giá trị cảm nhận của sinh viên về dịch vụ đào tạo - Pdf 27


1
MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh chung của công cuộc xã hội hoá giáo dục của đất nước,
xuất hiện ngày càng nhiều loại hình trường ở cấp đào tạo đạo học ngoài hệ công
lập như tư thục, bán công, dân lập bên cạnh không ít cơ sở đào tạo đại học của
các nước khác đang tích cực thu hút học sinh - sinh viên trong nước ta đi du học
với nhiều hình thức, các tổ chức đào tạo này đang cạnh tranh với nhau và với hệ
thống đại học công lập trong việc thu hút khách hàng sinh viên sử dụng dòch vụ
đào tạo đại học; thêm nữa là sắp tới đây khi Việt Nam đã chính thức gia nhập
WTO, lúc đó nhiều nước sẽ có quyền tham gia đào tạo đại học tại Việt Nam với
hình thức 100% vốn nước ngoài thì Giáo dục đại học tại Việt Nam sẽ mở ra một
thò trường cạnh tranh thực sự. Tình hình chung đó đã đặt tất cả các trường đại
học công lập của Việt Nam vào một cuộc cạnh tranh gay gắt trong hiện tại và sẽ
trở nên ngày càng khốc liệt trong tương lai rất gần mà nếu không nhanh chóng
có kế hoạch ứng phó thì nguy cơ thất bại ngay trên sân nhà là không thể tránh
khỏi.
Để nâng cao thế và lực cạnh tranh nhằm giành chiến thắng, một trong
những biện pháp cần thiết là các trường đại học công lập trong nước cần lắng
nghe tiếng nói của sinh viên, khảo sát sự cảm nhận của sinh viên về dòch vụ đào
tạo nhà trường đang cung cấp để biết sinh viên muốn gì và cần gì; sinh viên đã
đánh giá như thế nào về thực tế mà họ nhận được trong quá trình học tập tại
trường, từ đó nhà trường sẽ xác đònh được phương hướng thúc đẩy giá trò của
dòch vụ đào tạo đang cung cấp cho sinh viên.
Về khái niệm “dòch vụ đào tạo” vừa nhắc đến ở trên thì hiện nay trên các
phương tiện truyền thông đại chúng đang nổi lên những cuộc tranh luận giữa các

2
nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục về việc có hay không tính thò trường, tính hàng
hoá của Giáo dục tại Việt Nam. Mỗi người đều đứng trên góc độ nghiên cứu của

nghiên cứu còn nhằm xác đònh tầm quan trọng tương đối giữa giá trò cảm nhận và
sự hài lòng của sinh viên về chất lượng giảng dạy đối với sự đánh giá toàn diện
của họ về dòch vụ đào tạo của tổ chức. Từ đó đưa ra những gợi ý về cách thiết kế
các chiến lược củng cố giá trò cảm nhận cho sinh viên.
Một khi sinh viên đã được xác đònh là khách hàng của quá trình cung cấp
dòch vụ đào tạo trong môi trường đạo học thì các khảo sát về chất lượng hay giá
trò của loại hình dòch vụ này đều cần đứng vào vò trí của sinh viên để chọn được
góc nhìn chính xác, để bảo đảm cho các kết quả đánh giá là có tính thiết thực và
có giá trò sử dụng cao. Do hạn chế về thời gian cũng như điều kiện vì đây là đề
tài nghiên cứu cá nhân nên mục tiêu khảo sát giá trò cảm nhận về dòch vụ đào
tạo của sinh viên các đại học công lập được tác giả Luận văn khoanh vùng thực
hiện tại Khoa Kinh tế của trường Đại học Thuỷ sản Nha Trang là nơi tác giả
đang công tác. Các kết quả nghiên cứu phát hiện được trên sinh viên Khoa Kinh
tế sẽ là cơ sở ban đầu để tác giả có những nhận đònh về cách thức sinh viên các
đại học công lập cảm nhận về giá trò dòch vụ nhà trường đang cung cấp cho họ,
từ đó hình thành thang đo giá trò cảm nhận sử dụng cho những nghiên cứu mở
rộng hơn sau này, bên cạnh đó gợi ý các phương hướng thúc đẩy giá trò dòch vụ
đào tạo của các nhà trường. Ngoài ra kết quả nghiên cứu cũng cung cấp những

4
thông tin hữu ích cho chính ban quản trò Khoa Kinh tế của ĐH Thuỷ sản để cải
thiện giá trò dòch vụ đào tạo của Khoa.
Từ phạm vi nghiên cứu đã xác đònh trên, đối tượng được chọn cho nghiên
cứu là sinh viên đại học chính quy của Khoa Kinh tế của Trường ĐH Thuỷ sản,
dữ liệu được thu thập bằng cách phát bản câu hỏi đến sinh viên của Khoa theo
tất cả các lớp thuộc các ngành và khoá học khác nhau. Bản câu hỏi sử dụng cho
nghiên cứu được hình thành căn cứ trên thang đo giá trò cảm nhận trong đào tạo
đại học của một nghiên cứu tương tự ở nước ngoài và được hiệu chỉnh lại cho
phù hợp với tình huống của Việt Nam bằng kết quả của phỏng vấn sâu. Số bản
câu hỏi thu về được chọn lọc lại theo chất lượng và sau đó được nhập liệu và xử

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Giá trò cảm nhận
Từ thập kỷ cuối của thế kỷ 20 khái niệm “giá trò cảm nhận” đã được giới
nghiên cứu trên thế giới quan tâm đến, nó nổi lên như một bộ phận cấu trúc
đóng vai trò quan trọng đối với sự sống còn của nhiều tổ chức. Tầm quan trọng
của giá trò cảm nhận về dòch vụ thể hiện ở chỗ nó được xem như một hình thức
chính của sự đánh giá của khách hàng về dòch vụ, và mặc dù được giới nghiên
cứu về Marketing thừa nhận như vậy nhưng những công trình nghiên cứu đã có
cho đến nay vẫn cho thấy rằng sự hiểu thấu bản chất thật sự của bộ phận cấu
trúc giá trò dòch vụ và sự tác động của nó lên hành vi của khách hàng còn rất
giới hạn. Sự hiểu biết thấu đáo về mặt lý thuyết cách khách hàng đánh giá giá
trò trong quá trình thực tế sử dụng dòch vụ của họ thì vẫn còn hạn chế, nhưng các
công trình nghiên cứu thực tế về cách nhận diện những dấu hiệu đánh dấu giá trò
cảm nhận của khách hàng đến nay tỏ ra có nhiều tiến triển.
Theo nhà nghiên cứu nổi tiếng trong lónh vực Marketing là Philip Kotler
thì “giá trò” là sự đánh giá của khách hàng về khả năng chung của sản phẩm
thoả mãn những nhu cầu của mình. Giá trò dành cho khách hàng là khoản chênh
lệch giữa những giá trò mà khách hàng nhận được từ việc sở hữu và sử dụng sản
phẩm với chi phí bỏ ra để có được sản phẩm. Khách hàng không xét đoán những
giá trò sản phẩm và chi phí bỏ ra này một cách hoàn toàn về mặt đònh lượng, họ
xét đoán theo “giá trò cảm nhận”. Ví dụ, Fedex là hãng chuyển phát nhanh
chiếm 45% thò phần của thò trường chuyển phát nhanh của Mỹ do nó nổi tiếng về
chất lượng dòch vụ chuyển phát, tuy nhiên có thực sự Fedex là hãng vận chuyển

7
nhanh nhất, đáng tin cậy nhất không? Và nếu đúng như vậy thì dòch vụ rất tốt ấy
có trò giá đúng với cái giá cao ngất mà Fedex đã đònh cho dòch vụ của mình
không? Các hãng chuyển phát khác ví dụ Postal Service tuyên bố rằng dòch vụ
của họ cũng không hề thua kém mà giá lại rẻ hơn. Tuy nhiên Postal vẫn chỉ

phẩm hay dòch vụ. Ví dụ nghiên cứu của Babin cùng các đồng sự của ông năm
1994 về giá trò của thú vui đi mua sắm lập luận rằng: giá trò đại diện cho sự đánh
đổi giữa chi phí với lợi ích và nó phát sinh từ cả hai yếu tố chất lượng và giá cả
dòch vụ. Rust và Oliver chỉ ra trong nghiên cứu của họ về giá trò dòch vụ năm
1993 rằng: giá trò sẽ tăng khi chất lượng tăng và giá cả giảm, và mặc dù giá trò
có thể được khái niệm hoá như sự phụ thuộc vào giá cả và chất lượng, Rust và
Oliver vẫn lưu ý ở phần kết luận của nghiên cứu rằng họ chưa thể hiểu rõ về
cách thức hai biến này tương tác với nhau để hình thành nên giá trò.
Trong nghiên cứu về dòch vụ điện thoại đường dài tiến hành năm 1991
hai nhà nghiên cứu Bolton và Drew phát hiện rằng yếu tố xác đònh quan trọng
nhất của giá trò là chất lượng. Họ chú ý rằng: giá trò cảm nhận về dòch vụ khác
với chất lượng và là một hình thức toàn diện hơn của sự đánh giá của khách
hàng về dòch vụ. Còn theo các nghiên cứu của Holbrook lần lượt vào năm 1986
và 1994 thì giá trò có thể được khái niệm hoá như sự đánh giá toàn diện về quá
trình tiêu dùng dòch vụ,ï và cũng giống như chất lượng và sự hài lòng, giá trò có
thể là một sự đánh giá cụ thể tại một thời điểm hoặc là một sự đánh giá toàn
diện trong một thời gian dài.

9
Trong các mô hình lý thuyết liên quan đến giá trò cảm nhận, tác giả khá
tâm đắc với mô hình của Sheth về lý thuyết giá trò cảm nhận khi tiêu dùng sản
phẩm dòch vụ. Sheth và các đồng sự của ông trong nghiên cứu “Tại sao người ta
đã chọn mua cái người ta đã mua- một lý thuyết về giá trò tiêu dùng” (Why we
buy what we buy: a theory of consumption values) đã phát triển một lý thuyết
quan trọng giải thích giá trò tiêu dùng cơ bản dẫn dắt khách hàng khi họ lựa thực
hiện lựa chọn dòch vụ. Nền tảng của lý thuyết này đã xem sự lựa chọn sản phẩm
- dòch vụ như một hàm số của năm giá trò tiêu dùng độc lập phức tạp và có thể
khác nhau về tầm quan trọng theo những tình huống khác nhau đối với những
khách hàng khác nhau. Năm giá trò tiêu dùng đó cụ thể là: giá trò chức năng, giá
trò xã hội, giá trò cảm xúc, giá trò thuộc về tri thức, và giá trò theo điều kiện. Cụ

sinh viên tác giả gặp được nghiên cứu do Gaston LeBlanc và Nha Nguyên thực
hiện năm 1999 để khảo sát giá trò cảm nhận của sinh viên trong tình huống của
một trường ĐH nhỏ chuyên ngành Kinh tế tại Canada. Đáng chú ý ở chỗ nghiên
cứu này dựa trên mô hình lý thuyết về giá trò cảm nhận do Sheth đã xây dựng, tức
là năm giá trò tiêu dùng cụ thể là giá trò chức năng, giá trò xã hội, giá trò cảm
xúc, giá trò thuộc về tri thức, và giá trò theo điều kiện trong nghiên cứu về mô
hình giá trò cảm nhận của Sheth đã hình thành nền tảng cho nghiên cứu khám
phá về giá trò dòch vụ đào tạo của Le Blanc và Nha Nguyen. Hai nhà nghiên cứu
này đã dùng phương pháp phỏng vấn nhóm để xây dựng các mục hỏi liên quan
đến giá trò cảm nhận về dòch vụ đào tạo của trường Kinh tế tại Canada, đo lường

11
trên một thang đo Likert 7 điểm. Kết quả phân tích của họ đã nhận diện 6 yếu tố
cơ bản đại diện cho 6 thành phần cấu tạo nên giá trò cảm nhận của sinh viên
trường kinh tế đó về dòch vụ đào tạo, có thể được mô tả như sau:
- Yếu tố 1 được xem là “giá trò chức năng” bao gồm những mục hỏi về
tính thiết thực kinh tế của bằng cấp ngành kinh tế và giá trò của nó đối với sinh
viên trong việc tìm việc làm trong tương lai và trong việc đạt được những
nguyện vọng về nghề nghiệp của họ.
- Yếu tố 2 là “giá trò về tri thức” liên quan đến khả năng của trường Kinh
tế cung cấp dòch vụ giáo dục có chất lượng đến sinh viên thông qua kiến thức và
sự dìu dắt cuả các cán bộ giảng dạy.
- Yếu tố 3 được đặt tên là “giá trò hình ảnh” với các thành phần của nó là
các mục hỏi đại diện cho niềm tin của sinh viên rằng hình ảnh trường họ tạo
dựng nên có liên hệ gần gũi với giá trò tấm bằng của họ.
- Yếu tố 4 gọi là “giá trò cảm xúc” liên quan với những trạng thái xúc cảm
của sinh viên dưới hình thức những cảm nhận tốt của sinh viên về chuyên ngành
họ học.
- Yếu tố 5 cũng được xác đònh là “giá trò chức năng” nhưng dưới dạng mối
quan hệ học phí-chất lượng bao gồm những mục hỏi liên quan đến những thứ

gần gũi với giá trò tấm bằng của họ. Tóm lại giá trò dòch vụ đào tạo theo cảm nhận
của sinh viên trong khung cảnh trường ĐH chuyên ngành kinh tế được xác đònh
gồm 6 bộ phận cấu thành là: Giá trò chức năng liên quan đến tính thiết thực kinh tế

13
của bằng cấp ĐH, giá trò chức năng liên quan đến mối quan hệ học phí – chất
lượng, giá trò hình ảnh, giá trò cảm xúc, giá trò hiểu biết và giá trò xã hội.
Bộ thang đo xây dựng trong nghiên cứu Nha Nguyên và Gaston LeBlanc
được tác giả vận dụng cho nghiên cứu khám phá về giá trò cảm nhận của sinh viên
trong khung cảnh đào tạo ĐH công lập của Việt Nam nhằm mục tiêu tìm ra những
giá trò bộ phận hình thành giá trò cảm nhận của sinh viên về dòch vụ đào tạo của
trường, xem xét sự khác biệt trong đánh giá của sinh viên về giá trò theo ngành
học, khoá học. Tuy nhiên trước khi sử dụng bộ thang đo đó đã được hiệu chỉnh lại
cho phù hợp đặc điểm tâm lý của sinh viên Việt Nam qua thông tin từ các cuộc
phỏng vấn sâu của tác giả đối với sinh viên, vấn đề này sẽ được tác giả mô tả cặn
kẽ hơn trong những phần sau.
1.2.2 Những công trình nghiên cứu đã có trong nước liên quan đến giá trò
cảm nhận về dòch vụ đào tạo
Đó là bối cảnh của thế giới, còn ở nước ta, đã có các một số nghiên cứu
liên quan đến khái niệm “giá trò dành cho khách hàng” hay “giá trò cảm nhận”
trong lónh vực Marketingï do các công ty kinh doanh thuần túy tiến hành; tuy
nhiên, riêng “dòch vụ đào tạo” vẫn còn là một khái niệm khá mới mẻ và có
nhiều tranh luận nên các nghiên cứu sâu về giá trò cảm nhận trong lónh vực giáo
dục đặc biệt là giáo dục ĐH hầu như chưa thấy ngoài đề tài nghiên cứu Khoa
học của Tiến só Hoàng Thò Phương Thảo và Thạïc só Hoàng Trọng hiện đang
được thực hiện tại trường ĐH Kinh tế. Đề tài nghiên cứu Khoa học này cũng áp
dụng bộ thang đo của Nha Nguyên và Gaston LeBlanc tuy nhiên điểm khác biệt
với nghiên cứu tại ĐH Thủy sản Nha Trang là ở chỗ hai nhà nghiên cứu của ĐH
Kinh tế vận dụng triệt để bộ thang đo đó, ngoài ra nghiên cứu của họ còn mở
rộng đến cả việc khảo sát chất lượng dòch vụ đào tạo theo cảm nhận của sinh

Tuy nhiên, bước vào thế kỷ 21, giáo dục VN cũng đang đặt ra những vấn
đề mà toàn xã hội hiện nay phải trăn trở. Mặc dù hơn 10 năm qua Giáo dục đào
tạo đã được Đảng và Nhà nước đặt thành quốc sách hàng đầu nhưng đứng trước
những thách thức mới của thời đại trong cuộc đua tranh quyết liệt về mọi mặt
đang diễn ra trên toàn cầu, nền giáo dục VN đang bộc lộ những yếu điểm, bất
cập cần được phân tích nghiêm túc và sớm khắc phục.
Đặc biệt trong tình hình đó giáo dục ĐH đòi hỏi sự chấn chỉnh cấp bách
hơn cả vì giáo dục ĐH giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ hệ thống giáo dục do nó
tác động trực tiếp đến trình độ phát triển của khoa học và công nghệ của một đất
nước. Các nước phát triển trên thế giới hiện nay đạt được vò trí hiện tại với
những thành tựu rực rỡ đều nhờ đã biết lấy giáo dục ĐH làm đòn bẩy thành
công. Cuộc cách mạng công nghệ và xu thế kinh tế tri thức toàn cầu hiện nay
càng nêu cao hơn nữa vai trò của giáo dục ĐH đối với sự thònh suy của tất cả các
nước.
Để đánh giá cụ thể hơn về giáo dục ĐH của VN, tác giả đi theo hướng mà
nhiều nhà nghiên cứu hiện nay đã thực hiện, đó là xuất phát từ mục tiêu đào tạo
của giáo dục ĐH, xem xét những yếu kém và nổi cộm hiện nay của giáo dục ĐH
nước ta theo mục tiêu đào tạo hiện nay thì thấy tập trung ở mấy điểm sau :
- Chương trình và nội dung đào tạo kém tính thiết thực, ít liên hệ với các
hoạt động sản xuất, kinh tế xã hội của đất nước, ít nhắm tới khả năng làm được
việc và khả năng tìm việc làm sau khi ra trường, quá nặng về lý thuyết mà nhẹ
về thực hành, thực tiễn. Do vậy sinh viên học tập vất vả, chòu nhiều áp lực mà

16
sau khi tốt nghiệp lại khó tìm việc làm và khó thích nghi với thực tế, không làm
được việc.
- Phương pháp giảng dạy theo lối truyền thụ một chiều thụ động Thầy
nói- trò ghi (mà kiến thức của thầy cũng thường là kiến thức sách vở, thiếu kinh
ngiệm thực tế do thầy ít có điều kiện thực hiện nghiên cứu khoa học), hầu như
không sử dụng phương tiện tin học hỗ trợ giảng dạy. Cách dạy áp đặt ấy cùng

Khoa Kinh tế khai sinh khá muộn so với tuổi của trường ĐH Thuỷ sản
Nha Trang (Tiền thân của Trường ĐH Thuỷ sản là Khoa Thuỷ sản được thành
lập ngày 01/8/1959 tại Học viện Nông Lâm Hà Nội - nay là Trường ĐH Nông
nghiệp I Hà Nội. Ngày 16/8/1966, theo quyết đònh số 155-CP của Thủ tướng
Chính Phủ, khoa Thuỷ sản tách thành trường Thuỷ sản, sau ngày thống nhất đất
nước, trường chuyển đòa điểm từ Hải Phòng vào Nha Trang và lấy tên là trường
ĐH Hải sản, từ năm 1980 chính thức đổi tên thành trường ĐH Thuỷ sản Nha
Trang), Khoa được thành lập chính thức năm 1982 với một chuyên ngành chủ
đạo là Kinh tế thuỷ sản. Theo xu thế phát triển của đào tạo ĐH nước ta, Khoa
Kinh tế cũng mở rộng quy mô và loại hình đào tạo, phát triển thêm ba chuyên
ngành nữa là Kế toán doanh nghiệp, Quản trò kinh doanh (năm 1997) và Thương
mại (năm 2003). Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo của Khoa cũng không ngừng
được mở rộng với hệ thống giảng đường năm tầng tiện nghi có sức chứa 60 đến
150 sinh viên/phòng, có phòng chuyên dùng với các thiết bò dành riêng cho các
môn học sử dụng các phương tiện giảng dạy hiện đại. Phòng máy tính của Khoa
phục vụ việc thực hành của sinh viên được trang bò hệ thống máy mới, cấu hình

18
mạnh và đủ các thiết bò hỗ trợ tiên tiến, nằm liền kề hệ thống văn phòng của các
Bộï môn và các tổ chức đoàn thể của Khoa, cách không xa khu giảng đường
chính. Lực lượng giảng viên trẻ được bổ sung từ nhiều nguồn tạo sự mở mang và
giao thoa tri thức. Trình độ của giảng viên không ngừng được củng cố qua các
lớp đào tạo ngắn ngày và các lớp học sau đại học trong cũng như ngoài nước.
Năm 2004 Khoa mở thêm cấp đào tạo sau đại học chuyên ngành Kinh tế thuỷ
sản, hiện nay đang đào tạo khoá thứ 2.
Tuy nhiên do quy mô đào tạo khá lớn với nhiều hệ lại phân tán tại nhiều
đòa phương trên toàn quốc, do nguồn lực chưa đủ mạnh nên sự thiếu hụt và
không bảo đảm chất lượng phục vụ hoàn hảo là khó tránh được. Thực tế này đã
làm giảm sút sự hài lòng trong sinh viên, tạo ra những phàn nàn dù Khoa đã
luôn cố gắng hết mình. Cùng với những khó khăn do điều kiện đòa lý bất lợi gây 20
CHƯƠNG 2 : KHẢO SÁT GIÁ TRỊ CẢM NHẬN CỦA SINH
VIÊN VỀ DỊCH VỤ ĐÀO TẠO

Như tác giả đã trình bày, cơ sở lý luận về mặt học thuật của vấn đề
nghiên cứu là “giá trò dòch vụ” nói chung và ”giá trò dòch vụ đào tạo” nói riêng
vẫn chưa đònh hình hoàn toàn, các hiểu biết có được đều căn cứ trên các nghiên
cứu thực nghiệm. Tuy nhiên qua nghiên cứu mô hình giá trò cảm nhận trong đào
tạo ĐH của hai nhà nghiên cứu Nha Nguyen và LeBlanc tác giả nhận đònh rằng
cấu trúc giá trò cảm nhận của sinh viên Việt Nam đối với dòch vụ đào tạo đại học
cụ thể hoá trong khung cảnh của khoa Kinh tế - ĐH Thủy sản tuy có 6 bộ phận
tương đồng với mô hình giá trò cảm nhận của sinh viên ĐH nước ngoài nhưng
vẫn sẽ có nét khác biệt do đặc điểm riêng của đối tượng:
- Thứ nhất, quan điểm trọng bằng cấp bắt rễ lâu đời trong nhận thức của xã
hội Việt Nam cùng với việc đánh giá cao tuyệt đối giá trò của tấm bằng ĐH như
một tấm giấy thông hành để bước vào đời mặc dù hiện vẫn gây nhiều tranh cãi
chưa đến hồi phân đúng sai nhưng sự tồn tại không thể phủ nhận của nó có khả
năng sẽ làm cho một số thành phần giá trò sinh viên nhận được trong quá trình học
tập ĐH sẽ có nét đặc biệt hơn sinh viên Canada như một đặc thù cho khung cảnh
nghiên cứu giá trò dòch vụ trong đào tạo đại học tại một trường ĐH của Việt Nam.
Từ nhận đònh này, tác giả quyết đònh hiệu chỉnh bộ thang đo của Nha
Nguyên và Gaston LeBlanc theo hướng nhấn mạnh hơn đến giá trò cảm xúc khi
xây dựng thêm mục hỏi thể hiện trạng thái tự tin khi được bước chân vào đời qua
con đường ĐH

21

- Những giá trò cảm xúc sinh viên có được khi học ĐH, chẳng hạn như
niềm vui khi nhận thấy rằng mình đã chọn đúng ngành để học, sự tự
tin khi bước chân vào đời qua con đường ĐH.
- Giá trò hình ảnh xuất phát từ đánh giá của sinh viên về hình ảnh và
danh tiếng mà tổ chức đào tạo đã tạo ra trong công chúng và tác động
của nó đến giá trò tấm bằng cử nhân của họ.
- Giá trò hiểu biết liên quan đến đánh giá của sinh viên về chất và lượng
những kiến thức mà họ nhận được qua quá trình được đào tạo.
- Giá trò chức năng liên quan đến đánh giá của sinh viên về sự tương
xứng giữa học phí họ đã đóng với chất lượng dòch vụ đào tạo họ được
cung ứng.
- Giá trò xã hội liên quan đến những lợi ích nhận được từ sự gắn kết của
sinh viên với những nhóm xã hội cụ thể như bạn bè và những nhóm có
liên quan, có lẽ môi trường ĐH là nơi các sinh viên nhận được những
giá trò xã hội nổi bật cho đến thời điểm hiện tại trong cuộc đời của họ
vì tại đây họ được tiếp xúc với rất nhiều đối tượng, đặc biệt là những
sinh viên khác đến từ nhiều vùng miền khác nhau trong cả nước.
Vai trò của từng bộ phận giá trò trên trong giá trò cảm nhận chung của sinh
viên về dòch vụ đào tạo của tổ chức là khác nhau.

23
Còn sự đánh giá toàn diện của sinh viên về dòch vụ đào tạo không chỉ do
giá trò cảm nhận về dòch vụ đào tạo chi phối mà còn chòu tác động của mức độ
sinh viên hài lòng về chất lượng giảng dạy họ nhận từ tổ chức.
Tác giả sẽ dùng phương pháp phân tích nhân tố để trích rút ra các bộ phận
giá trò cơ bản (trong phân tích nhân tố người ta gọi là các bộ phận là nhân tố) ẩn
dưới những dữ liệu được thu thập từ sinh viên khoa Kinh tế qua bản câu hỏi, sau
đó dùng hệ số Cronbach Alpha kiểm tra lại từng nhân tố một xem dữ liệu thu
thập từ sinh viên khoa Kinh tế ĐH Thuỷ sản có ủng hộ cho giả thuyết về 6 bộ
phận cấu thành giá trò cảm nhận mà tác giả đặt ra hay không.

2.2.1 Nghiên cứu đònh tính
Mục tiêu của nghiên cứu đònh tính là để xây dựng bộ thang đo hoàn chỉnh
dùng chính thức cho nghiên cứu về giá trò dòch vụ đào tạo theo cảm nhận của
sinh viên. Như tác giả đã mô tả sơ bộ ở các phần trên, tác giả đã hiệu chỉnh bộ
thang đo mà nghiên cứu của Nha Nguyên và Gaston Le Blanc đã xây dựng qua
tiến hành phỏng vấn sâu 15 em sinh viên của Khoa Kinh tế – ĐH Thuỷ sản. Các
em sinh viên này được chọn ngẫu nhiên ở cả hai giới tính nam và nữ từ các lớp
thuộc các ngành và niên khoá khác nhau, có 4 chuyên ngành (là Kinh tế thuỷ
sản, Quản trò kinh doanh, Kinh tế Thương mại và Kế toán doanh nghiệp) trong
Khoa kinh tế cho cả 3 niên khóa (bao gồm năm 2, năm 3 và năm cuối). Nội dung
phỏng vấn căn cứ trên khung bộ thang đo mà Nha Nguyên và Le Blanc xây

25
dựng, những người tham gia phỏng vấn sâu được hỏi về các khía cạnh khác nhau
liên quan đến dòch vụ đào tạo và cách thức họ đánh giá giá trò dòch vụ của Khoa.
Chính các cuộc nói chuyện sâu với các em đã giúp tác giả quyết đònh phát
triển thêm việc đo lường tầm ảnh hưởng của mức độ hài lòng về chất lượng giảng
dạy đối với sự đánh giá toàn diện của sinh viên về dòch vụ đào tạo vì các em sinh
viên đều thể hiện một thái độ thống nhất rằng: đối với người đi học, quan trọng
nhất vẫn là chất lượng giảng dạy, tuy không thể phủ nhận còn nhiều yếu tố khác
có khả năng ảnh hưởng đến thái độ chung nhất của họ đối với cơ sở tổ chức đào
tạo.
Qua nói chuyện với các em tác giả đã có cơ sở điều chỉnh ngôn từ để các
mục hỏi trong bộ thang đo của hai nhà nghiên cứu Nha Nguyen và Le Blanc phù
hợp hơn với ngôn từ cũng như ngữ cảnh của trường ĐH Việt Nam; hoặc bởi vì
trong một số tình huống ngôn từ của tiếng Việt không đủ súc tích, ngoài ra còn
vì đối với sinh viên Khoa Kinh tế của ĐH Thuỷ sản, những nghiên cứu như thế
này là điều rất mới lạ và hình thức thu thập dữ liệu tác giả dự đònh sử dụng là
dạng tự quản nên cần có sự mạch lạc rõ ràng trong hành văn.
Các sinh viên tham dự phỏng vấn sâu còn phát triển thêm cho tác giả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status