báo cáo chuyên đề bồi dưỡng thường xuyên nội dung dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng và kỹ thuật xây dựng để kiểm tra - Pdf 27

TRƯỜNG THCS THỦY PHÙ BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN
Tổ: Toán - Lí - Tin - KTCN
Bộ môn: Vật lí
Người báo cáo: Ngô Hoàng Giang
NỘI DUNG BỒI DƯỠNG 1: DẠY HỌC THEO CHUẨN
KIỂN THỨC, KỸ NĂNG VÀ KỸ THUẬT XÂY DỰNG ĐỀ
KIỂM TRA
Phần 1. Nhận thức về dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng
Dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng là dạy theo một tiêu chí qui định phù hợp
với phương pháp dạy học trong một giai đoạn nhất định góp phần nâng cao chất lượng
học tập cho học sinh theo tiêu chuẩn tối thiểu qui định, góp phần chống quá tải cho
học sinh.
Dạy học theo chuẩn kiến thức hạn chế việc học thêm, dạy thêm, giúp cho học
sinh có niềm tin trong học tập, tránh gây áp lực trong học tập và kiểm tra, thi cử, phát
huy được tính tích cực của học sinh khá giỏi đảm bảo được chất lượng cho học sinh
yếu.
* Phân loại mức độ cần đạt được về kiến thức kĩ năng
-Sáng tạo: Là khả năng tổng hợp, sắp xếp, thiết kế lại thông tin khai thác, bổ
sung thông tin từ các nguồn tư liệu khác để sáng lập hình mẫu mới
- Đánh giá: Là khả năng xác định giá trị của thông tin: Bình xét, nhận định, xác
định được giá trị của một tư tưởng, một nội dung kiến thức…
- Phân tích: Là khả năng nhận biết chi tiết, phát hiện và phân biệt được các bộ
phận cấu thành của thông tin hay tình huống
- Vận dụng: Là khả năng sử dụng thông tin từ một sự việc này sang một sự việc
khác. (Sử dụng những hiểu biết trong hoàn cảnh mới)
- Thông hiểu: là khả năng diễn dịch, diễn giải, giải thích hoặc suy diễn. (dự
đoán được kết quả và ảnh hưởng)
- Nhận biết: Là khả năng ghi nhớ, nhận diện thông tin
Việc biên soạn đề kiểm tra theo ma trận giúp cho giáo viên định lượng được đơn vị
thời gian, đơn vị kiến thức cơ bản, trọng tâm, cấp độ tư duy phát huy được tính tích
cực cho HS.

sang phương pháp dạy học mới, trong đó HS dưới sự tổ chức, hướng dẫn, gợi mở của
GV phải tự mình chiếm lĩnh bài học, tự rút ra kết luận, những bài học. cần thiết cho
mình với sự chủ động tối đa. Xác định rõ ràng, chính xác mục tiêu bài học, đảm bảo
chuẩn KTKN Phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác học tập, chú trọng rèn luyện kĩ
năng vận dụng, thực hành của HS; gắn nội dung bài học vào thực tế cuộc sống. Khai
thác tối đa, sử dụng có hiệu quả các phương tiện, thiết bị dạy học. Phối hợp sử dụng
các phương pháp dạy học tích cực. Thiết kế bài dạy: bám sát chuẩn KTKN, nắm chắc
trọng tâm và hướng dẫn thực hiện để thiết kế bài giảng đảm bảo các yêu cầu cơ bản,
tránh lệ thuộc hoàn toàn vào SGK, khiến giờ dạy quá tải, nặng nề, không kịp thời gian.
Kiểm tra đánh giá HS đúng tinh thần đổi mới, đảm bảo tính khách quan, chính xác,
toàn diện, hệ thống và vừa sức, động viên, khích lệ kịp thời. Cần phân loại đối với
từng đối tượng HS trong một lớp và giữa các lớp để từ đó lựa chọn phương pháp dạy
phù hợp. Cần nhận thức đúng vị trí, vai trò, tầm quan trọng của các môn học nói
chung, môn Vật lí nói riêng để từ đó có sự đầu tư thích đáng, lựa chọn phương pháp
học tập phù hợp với đặc thù môn học. HS chăm chỉ học tập. Học đến đâu ôn ngay đến
đấy. Đặc biệt là sau mỗi chương phải tự mình biết chốt lại các kiến thức đã học ở trong
chương, xác định được kiến thức cơ bản và trọng tâm. Hình thành được những sợi dây
liên kết các kiến thức đã học từ lớp 6-7-8-9. Giáo viên hướng dẫn HS vừa học vừa ôn
tập. Sau mỗi chương, GV hệ thống lại các kiến thức đã học trong chương để HS dễ
học thuộc, dễ nhớ Sphải làm chủ được kiến thức, có cách nhìn tổng quát các dạng bài
tập, ra bài tập từ dễ đến trung bình đến hơi khó giúp các em dần say sưa với bộ môn
xử lí nhanh các tình huống trên lớp giảng dạy phải nhiệt tình, tỉ mỉ, có phương pháp,
kinh nghiệm, thường xuyên kiểm tra có hệ thống. Khai thác triệt để các đơn vị kiến
thức cơ bản, kiến thức trọng tâm của SGK trên cơ sở đó khai thác sâu những kiến thức
có nhiều ứng dụng trong giải bài tập. Thực hiện phương châm: Dạy chuẩn, chắc, sâu
kiến thức SGK; Dạy 1 luyện 10; Ôn kiến thức kết hợp với luyện kĩ năng; Chú trọng
cho HS ghi nhớ học thuộc các tóm tắt kiến thức sau chương; Coi trọng phương pháp
giảng dạy luyện tập và thực hành trong luyện tập.
Giáo viên bám sát được các tiêu chí của tiết dạy, khai thác sâu kiến thức SGK
mở rộng phát triển kiến thức phù hợp với các đối tượng HS, phát huy được tích cực,

Phần 1: Nhận thức về đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) môn Vật lí
Trước những khó khăn của thực tiễn giáo dục, khi thực hiện đổi mới PPDH,
chúng ta phải chấp nhận một giải pháp quá độ mang tính cải tiến, với phương châm là:
dạy học tạo điều kiện để học sinh “suy nghĩ nhiều hơn, làm việc nhiều hơn, thảo luận
nhiều hơn”.
Việc cải tiến PPDH cần được thực hiện ở tất cả các khâu: xác định mục tiêu bài học; tổ
chức hoạt động học tập; sử dụng thiết bị dạy học, đánh giá kết quả học tập của học
sinh; soạn giáo án (lập kế hoạch bài học). Ở đây bản thân chỉ đề cập vấn đề: lượng hóa
mục tiêu bài học và tổ chức hoạt động học tập theo mục tiêu được lượng hóa.
1. Lượng hóa mục tiêu dạy học: Từ nhiều năm nay, giáo án của giáo viên hay
trong hướng dẫn giảng dạy, mục tiêu bài học (mục đích yêu cầu) thường viết chung
chung như: nắm được khái niệm năng suất tỏa nhiệt , đặc điểm của quá trình nóng
chảy… Nhiều khi mục tiêu còn được hiểu là những điều mà GV sẽ phải làm, trong quá
trình giảng dạy: “Cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản về…, củng cố khái niệm
trọng lượng, khối lượng, rèn luyện kĩ năng, ”. Với cách trình bày mục tiêu bài học
như vậy ta không có cơ sở để biết khi nào HS đạt được mục tiêu đó.
Với định hướng dạy học mới, mục tiêu của bài học được thể hiện bằng sự
khẳng định về kiến thức, kĩ năng và thái độ mà người học sẽ phải đạt được ở mức độ
nhất định sau tiết học (chứ không phải là hoạt động của GV trên lớp như trước đây).
Mục tiêu của bài học sẽ là căn cứ để đánh giá chất lượng học tập của học sinh và hiệu
quả thực hiện bài dạy của GV. Do đó mục tiêu của bài học phải cụ thể sao cho có thể
đo được hay quan sát được, tức là mục tiêu bài học phải được lượng hóa. Người ta
thường lượng hóa mục tiêu bằng các động từ hành động, một động từ có thể dùng ở
các nhóm mục tiêu khác nhau:
* Nhóm mục tiêu thái độ, thường dùng các động từ sau: tuân thủ, tán thành,
phản đối, hưởng ứng, chấp nhận, bảo vệ, hợp tác,
* Nhóm mục tiêu kiến thức ta lượng hóa theo 3 mức độ (trong 6) mức độ nhận
thức của Bloom.
Mức độ nhận biết, thường dùng các động từ: phát biểu, liệt kê, mô tả, trình bày,
nhận dạng,…

Biết sử dụng một số loại đòn bẩy trong thực tế để có lợi về lực hoặc có lợi và
đường đi hoặc biết vận dụng điều kiện cân bằng của đòn bẩy để giải quyết một số bài
tập, có liên quan (mức độ vận dụng và mức độ kĩ năng làm được).
Với những yêu cầu mới của xã hội đối với GD, mục tiêu dạy học không chỉ là
những yêu cầu thông hiểu, ghi nhớ, tái hiện kiến thức, lặp lại đúng, thành thạo các kĩ
năng như trước đây, mà còn đặc biệt chú ý đến năng lực nhận thức, năng lực tự học
của HS. Những nội dung mới về mục tiêu này chỉ có thể hình thành dần dần qua hệ
thống nhiều bài học, nhiều môn học và chỉ có thể đánh giá được sau một giai đoạn học
tập xác định (sau 1 học kì, 1 năm học, cấp học) nên thường ít được thể hiện trong mục
tiêu của bài học cụ thể.
2. Tổ chức cho học sinh hoạt động
* Tổ chức tình huống học tập (chủ yếu là xác định nhiệm vụ học tập)
- Đặt câu hỏi nghiên cứu
- Nêu dự đoán
- Đề ra giả thuyết
- Thu thập thông tin
- Quan sát các hiện tượng, thí nghiệm, sự kiện
- Tìm được những thông tin cần thiết từ sách, báo,
* Lập kế hoạch khám phá
- Tiến hành khám phá
Ví dụ: bố trí, lắp đặt dụng cụ thiết bị TN; thực hiện TN theo hướng dẫn; thay
đổi phương án TN nếu kết quả không phù hợp với vấn đề đặt ra.
- Ghi các kết quả khám phá
Ví dụ: đọc số chỉ của các dụng cụ TN ở mức độ cẩn thận và chính xác cần thiết
lập; lập bảng kết quả; biểu diễn kết quả bằng đồ thị; sơ đồ
* Xử lí thông tin
- Lập bảng, biểu, vẽ đồ thị theo những cách khác nhau, từ đó phân tích dữ liệu
và nêu ý nghĩa của chúng.
- Tìm quy luật từ biểu, bảng, đồ thị.
- Phân loại dấu hiệu giống nhau, khác nhau, nhận biết những dấu hiệu bản chất

Ứng với mức độ lĩnh hội 2 “thông hiểu”
Mục tiêu của loại câu hỏi này là để kiểm tra cách HS liên hệ, kết nối các dữ
liệu, số liệu, tên tuổi, địa điểm, các định nghĩa…
Việc trả lời các câu hỏi này cho thấy HS có khả năng diễn tả bằng lời nói, nêu
ra được các yếu tố cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ bản trong nội dung đang học.
Các cụm từ để hỏi thường là: “TẠI SAO…”, “HÃY PHÂN TÍCH…”, “HÃY SO
SÁNH…”, “HÃY LIÊN HỆ…”, “HÃY PHÂN TÍCH…”,…
Ví dụ: Hãy tính vận tốc của vật khi biết cụ thể độ dài quãng đường đi được và
thời gian để đi hết quãng đường đó; hoặc hãy xác định giới hạn đo và chia nhỏ nhất
của bình chia độ.
3. Câu hỏi vận dụng
Ứng với mức độ lĩnh hội 3 “vận dụng”
Mục tiêu của loại câu hỏi là để kiểm tra khả năng áp dụng các dữ liệu, các khái
niệm, các quy luật, các phương pháp… vào hoàn cảnh và điều kiện mới. Việc trả lời
các câu hỏi áp dụng cho thấy HS có khả năng hiểu được các quy luật, các khái niệm…
có thể lựa chọn tốt các phương án để giải quyết, vận dụng các phương án vào thực
tiễn. Khi đặt câu hỏi cần tạo ra những tình huống mới khác với điều kiện đã học trong
bài học và sử dụng các cụm từ như: “LÀM THẾ NÀO…”, “HÃY TÍNH SỰ CHÊNH
LỆCH GIỮA…”, “EM CÓ THỂ GIẢI QUYẾT KHÓ KHĂN VỀ… NHƯ THẾ
NÀO”,…
Ví dụ: Hãy tính tốc độ trung bình của một ô tô đi từ tỉnh A đến tỉnh B biết độ
dài quãng đường đó là 150 km, ô tô khởi hành lúc 8h15’ và đến vào lúc 12h30’. Hay
làm thế nào để sử dụng thước dài đã bị gãy đầu có vạch số 0?
4. Câu hỏi phân tích
Ứng với mức độ lĩnh hội 4 “phân tích”
Mục tiêu của loại câu hỏi này là để kiểm tra khả năng phân tích nội dung vấn
đề, từ đó đi đến kết luận, tìm ra mối quan hệ hoặc chứng minh một luận điểm.
Việc trả lời câu hỏi này cho thấy HS có khả năng tìm ra được mối quan hệ mới,
tự diễn giải hoặc đưa ra kết luận. Việc đặt câu hỏi phân tích đòi hỏi HS phải giải thích
được các nguyên nhân từ thực tế: “TẠI SAO…”, đi đến kết luận “EM CÓ NHẬN

hứng thú học khi họ thành công trong học tập.
Tự nhận xét, đánh giá: điểm; loại:
TRƯỜNG THCS THỦY PHÙ BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN
Tổ: Toán - Lí - Tin - KTCN
Bộ môn: Vật lí
Người báo cáo: Ngô Hoàng Giang
NỘI DUNG BỒI DƯỠNG 3: NÂNG CAO NĂNG LỰC LẬP
KẾ HOẠCH DẠY HỌC
I. Mô đun 13: Nhu cầu và động lực học tập của học sinh THCS trong xây
dựng kế hoạch dạy học
A. Đặt vấn đề
Quá trình dạy học là quá trình mà dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của
người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt
động của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học.
Dạy học có hiệu quả luôn phải bắt đầu từ người học. Nếu người học không có
nhu cầu, hoặc không mong muốn học, quá trình học tập trong điều kiện tốt nhất sẽ bị
chậm. Và nếu bạn chỉ quan tâm đến khía cạnh nhận thức mà không chú ý đến điều mà
người học muốn biết thì cũng giống như việc bạn xếp hàng gạch thứ 5 lên bức tường
mà không biết liệu hàng gạch thứ 4 có đúng vị trí hay không.
Vì thế bước đầu tiên trong bất kỳ một chương trình học nào cũng phải tìm hiểu
để biết được người học đến từ đâu, họ có nhu cầu gì, cũng như họ đã biết cái gì, họ có
sẵn sàng biết hay không. Sau đó quá trình dạy học sẽ tiếp tục xem xét những hiểu biết
trước đây của người học và các nhu cầu,động lực học tập để xây dựng kế hoạch dạy
học phù hợp, đảm bảo hiệu quả học tập.
Chuyên đề nhu cầu và động lực học tập của học sinh THCS được trình bày với
hai nội dung:
1. Nhu cầu và động lực học tập của học sinh THCS.
2. Phương pháp và kỹ thuật xác định nhu cầu học tập của học sinh .
B. Nội dung
I. Nhu cầu và động lực học tập của HS

các trường hợp cụ thể khác nhau.
Nguyên tắc 2: Sử dụng các phương tiện nghe nhìn khi cần thiết để giúp học
sinh hiểu được các khái niệm khó và trừu tượng bởi vì một điều rất đáng chú ý là hiện
nay học sinh có xu hướng nghe nhìn rất nhiều.Với những học sinh này thì một giản đồ
hoặc sơ đồ sẽ có tác dụng hơn hàng ngàn chữ viết hoặc bài giảng bằng lời.
Nguyên tắc 3: Sử dụng tư duy logic khi cần thiết. Hãy chỉ rõ cho học sinh thấy
rằng thông tin nào là số liệu chính xác cần ghi nhớ máy móc, thông tin nào có thể được
suy luận nhờ tư duy logic. Hãy dạy học sinh cách suy luận và cách tiếp nhận kiến thức
mới bằng phương pháp tư duy. Một khi học sinh đã sử dụng tư duy trong học tập thì
chúng có thể mở rộng kiến thức đến không ngờ.
Nguyên tắc 4: Sử dụng các hoạt động trên lớp để củng cố kiến thức mới học.
Sau khi dạy học sinh những khái niệm cơ bản, giáo viên nên cho học sinh làm bài tập
ngay dựa vào những kiến thức mới. Những bài tập này có thể ngắn nhưng miễn là làm
học sinh hiểu rõ hơn những khái niệm mới. Học sinh nên được làm việc theo nhóm,
làm bài tập dựa vào bài, có thể hỏi giáo viên khi làm bài. Cách này có tác dụng rất lớn
giúp học sinh hiểu thấu đáo bài mới. Ngoài ra nó sẽ giúp việc có mặt của học sinh có
tác dụng tích cực và khuyến khích học sinh đi học đều đặn.
Nguyên tắc 5: Giúp học sinh tạo đường dẫn giữa kiến thức mới với kiến thức
đã học. Nếu học sinh có thể liên hệ những kiến thức cũ thì việc học kiến thức mới sẽ
diễn ra dễ dàng và thuận lợi hơn.
Nguyên tắc 6: Hãy tôn trọng học sinh. Học sinh nên được tôn trọng ngay từ khi
vào học. Giáo viên có thể kích thích tinh thần trách nhiệm của học sinh bằng cách trao
cho họ một số chức vụ. Đây là cách khá hiệu quả không chỉ với học sinh THCS,THPT
m vi c sinh viờn cỏc trng i hc, cao ng vỡ h s gng ht sc khng nh
mỡnh.
Nguyờn tc 7: Gi cho hc sinh luụn trỡnh cao. Nu hc sinh khụng b yờu
cu hc tp vi mc tiờu chun nht nh, thỡ ch cú nhng hc sinh cú ý thc rt cao
mi t hc hnh chm ch m thụi. Mt khỏc, yờu cu cao trong ging dy khụng ch
to ng lc cho hc sinh m nú cũn to ra c nhng tinh thn phn khi cho hc
sinh khi t c nhng yờu cu ú. Mi nguyờn tc trờn u cú nhng tỏc dng rt

thu, tỡm tũi tri thc mi cha .
Túm li : Nhu cu v ng lc hc tp ca hc sinh THCS ph thuc vo nhiu
yu t ( ch quan, khỏch quan, iu kin vựng min, i tng hc sinh, gia ỡnh ).
Vỡ vy trong k hoch dy hc ca ngi giỏo viờn cn cú s mm do, linh hot. Cú
th vn dng cỏc phng phỏp, k thut khỏc xỏc nh nhu cu v ng lc hc tp
ca hc sinh phự hp vi tng yu t ú. Ngi dy t hiu c nhu cu hc tp ca
cỏc em t ú giỳp cỏc em cú ng lc hc tp ỳng n, bit vt qua khú khn,
bit c m v vn lờn trong cuc sng.
II. Mụ un 14: Xõy dng k hoch dy hc theo hng tớch hp
I. t vn
Tích hợp là một khái niệm rộng, ở mỗi lĩnh vực khoa học khác nhau cũng được
hiểu và ứng dụng khác nhau. Trong dạy học, tích hợp được hiểu là sự phối kết hợp các
tri thức một số môn học có những nét chính, tương đồng vào một lĩnh vực chung,
thường là quanh những chủ đề, những kiến thức nguồn.
Xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp đó là một trong những nội
dung trọng tâm Bộ GD-ĐT yêu cầu trong hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục
trung học cơ sở năm học 2013-2014. Dạy học theo hướng tích hợp là một trong những
quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế trong việc xác định nội dung dạy học trong nhà
trường phổ thông và trong chương trình xây dựng môn học. Quan điểm tích hợp được
xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá trình học tập và quá trình dạy
học.
Thực tiễn đã chứng tỏ rằng, việc thực hiện quan điểm tích hợp trong giáo dục
và dạy học sẽ giúp phát triển những năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp và làm
cho việc học tập trở nên có ý nghĩa hơn đối với học sinh so với việc các môn học, các
mặt giáo dục được thực hiện riêng rẽ. Tích hợp là một trong những quan điểm giáo
dục nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những con người có đầy đủ
phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại.
Chuyên đề dạy học theo hướng tích hợp được trình bày với hai nội dung sau:
1. Các yêu cầu của một kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp.
2. Mục tiêu, nội dung, phương pháp của kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp.

nhau, những phần khác nhau trong mỗi môn học nhưng học sinh phải biết đặt các
khái niệm đã học trong những mối quan hệ hệ thống trong phạm vi từng môn học cũng
như giã các môn học khác nhau. Thông tin càng đa dạng, phong phú thì tính hệ thống
phải càng cao, có như vậy thì các em mới thực sự làm chủ được kiến thức và mới vận
dụng được kiến thức đã học khi phải đương đầu với một tình huống thách thức, bất
ngờ, chưa từng gặp.)
b. Phương pháp
Phương pháp dạy học theo hướng tích hợp là lồng ghép nội dung tích hợp vào
các bài dạy, tùy theo từng môn học mà lồng ghép tích hợp ở các mức độ như liên hệ,
lồng ghép bộ phận, toàn phần, từ đó giáo dục và rèn kĩ năng sống, giá trị sống cho
học sinh.
Để vận dụng quan điểm tích hợp vào việc giảng dạy, chúng ta cần chú ý đến ba
hình thức tích hợp sau:
+ Tích hợp ngang
+ Tích hợp dọc
+ Tích hợp liên môn
c. Nội dung
Dạy học theo hướng lồng ghép tích hợp thực hiện ở một số nội dung môn học
và các hoạt động giáo dục:
Nội dung tích hợp được bao gồm những nội dung như Tích hợp giáo dục đạo
đức, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; giáo dục phòng chống
tham nhũng; sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; bảo vệ môi trường; giáo dục
về dân số, đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên; giáo dục về tài nguyên và môi
trường, chủ quyền biển đảo theo hướng dẫn của Bộ GD-ĐT.
Mức độ tích hợp tùy theo từng môn học, nội dung để lựa chọn mức độ tích hợp:
+ Mức độ tích hợp từ liên hệ (chỉ khai thác nội dung bài học và liên hệ với kiến
thức (mức độ hạn chế);
+ Tích hợp bộ phận, chỉ một phần của bài học, hoạt động thực hiện nội dung
giáo dục (mức độ trung bình);
+ Đến tích hợp toàn phần, cả một bài có nội dung trùng khớp với nội dung giáo

công việc càng cao thì ngườiGV càng cảm thấy tự tin hơn trong công việc và mong
muốn được chứng minh năng lực của của mình qua kết quả dạy học. Ở những người
này nhu cầu được cấp trên và đồng nghiệp tôn trọng, đánh giá cao, được tự chủ trong
công việc chiếm vị trí khá quan trọng trong việc tạo ra động lực dạy học. Vì vậy,
người quản lý cần phải bố trí những công việc phù hợp với chuyên môn, trình độ, sở
trường và kinh nghiệm của người GV để tạo điều kiện cho người GV phát huy lợi thế
của mình.
d. Đặc điểm cá nhân người GV
Giới tính, tuổi tác, tâm lý, tính cách, tôn giáo đều có ảnh hưởng tới hành vi
làm việc của GV. Mỗi GV là những cá thể có các đặc điểm cá nhân khác nhau do đó
để sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực của nhà trường đòi hỏi người quản lý phải quan
tâm, nắm bắt và hiểu rõ các yếu tố này từ đó xây dựng các chính sách quản lý phù hợp
để nhằm phát huy được thế mạnh của mỗi cá nhân đồng thời tạo ra động lực dạy học.
e. Mức sống của GV
Bất kỳ GV nào khi tham gia vào làm việc trước hết đều mong muốn có một
mức lương cao. Tuy nhiên tùy thuộc vào tình trạng kinh tế của mỗi GV mà yếu tố
“lương cao” được đánh giá về mức độ quan trọng khác nhau. Đối với những
người GV có mức thu nhập thấp, hoàn cảnh gia đình, tình trạng kinh tế khó khăn thì
họ luôn coi tiền lương là mục tiêu hàng đầu trong khi đó đối với những GV có tình
trạng kinh tế khá giả, giàu có thì lương không phải là mục tiêu làm việc hàng đầu mà
thay vào đó là các nhu cầu khác như công việc thú vị, cơ hội phát triển nghề nghiệp
Hiện nay, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam vẫn còn ở mức thấp nên việc đi
làm để có một mức lương cao đáp ứng các nhu cầu sinh lý hàng ngày vẫn được coi là
ưu tiên hàng đầu đối với phần lớn GV.
2. Nhóm các yếu tố thuộc về tổ chức
a. Công việc mà GV đảm nhận
GV có hứng thú, có động lực làm việc khi họ được bố trí làm những công việc
phù hợp với chuyên môn, trình độ, có cơ hội sử dụng kiến thức, kỹ năng vào trong
công việc, được tự chủ trong công việc và nhận được các phản hồivề kết quả làm việc,
được hưởng những quyền lợi xứng đáng khi hoàn thành tốt công việc được giao. Tuy

chỉ đạo GV do đó phong cách làm việc của người lãnh đạo có ảnh hưởng lớn đến tâm
lý, kết quả làm việc của cấp dưới. Hiện nay, phong cách lãnh đạo có thể chia thành ba
loại. Phong cách lãnh đạo độc đoán chuyên quyền là việc người lãnh đạo đưa ra các
quyết định và bắt GV phải tuân thủ mà không được thắc mắc, thường tạo ra cho GV tâm
lý căng thẳng, thực hiện công việc như một cái máy, không có động lực làm việc; tuy
nhiên lại phát huy hiệu quả trong tình huống cần quyết định nhanh, quyết đoán.Phong
cách lãnh đạo dân chủ là người lãnh đạo quan tâm thu hút người lao động vào quá trình
ra quyết định, tham khảo ý kiến của GV để đưa ra quyết định cuối cùng, tao lập được
tinh thần hợp tác nhưng đôi khi sẽ gặp khó khăn cũng như chậm trễ trong việc ra quyết
định nếu người lãnh đạo không quyết đoán. Phong cách lãnh đạo tự do, người lãnh đạo
tăng quyền tự quản cho GV bằng việc cho phép GV đưa ra các quyết định, giảm chi phí
quản lý trung gian, tuy nhiên nếuGV không đủ năng lực và sự cam kết với nhà trường,
với ngành thì sẽ đem lại thiệt hại cho nhà trường, cho ngành và đặc biệt là chất lượng
giáo dục.
Mỗi phong cách lãnh đạo đều có những ưu nhược điểm riêng do đó người lãnh
đạo cần xác định cho mình một phong cách lãnh đạo phù hợp để thúc đẩy GV trong
công việc nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục.
e. Văn hóa nhà trường
Văn hóa nhà trường được tạo ra từ tổng thể mục tiêu, chính sách quản lý, mối
quan hệ đồng nghiệp, bầu không khí làm việc, phong cách làm việc, những biểu tượng
vật chất và tinh thần như bài hát, trang phục, những nghi thức tạo cho nhà trường
có bản sắc riêng, các giá trị, niềm tin, lối sống và cách thức hành động cũng như thái
độ hành vi của GV. Trường nào có văn hóa tổ chức mạnh sẽ giúp các GV trong
trường gắn bó với nhau hơn, hiểu nhau hơn, tạo ra tinh thần làm việc tự giác, đồng
nghiệp thân thiện hợp tác cùng nhau làm việc nhằm đạt mục tiêu chung của trường,
của ngành.
f. Các chính sách quản lý nhân sự
Bao gồm các khía cạnh từ tuyển mộ, tuyển chọn, bố trí nhân lực, đánh giá thực
hiện công việc, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, chính sách lương thưởng, an
toàn, vệ sinh, đề bạt, bổ nhiệm… có ảnh hưởng lớn tới động lựcdạy học của GV. Các

việc. Do đó để tạo động lực cho GV, người quản lý cần phải có những biện pháp nhằm
tạo ra sự hứng thú trong công việc cho GV, tác động tới tâm lý của GV để họ thực sự
coi trọng và tự hào đối với công việc đang làm, đồng thời đưa ra những biện pháp
nhằm nâng cao vị thế và gìn giữ hình ảnh của “nghề giáo”.
b. Pháp luật của chính phủ
Các qui định pháp luật, đặc biệt là luật giáo dục là cơ sở pháp lý nhằm bảo đảm
quyền lợi và nghĩa vụ của các bên. Luật pháp càng nghiêm minh và có hiệu lực càng
cao thì người GV sẽ càng yên tâm làm việc vì quyền lợi của họ được pháp luật bảo vệ,
từ đó tạo ra động lực cho họ làm việc. Để làm được điều này, chính phủ và các cơ
quan liên ngành phải không ngừng nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống pháp luật ngày
một hiệu quả hơn.
c. Hệ thống phúc lợi xã hội
Hệ thống phúc lợi xã hội có vai trò đảm bảo và hỗ trợ một phần cuộc sống
cho GV nếu không may bị tai nạn,mắc những bệnh liên quan đến nghề, thai sản Khi
hệ thống phúc lợi xã hội ngày càng phát triển thì đời sống của GVngày càng được đảm
bảo. Khi GV được đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ thì họ sẽ cảm thấy yên tâm hơn phần
nào đối với cuộc sống từ đó họ sẽ chú tâm hơn với công việc, làm việc có động lực và
đat hiệu quả cao hơn.
d. Các giá trị văn hóa và truyền thống dân tộc
Ở những nước tư bản, thì chủ nghĩa cá nhân được đề cao, các cá nhân trước hết
là quan tâm đến lợi ích của chính bản thân mình trước rồi mới đến những người thân
thiết. Họ coi trọng sự cố gắng phấn đấu của chính bản thân, muốn khẳng định mình
bằng chính năng lực, do đó sự liên kết và tính tập thể trong lao động không cao. Trong
khi đó ở phương Đông, con người lại có xu hướng đề cao tinh thần tập thể, mong
muốn sự hợp tác, liên kết, hỗ trợ, che chở lẫn nhau. Sự khác biệt này có ảnh hưởng đến
tinh thần và thái độ làm việc của người lao động. Do đó, khi xây dựng chính sách quản
lý nguồn nhân lực cần phải quan tâm đến khía cạnh giá trị văn hóa và truyền thống dân
tộc.
IV. Mô đun 16: Hồ sơ dạy học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status