MỞ ĐẦU.
Theo Bahwantray Mehta (1959) “Chừng nào chúng ta không đảm bảo rằng
các khoản chi cho những mục đích của chính quyền địa phương phải phù hợp
với nhu cầu và mong muốn của nhân dân địa phương, trao cho họ quyền hạn
thoả đáng và phân bổ cho họ nguồn tài chính thích hợp thì chúng ta sẽ không
bao giờ có thể khơi dậy sự quan tâm và phát huy được sáng kiến của người dân
địa phương”. Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho Ngân sách địa phương là
một trong những đổi mới thành công của Luật ngân sách Nhà nước 2002. Nó
không chỉ giải quyết được những mâu thuẫn, xung đột về pháp luật, giải quyết
vấn đề khó khăn trên thực tiễn mà còn tỏ ra hiệu quả với chức năng, nhiệm vụ
của chính quyền địa phương nói chung và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nói
chung. Tìm hiểu, phân tích về quy định phân phối nguồn thu, nhiệm vụ chi
cho ngân sách địa phương Theo luật Ngân sách 2002 và nếu ra các ý kiến
pháp lý, sẽ giúp ta hiểu sâu hơn về vấn đề này.
NỘI DUNG.
I. Khái niệm về phân phối nguồn thu, nhiệm vụ chi cho ngân sách địa
phương.
- Khái niệm ngân sách Nhà nước: Theo Khoản 1 Điều 4 Luật Ngân sách
Nhà nước 2002 (LNSNN 2002)) thì: “Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách
của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân”. Tuy
nhiên theo Nghị quyết số 26/2008/NQ-QH12 về thực hiện thí điểm không tổ
chức Hội đồng nhân dân cấp huyện, quận, phường thì khái niệm trên là chưa phù
hợp với trường hợp thí điểm này.
- Thu ngân sách nhà nước: là họat động của nhà nước nhằm tạo lập quỹ
ngân sách nhà nước theo những trình tự và thủ tục pháp luật quy định trên cơ sở
các khoản thu đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để thực
hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước.
- Chi ngân sách nhà nước: là họat động phân phối và sử dụng quỹ NSNN
theo những trình tự thủ tục do pháp luật quy định trên cơ sở dự tóan chi ngân
sách nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định nhằm thực
hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước.
1. Nguyên tắc về phân phối nguồn thu, nhiệm vụ chi cho ngân sách địa
phương.
Thứ nhất: Ngân sách trung ương và ngân sách các cấp địa phương được
phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể, bảo đảm cho ngân sách trung ương
giữa vai trò chỉ đạo, ngân sách địa phương chủ động nhiệm vụ được giao, tăng
cường nguồn lực cho ngân sách xã.
Theo nguyên tắc này, việc phân định nguồn thu và nhiệm vụ chu cho ngân
sách trung ương và ngân sách địa phương cần quán triệt chủ trương: nguồn thu
của ngân sách trung ương phải bảo đảm thực hiện những nhiệm vụ chiến lược,
quan trọng của quốc gia; nguồn thu của ngân sách địa phương phải xác định sao
cho địa phương có thể chủ động thực hiện những nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã
hội, quốc phòng an ninh và trật tự xã hội. Nói cách khác, việc phân định nguồn
thu và nhiệm vụ chi cho ngân sách trung ương và địa phương phải thể hiện được
vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương đồng thời đảm bảo tính tự chủ cho
ngân sách địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho chính quyền các cấp hoàn
thành tốt nhiệm vụ được giao.
Vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương trong hệ thống ngân sách được
thể hiện ở chỗ ngân sách trung ương được sửu dụng nhằm điều tiết vĩ mô. Ngân
sách trung ương tập trung phần lớn nguồn thu quan trọng của quốc gia và thỏa
mãn nhu cầu chi tiêu để thực hiện những nhiệm vụ quan trọng mang tính chiến
2
lược của quốc gia như an ninh, quốc phòng ngoại giao và thực hiện các nhiệm
vụ kinh tế văn hóa xã hội trên phạm vi toàn quốc.
Vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương còn được thể hiện ở chỗ ngân
sách trung ương điều hòa vốn cho ngân sách địa phương giúp cho ngân sách địa
phương hoàn thành các mục tiêu kinh tế xã hội của mình đồng thời hỗ trợ vốn
cho các địa phương có khó khăn là dân tộc miền núi và thực hiện các chương
trình mục tiêu quốc gia, xóa đói giảm nghèo, thực hiện chế độ đối với gia đình
chính sách, người có công, cán bộ hưu trí.
Về ngân sách địa phương thì ngân sách địa phương mặc dù khồn đóng vai
định. Việc bổ xung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới cũng nhằm hỗ
trợ cho các địa phương thực hiện các nhiệm vụ chi tiêu trên địa bàn. Bổ xung từ
3
ngân sách cấp trên được thực hiện trong hai trường hơp: bổ xung cân đối thu chi
ngân sách và bổ xung có mục tiêu. Bổ xung cân đối thu chi ngân sách được áp
dụng khi ngân sách cấp dưới đã huy động hết nguồn lực mà vẫn không đáp ứng
được nhu cầu chi tiêu của mình. Bổ xung có mục tiêu được tiến hành nhằm hỗ
trợ ngân sách cấp dưới thực hiện những nhiệm vụ nhất định theo quy định của
pháp luật. tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu và bổ xung từ ngân sách cấp
trên cho ngân sách cấp dưới được ổn định từ 3 đến 5 năm. Số bổ xung cho ngân
sách cấp trên được coi là số thu của ngân sách cấp dưới. Trong thời kỳ ổn định
ngân sách, nếu nguồn thu ở các địa phương tăng thì địa phương được sửu dụng
phần tăng thêm hằng năm để phát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn. Sau mỗi thời
kỳ ổn định ngân sách, các địa phương phải tăng khả năng tự cân đối, phát triển
ngân sách địa phương nhằm giảm dần số bổ xung từ ngân sách cấp trên hoặc
tăng ty lệ phần trăm điều tiết số thu nộp về ngân sách cấp trên.
Thứ tư, Căn cứ vào nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương,
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định phân cấp cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi
cho từng cấp ngân sách của chính quyền địa phương sao cho Trong các nguồn
thu của ngân sách xã, thị trấn, ngân sách xã, thị trấn được hưởng tối thiểu 70%
các khoản thu thuế chuyển quyền sử dụng đất; thuế nhà, đất; thuế môn bài thu từ
cá nhân, hộ kinh doanh; thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình; lệ phí
trước bạ nhà, đất. (Khoản2 Điều 23 Nghị định 60/2003 và Điểm b khoản 2 Điều
34 Luật NSNN 2002).
Có thể thấy, các khoản thu liên quan đến đất là nguồn thu nhỏ, lẻ, phát sinh
tương đối đồng đều ở các địa phương. Căn cứ DỰ TOÁN THU NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC THEO LĨNH VỰC NĂM 2011 (Kèm theo Quyết định số 3212
/QĐ-BTC ngày 08/12/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc công bố công
khai số liệu dự toán NSNN năm 2011) thì các khoản thu về nhà đất khoảng
34.715 tỷ đồng so với tổng thu ngân sách nhà nước khoảng 595.000 tỷ đồng
được một số bất cập sau:
- Mỗi cấp ngân sách, mỗi địa phương có sự khác nhau nhất định về các góc
độ: kinh tế, văn hoá, địa lý, lực lượng lao động … đo đó khả năng thu và nhiệm
vụ chi ngân sách ở các cấp ngân sách, các địa phương là khác nhau, so với trước
đây là quy định phân giao nguồn thu giống nhau cho các cấp ngân sách, địa
phương khác nhau là chưa hợp lý, vì chưa xét tới điều kiện thực tế, điểm đặc thù
của từng khu vực một. Quy định giao quyền quyết định phân phối nguồn thu,
nhiệm vụ chi cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, sẽ làm tăng sự chủ động, nắm bắt
được lợi thế của từng quận huyện mà mình quản lý, do đó làm tăng nguồn thu
cho ngân sách, giảm gánh nặng cho Ngân sách trung ương.
- Vị trí và vai trò của chính quyền nhà nước cấp tỉnh trong việc quản lý,
điều hành ngân sách các cấp ở địa phương là rất quan trọng. Trong tình trạng
hiện nay, việc Nhà nước đang thí điểm bỏ Hội đồng nhân dân cấp huyện, quận,
phường, thì vai trò đó càng quan trọng. Như đã phân tích ở trên, do khả năng
nắm bắt điều kiện tốt, và khả năng xử dụng ngân sách vào các hoạt động của địa
phương mà việc quy định chủ thể có thẩm quyền là Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
là hợp lý, tuy nhiên Luật ngân sách nhà nước 1996 và luật sửa đổi bổ sung luật
ngân sách nhà nước 1998 chưa tạo điều kiện cho chính quyền cấp tỉnh phát huy
vai trò của mình.
- Theo quy định của Luật ngân sách nhà nước 1996 và luật sửa đổi bổ sung
luật ngân sách nhà nước 1998 thì việc phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi
chưa tương xứng với vai trò của quá trình, chế độ này.
Do đó LNSNN 2002 đã sửa theo hướng việc phân giao nguồn thu và nhiệm
vụ chi cho từng cấp ngân sách huyện và xã thuộc địa bàn mỗi tỉnh do Hội đồng
nhân dân tỉnh đó quyết định sao cho phù hợp với khả năng, đặc thù, nhu cầu của
5