp dưới đây là một ví dụ điển hình. Đó là vụ tranh chấp
hợp đồng liên doanh giữa nguyên đơn là Công ty TNHH Trường Sanh và bị đơn là
ông Kuo Chi Sheng. Trong hợp đồng các bên có thỏa thuận “Trung tâm Trọng tài
quốc tế thuộc Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam giải quyết tranh chấp”.
Nhưng khi tranh chấp xảy ra Công ty TNHH Trường Sanh đã gởi văn bản cho ông
Kuo Chi Sheng thông báo sẽ khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết; ông Kuo Chi Sheng
đã nhận được thông báo khởi kiện của nguyên đơn, nhưng quá 7 ngày làm việc kể từ
ngày nhận được mà không phản đối. Căn cứ vào hướng dẫn tại Nghị quyết
05/2003/NQ-HĐTP Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xem trong trường hợp này là
các bên có thỏa thuận mới chọn tòa án giải quyết vụ tranh chấp thay cho thỏa thuận
trọng tài đã xác lập trước đó. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã thụ lý, giải
17
quyết vụ án theo thẩm quyền. Trong khi đó, Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam
cho rằng giữa các bên đã tồn tại một thỏa thuận trọng tài có hiệu lực, căn cứ vào Điều
5 Pháp lệnh trọng tài thì Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã thụ lý không đúng
thẩm quyền. Các trọng tài viên của VIAC cho rằng Nghị quyết 05/2003/NQ-HĐTP là
văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Trọng tài thương mại. Về tính pháp lý, văn
bản này có giá trị thấp hơn so với Pháp lệnh và không được trái với quy định trong
Pháp lệnh. Như vậy, việc thẩm phán viện dẫn Nghị quyết mà không áp dụng Điều 5
Pháp lệnh Trọng tài thương mại là không thể chấp nhận được. Do đó, căn cứ vào
Điều 30 Pháp lệnh, ngày 24-10-2008 VIAC đã ra Quyết định về thẩm quyền giải
quyết tranh chấp vụ kiện số 10/08 giữa ông Kuo Chi Sheng (nguyên đơn) và Công ty
TNHH Trường Sanh (bị đơn). Sau đó, Công ty TNHH Trường Sanh đã nộp đơn yêu
cầu Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh xem xét lại Quyết định của Hội đồng Trọng tài về
thẩm quyền giải quyết vụ kiện. Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh sau khi xem xét, xét
thấy Quyết định của Hội đồng Trọng tài là đúng quy định pháp luật. Do đó, tòa án đã
ra Quyết định số 1475/2009/KDTM-QĐ ngày 18-6-2009
15
tài các tranh chấp phát sinh. Tuy nhiên, thỏa thuận đó có thể vô hiệu do nhiều lý do
khác nhau. Tùy thuộc vào thời điểm phát hiện thỏa thuận trọng tài vô hiệu sẽ mang
lại những hậu quả pháp lý khác nhau cho các bên tranh chấp.
Khi phát sinh tranh chấp và tranh chấp chưa được giải quyết tại bất kỳ cơ quan
nào, nhận thấy thỏa thuận trọng tài vô hiệu, một bên có thể khởi kiện ra Tòa án. Lúc
này Tòa án hoàn toàn có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp vì thỏa thuận trọng tài
đã vô hiệu. Đây chính là trường hợp ngoại lệ quy định tại Điều 6 LTTTM: “Trong
trường hợp tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án
thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả
thuận trọng tài không thể thực hiện được”.
Khi tranh chấp đã được trọng tài thụ lý nhưng chưa được giải quyết, theo quy
định tại Điều 43 LTTTM trước khi xem xét nội dung vụ tranh chấp Hội đồng Trọng
tài phải xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài và xem xét thẩm quyền của chính
mình. Trong trường hợp không đồng ý với quyết định của Hội đồng Trọng tài quy
định tại Điều 43, trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định
của Hội đồng Trọng tài, các bên có quyền gửi đơn yêu cầu Toà án có thẩm quyền
xem xét lại quyết định của Hội đồng Trọng tài. Bên khiếu nại phải đồng thời thông
báo việc khiếu nại cho Hội đồng Trọng tài. Như vậy sẽ đảm bảo được việc giải quyết
tranh chấp của trọng tài là đúng thẩm quyền, tránh được những rắc rối có thể phát
sinh sau này. Về vấn đề này, Điều 30 Pháp lệnh lại quy định khác. Theo Điều 30
Pháp lệnh, Hội đồng Trọng tài chỉ xem xét thẩm quyền của chính mình khi có đơn
khiếu nại của một bên về việc Hội đồng Trọng tài không có thẩm quyền giải quyết vụ
tranh chấp. Rõ ràng, quy định trong LTTTM mới giúp tiết kiệm thời gian cũng như
công sức của các bên hơn, tránh việc Tòa án hủy phán quyết trọng tài khi thỏa thuận
trọng tài vô hiệu.
Khi tranh chấp đã được giải quyết bởi trọng tài, theo quy định tại Điều 68
LTTTM thì thỏa thuận trọng tài vô hiệu là một trong các căn cứ để Tòa án hủy quyết
định trọng tài. Do đó, trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định trọng
tài nếu nhận thấy thỏa thuận trọng tài vô hiệu một bên có quyền làm đơn gởi tòa án
19
Trọng tài theo quy định tại Điều 2 của Luật này.
2. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của
pháp luật.
3. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo
quy định của Bộ luật dân sự.
4. Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16
của Luật này.
5. Một trong các bên bị lừa dối, bị đe doạ, bị cưỡng ép trong quá trình xác
lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu.
6. Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật”
Điều 10 Pháp lệnh Trọng tài cũng đã quy định:
“Thoả thuận trọng tài vô hiệu trong những trường hợp sau đây:
1. Tranh chấp phát sinh không thuộc hoạt động thương mại được quy định tại
khoản 3 Điều 2 của Pháp lệnh này;
2. Người ký thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền ký kết theo quy định của
pháp luật;
3. Một bên ký kết thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
4. Thoả thuận trọng tài không quy định hoặc quy định không rõ đối tượng tranh
chấp, tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp mà sau đó các
bên không có thoả thuận bổ sung;
5. Thoả thuận trọng tài không được lập theo quy định tại Điều 9 của Pháp lệnh
này;
21
6. Bên ký kết thoả thuận trọng tài bị lừa dối, bị đe doạ và có yêu càu tuyên bố
thoả thuận trọng tài vô hiệu; thời hiệu yêu cầu tuyến bố thoả thuận trọng tài
vô hiệu là sáu tháng, kể từ ngày ký kết thoả thuận trọng tài, nhưng phải trước
ngày Hội đồng Trọng tài mở phiên họp đầu tiên giải quyết vụ tranh chấp quy
định tại Điều 30 của Pháp lệnh này.”
Như vậy, đã có sự khác nhau giữa hai văn bản. Sau đây, tác giả sẽ phân tích
từng điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài để làm rõ những điểm mới được
lệnh đã quy định thế nào là hoạt động thương mại: “Hoạt động thương mại là việc
thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao
gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại;
ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li-xăng; đầu tư; tài
chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hóa, hành khách
bằng đường hàng không đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương
mại khác theo quy định của pháp luật”. Bằng phương pháp liệt kê, Pháp lệnh đã đưa
ra danh sách những hành vi nào là hành vi thương mại. Có thể thấy, đây là một danh
sách mở. Bởi, ngoài những hành vi được liệt kê còn có “các hành vi thương mại
khác theo quy định của pháp luật”. Ngoài ra, trong pháp luật hiện hành hoạt động
thương mại còn được quy định trong Luật Thương mại 2005. Khoản 1 Điều 3 Luật
Thương mại đã quy định như sau: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục
đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương
mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Như vậy, đã có sự khác nhau
trong cách quy định về hoạt động thương mại giữa hai văn bản. Về vấn đề này, hiện
có hai quan điểm:
Theo quan điểm thứ nhất thì Luật Thương mại quy định hoạt động thương mại
rộng hơn so với Pháp lệnh Trọng tài
17
. Các tác giả theo quan điểm này cho rằng Luật
Thương mại thừa nhận cả những chủ thể không có đăng ký kinh doanh nhưng tham
gia hoạt động có mục đích lợi nhuận thì tranh chấp giữa họ cũng được xem là tranh
chấp thương mại. Điều 2 Luật Thương mại đã quy định đối tượng áp dụng bao gồm:
Thương nhân hoạt động thương mại theo quy định tại Điều 1; tổ chức, cá nhân khác
hoạt động có liên quan đến thương mại; căn cứ vào các nguyên tắc của luật này,
Chính phủ quy định cụ thể việc áp dụng luật này đối với cá nhân hoạt động thương
mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh. Trong khi Pháp
lệnh Trọng tài chỉ thừa nhận giải quyết tranh chấp giữa các bên tranh chấp là cá nhân
kinh doanh hoặc tổ chức kinh doanh. Điều 2 Nghị định 25/2004 quy định rõ: “Trọng
tài thương mại có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động
Luật Mẫu UNCITRAL: “Thuật ngữ “thương mại” cần được giải thích theo nghĩa
rộng liên quan đến tất cả các vấn đề phát sinh từ các quan hệ có bản chất thương
mại, dù là quan hệ hợp đồng hoặc không phải là quan hệ hợp đồng. Những quan hệ
có bản chất thương mại bao gồm, nhưng không giới hạn bởi các giao dịch sau: giao
dịch thương mại để cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ; thoả thuận phân
phối, đại diện hoặc đại lý thương mại; hoa hồng; thuê mua; xây dựng công trình; tư
vấn; kỹ thuật; li-xăng; đầu tư; tài chính; ngân hàng; bảo hiểm; thoả thuận thăm dò
hoặc khai thác; liên doanh và các hình thức hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh
khác; vận tải hàng hoá hoặc hành khách bằng đường hàng không; đường biển,
đường sắt hoặc đường bộ”. Như vậy có thể thấy, Pháp lệnh đưa ra cách quy định
tương đối rộng về hoạt động thương mại.
Tuy nhiên qua thực tiễn áp dụng đã phát sinh không ít rắc rối cho các chủ thể
tham gia hoạt động thương mại cũng như các chủ thể áp dụng pháp luật. Bởi có sự
quy định khác nhau về hoạt động thương mại trong các văn bản pháp luật khác nhau.
18
Đỗ Văn Đại (2007), “Giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học
pháp lý, (Số 6/2007).
24
Pháp lệnh Trọng tài được ban hành vào thời điểm Luật Thương mại 1997 vẫn còn
đang có hiệu lực. Pháp lệnh đã đưa ra khái niệm tương đối đầy đủ về hoạt động
thương mại. Rõ ràng, đây là khái niệm có nội hàm rộng hơn so với 14 hành vi thương
mại quy định tại Điều 45 Luật Thương mại 1997:
“Hành vi thương mại theo quy định của luật này bao gồm:
1. Mua bán hàng hóa;
2. Đại diện cho thương nhân;
3. Môi giới thương mại;
4. Ủy thác mua bán hàng hóa;
5. Đại lý mua bán hàng hóa;
6. Gia công trong thương mại;
7. Đấu giá hàng hóa;