Phần Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục và Đào tạo có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu
chung của toàn Đảng, Toàn dân là: “Nâng cao dân trí, Đào tạo nhân lực, Bồi
dưỡng nhân tài cho đất nước.” Nhiệm vụ nặng nề đó đặt lên vai Ngành Giáo
dục vì làm được điều này Giáo dục và Đào tạo đã thực sự góp phần đắc lực
cho sự nghiệp: Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa đất nước, xây dựng và thực
hiện mục đích của Đảng và Nhà nước là: Làm cho dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Nhà nước Việt Nam đã xác định rõ: “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho
sự phát triển của xã hội.” Một đất nước muốn phát triển hay không người ta
đánh giá và nhìn vào nền giáo dục của nước đó có bền vững và phát triển ổn
định hay không.
Trong bài nói chuyện với lớp đào tạo hướng dẫn viên các trại hè cấp I
(ngày 12 tháng 6 năm 1956) Bác Hồ đã nói: “Nhiệm vụ giáo dục rất quan
trọng và rất vẻ vang, vì nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục. Không
có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không thể nói gì đến nền kinh tế, văn
hóa.” [26]
Văn kiện Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng
sản Việt Nam khóa VII có ghi: “ Để đảm bảo chất lượng của giáo dục và đào
tạo phải giải quyết tốt vấn đề thầy giáo.’’ Có nghĩa là Người thầy giáo dù dạy
ở bất cứ bậc học, ngành học nào đòi hỏi phải có trình độ, phải được đào tạo
chuẩn cả về chuyên môn và nghiệp vụ, phải có tay nghề cao, phải năng động
sáng tạo, không ngừng trau dồi và nâng cao tri thức.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 2
khóa VIII cũng đã chỉ ra: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo
dục và đào tạo.”
1
Điều 70 Luật Giáo dục đã khẳng định: “...Nhà giáo phải có những tiêu
chuẩn sau đây”:
+ Có phẩm chất đạo đức tốt
phạm và có tay nghề sư phạm.
Như vậy nghề dạy học không chỉ là công việc lao động thuần túy mà
đó là một nghề sáng tạo đòi hỏi yêu cầu cao, có tính nghệ thuật.
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “Nghề dạy học là nghề
sáng tạo nhất trong các nghề sáng tạo.”
Khi nói đến vai trò quan trọng của nghiệp vụ sư phạm nguyên tổng bí
thư Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam Lê Khả Phiêu đã
nhấn mạnh: “Nghề thầy giáo là nghề có nghiệp vụ cao, tinh tế chứ không phải
nghề phổ thông.’’
Đặc biệt càng ở các bậc học cao như: cao đẳng, đại học thì người giảng
viên đại học lại càng cần được đào tạo công phu về cả chuyên môn và nghiệp
vụ sư phạm vì ở các cấp học này đòi hỏi người giảng viên với những yêu cầu
cao hơn, chuyên nghiệp hơn.
Thực tế giáo dục ở Việt Nam hiện nay nói chung và đội ngũ giảng viên
các trường đại học thuộc thành phố Hà Nội nói riêng ngày càng phát triển
đông đảo về số lượng và không ngừng được nâng cao về trình độ chuyên môn
nghiệp vụ. (Số giảng viên tại các trường đại học có trình độ từ thạc sĩ trở lên
chiếm 90%, đội ngũ giảng viên có trình độ tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư ở các
trường đại học chiếm một tỉ lệ khá cao).
Tuy nhiên, một bất cập đang tồn tại hiện nay là đội ngũ giáo viên trong
các trường từ Mầm non, Tiểu học đến Trung học cơ sở, Trung học phổ thông
đều được đào tạo trong hệ thống các trường sư phạm từ Trung học sư phạm,
Cao đẳng sư phạm, Đại học sư phạm... được trang bị đầy đủ kiến thức về
chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, các kĩ năng sư phạm. Còn ở các trường từ
3
Trung học chuyên nghiệp đến cao đẳng, đại học số giảng viên đang trực tiếp
giảng dạy không được đào tạo từ các trường sư phạm lại chiếm một tỉ lệ khá
cao (47,7%). Đã có một thời gian dài chúng ta đã quá coi trọng trình độ, năng
lực chuyên môn và cho rằng chỉ cần có đủ điều kiện về chuyên môn là có thể
làm tốt công tác giảng dạy. Vì vậy, có nhiều giảng viên có trình độ chuyên
trên địa bàn Thành phố Hà Nội nói riêng.
3. Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giảng viên các
trường Đại học.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên các trường đại
học khối kinh tế.
4. Giả thuyết khoa học
Công tác tổ chức hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng
viên các trường đại học trong những năm qua dù có những thành tựu, xong
trong thực tế còn gặp không ít khó khăn và hạn chế trong công tác tổ chức bồi
dưỡng. Nếu đề xuất được những biện pháp tổ chức, bao quát những vấn đề sư
phạm và kịp thời cung cấp những điều kiện hỗ trợ thì góp phần nâng cao kết
quả trong công tác bồi dưỡng, đào tạo về nghiệp vụ sư phạm
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ sư
phạm cho đội ngũ giảng viên các trường đại học.
5.2. Nghiên cứu thực trạng vấn đề tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ sư
phạm của đội ngũ giảng viên các trường đại học khối kinh tế trên địa bàn thành
phố Hà Nội.
5.3. Đề xuất các giải pháp tổ chức tốt quá trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm
cho đội ngũ giảng viên các trường Đại học.
5
6. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phối hợp các
nhóm phương pháp sau:
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp như: phân tích; tổng hợp; khái quát hoá;…..
để làm sáng tỏ cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu.
Phương pháp điều tra viết là phương pháp nghiên cứu sử dụng phiếu
trưng cầu ý kiến với một hệ thống câu hỏi đã được soạn sẵn nhằm thu thập
những thông tin cần thiết về những vấn đề cần được nghiên cứu
6.2.2. Phương pháp phỏng vấn: Sử dụng phương pháp phỏng vấn đối với
các giảng viên không được đào tạo nghiệp vụ sư phạm để làm rõ những khó
khăn vướng mắc có thể gặp phải trong quá trình gỉang dạy( Thông qua phiếu
hỏi)
6.2.3. Phương pháp quan sát: Quan sát khoa học là phương pháp tri
giác đối tượng một cách có hệ thống để thu thập thông tin cần thiết về đối
tượng. Trong quá trình làm đề tài chúng tôi đã tiến hành quan sát 200 giảng
viên của các trường đại học thuộc khối kinh tế trên địa bàn Hà Nội về công
tác tổ chức, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, những buổi lên lớp trực tiếp giảng
dạy, những buổi thi nghiệp vụ sư phạm (Trong tuần lễ rèn luyện nghiệp vụ sư
phạm nhằm lấy thành tích chào mừng những ngày lễ lớn trong năm như:
20.11, 8.3, 26.3 thông qua phong trào đổi mới phương pháp dạy học do Công
đoàn các trường đại học, Đoàn thanh niên…. các trường phát động tổ chức).
Mục đích: Nhằm thu thập thông tin thực tiễn về nhận thức thái độ và
kết quả của công tác tổ chức, bồi dưỡng, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho đội
ngũ giảng viên các trường đại học khối kinh tế trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Đặc biệt đội ngũ cán bộ giảng viên trẻ
6.2.4. Ngoài ra sử dụng các phương pháp bổ trợ khác như:
7
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động giáo dục;
Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia... để làm sáng tỏ hơn những vấn đề
cần nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động là phương pháp phân
tích sản phẩm hoạt động (Những giờ lên lớp) của giảng viên để tìm ra những
thông tin về đối tượng nghiên cứu mà không thể nhận thức nó một cách trực
tiếp được.
Mục đích: Qua việc phân tích kết quả của công tác tổ chức bồi dưỡng
viên các trường đại học nói riêng. Đặc biệt là đội ngũ giảng viên các trường
đại học khối kinh tế.
7. Phạm vi nghiên cứu
200 giảng viên các trường Đại học thuộc khối kinh tế trên địa bàn
Thành phố Hà Nội: Đại học Thương mại, Đại học Ngoại Thương, Học viện
Ngân hàng, Học viện Tài chính.
8. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu và phần kết quả nghiên cứu chủ yếu gồm
có 83 trang
Phần kết quả nghiên cứu chủ yếu có 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu có 23 trang
Chương 2: Thực trạng công tác tổ chức, bồi dưỡng, đào tạo Nghiệp vụ
Sư phạm cho đội ngũ giảng viên các trường Đại học khối kinh tế trên địa bàn
Thành phố Hà Nội gồm có 24 trang
Chương 3: Đề xuất các giải pháp tổ chức hoạt động bồi dưỡng nghiệp
vụ sư phạm cho đội ngũ giảng viên các trường đại học khối kinh tế trên địa
bàn thành phố Hà Nội có 24 trang
Sau mỗi chương là phần kết luận của chương.
Cuối luận văn có kết luận, khuyến nghị, phụ lục và tài liệu tham khảo
9
Phần nội dung
Chương 1
Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu
1.1. Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu
Giáo dục ở bất kỳ xã hội nào, trong bất cứ thời đại nào cũng phục vụ
cho sự phát triển của xã hội đó. Vì vậy hoạt động giáo dục phải luôn luôn đổi
mới không ngừng để góp phần vào sự tiến bộ của xã hội.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ “Muốn tiến
hành Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển Giáo dục - Đào
tạo, phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản của việc phát triển nhanh
của xã hội. Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái
xã hội khác nhau nên cũng đã trải qua nhiều hình thức quản lý khác nhau. Các
triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của
quản lý trong sự ổn định và phát triển của xã hội. Nó là một phạm trù tồn tại
khách quan và là một tất yếu lịch sử. ở mỗi góc độ tiếp cận và hoạt động,
người ta có thể đưa ra một quan niệm về quản lý khác nhau.
Các Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung
nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự
chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng
chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của
những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy
mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [1].
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ phân công lao động của xã hội loài
người nhằm đạt mục đích, hiệu quả cao hơn, năng xuất cao hơn. Đó chính là
hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nỗ lực các thành viên
trong nhóm, trong cộng đồng nhằm đạt mục tiêu đề ra.
11
Trong quá trình tồn tại và phát triển của quản lý, đặc biệt trong quá
trình xây dựng lý luận về quản lý, khái niệm quản lý được nhiều nhà lý
luận đưa ra, nó thường phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu của
mỗi người.
Chẳng hạn:
- Theo quan điểm triết học, quản lý được xem như một quá trình liên
kết thống nhất giữa chủ quan và khách quan để đạt mục tiêu đề ra.
- Theo quan điểm kinh tế học, nhà kinh tế học người Mỹ - Frederic
Wiliam Taylor (1856 - 1915) cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng,
chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và
rẻ tiền nhất” [18].
Với nhà lý luận quản lý kinh tế Pháp A. Fayon (1841 - 1925) thì:
“Quản lý là đưa xí nghiệp tới đích, cố gắng sử dụng các nguồn lực (nhân, tài,
có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã
đề ra” [43].
+ Theo quan điểm của Nguyễn Quang Toản - Trung tâm quản lý chất
lượng quốc tế (IQC) thì: Quản lý là các hoạt động có phối hợp để định hướng
và kiểm soát một tổ chức trong việc đạt mục đích đề ra [34].
+ Theo tác giả Nguyễn Đức Trí: Quản lý là một quá trình tác động có
định hướng (có chủ đích), có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có
thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng và môi trường, nhằm giữ cho sự
vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu
đã định [35].
Nhìn chung các tác giả đã nêu quan niệm của mình về quản lý với
những cách tiếp cận khác nhau nhưng từ những quan niệm đó có thể thấy rõ
được nội hàm khái niệm quản lý như sau:
- Quản lý là hoạt động lao động, hoạt động này để điều khiển lao động.
13
- Trong quản lý, bao giờ cũng có chủ thể quản lý và đối tượng quản lý
quan hệ với nhau bằng những tác động quản lý. Những tác động quản lý
chính là những quyết định quản lý, là những nội dung mà chủ thể quản lý yêu
cầu đối với đối tượng quản lý.
- Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động
xã hội. Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người
tồn tại, vận hành.
- Quản lý là một hệ thống xã hội trên nhiều phương diện. Điều đó cũng
xác lập rằng quản lý phải có một cấu trúc và vận động trong một môi trường
xác định.
Hoạt động "quản lý" bao giờ cũng gắn với hoạt động có ý thức của con
người và toàn xã hội dưới tác động của hoàn cảnh nhằm định hướng sự vận
động và phát triển của đối tượng cần quản lý theo một mục đích nhất định.
Khái niệm đó phải bao quát được tất cả mọi hoạt động của con người. Đồng
thời khái niệm “quản lý" cũng như bất kỳ một khái niệm nào khác cũng phải
đầu tầu kéo theo các toa "tổ chức", "chỉ đạo", "kiểm tra". Như vậy, người
quản lý, nếu không có kế hoạch thì không biết phải tổ chức nhân lực và các
nguồn nhân lực khác như thế nào, thậm chí họ còn không rõ phải tổ chức cái
gì nữa. Không có kế hoạch, người quản lý không thế chỉ dẫn, lãnh đạo người
thuộc quyền hành động một cách chắc chắn với những kỳ vọng đặt vào kết
quá mong đạt tới.
Cũng vậy, không có kế hoạch thì cũng không xác định định được tổ
chức hướng tới đúng hay chệch mục tiêu, không biết khi nào đạt được mục
tiêu và sự kiểm tra trở thành vô căn cứ.
Kế hoạch hoá là một chức năng quan trọng của quá trình quản lý vì trên
cơ sở phân tích các thông tin quản lý, căn cứ vào những tiềm năng đã có và
những khả năng sẽ có mà xác định rõ hệ thống mục tiêu, nội dung hoạt động,
15
các giải pháp cần thiết để chỉ rõ trạng thái mong muốn của đối tượng khi kết
thúc các hoạt động.
Kế hoạch hoá có vai trò to lớn như vậy bởi bản thân nó có những chức
năng cơ bản cụ thể sau:
* Chức năng chẩn đoán: Bao gồm việc xác định trạng thái xuất phát và
những phân tích về trạng thái đó.
* Chức năng dự báo: Bao gồm việc xác định nhu cầu và các mục tiêu
để suy ra những hướng phát triển cơ bản, trong đó có tính tới nhu cầu bên
ngoài và bên trong. Lựa chọn những hướng ưu tiên, dự kiến những mục tiêu
cần đạt và các tiêu chuẩn đánh giá.
* Chức năng dự đoán: Bao gồm việc phát hiện các phương án chọn lựa
có tính đến tiềm năng của nguồn lực dự trữ và những mong muốn chủ quan.
b. Chức năng tổ chức
Bamard định nghĩa tổ chức như là “hệ thống các hoạt động hay tác
động có ý thức của hai hay nhiều người". Cuốn “Cơ sở khoa học của quản lý"
đã xác định: “Tổ chức là hoạt động hướng tới hình thành cấu trúc tối ưu của
hệ thống quản lý và phối hợp tốt nhất giữa các hệ thống lãnh đạo và bị lãnh
thành nên các chức năng quản lý. Đó là chức năng kế hoạch hoá, chức năng tổ
chức, chức năng chỉ đạo và chức năng kiểm tra.
Qua phân tích các chức năng quản lý, chúng ta thấy rằng các chức năng
này có mối quan hệ chặt chẽ tác động qua lại với nhau, chi phối lẫn nhau tạo
thành một thể thống nhất của hoạt động quản lý. Mối quan hệ đó, chúng tôi
thể hiện ở sơ đồ sau đây:
17
1.2.3. Quản lý giáo dục
* Quản lý giáo dục: Là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến
khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới
kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất. Quản lý giáo dục theo nghĩa
tổng quan là một hoạt động điều hành, phối hợp giữa các lực lượng trong xã
hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển ngày
càng cao của xã hội.
Theo Phạm Minh Hạc: Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động dạy
học. Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của
nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lý được giáo dục,
tức là cụ thể hóa đường lối của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực,
đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước
Theo Nguyễn Quang Học: Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục
đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận
hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính
chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá
trình dạy học
Kế hoạch
hoá
Chỉ đạo
Kiểm tra
Tổ chức
18
cho công tác giáo dục và phát triển giáo dục.
Quản lý giáo dục là một hoạt động khó khăn, phức tạp bởi vì sản phẩm
giáo dục là : “con người” và phục vụ chính cho “ con người”.
Do vậy người cán bộ quản lý giáo dục( Nhà quản lí) cần phải có nhân
cách quản lý: Vì con người, cho con người và xuất phát từ con người.
Quản lý giáo dục trong giai đoạn cách mạng hiện nay, khi mà đất
nước chúng ta đang tiến hành tiến trình công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất
nước. Đặc biệt khi Việt Nam đã trở thành nước thứ 150 của WTO, thì Người
lãnh đạo, Người quản lý giáo dục không chỉ có dựa vào tinh thần, ý chí, kinh
nghiệm mà phải lãnh đạo bằng trí tuệ, khối óc, dựa trên những cơ sở khoa
học năng động, sáng tạo, biết khơi dạy nguồn lực trong mỗi trập thể nhà
trường, cơ sơr giáo dục, phát huy tài năng trong đội ngũ giáo viên mình quản
lý, để thực hiện và làm tốt công tác quản lý của mình, phải linh hoạt, biết
vận dụng khoa học công nghệ tiến tiến của nhân loại vào công việc quản lý
giáo dục của mình.
Hệ thống quản lý giáo dục như là hệ thần kinh của con người nó điều
khiển toàn Ngành giáo dục, mỗi cán bộ quản lý là đại diện cho một tế bào của
hệ thần kinh đó. Nếu một tế bào nào đó không lành mạnh, không tích cực hoạt
động thì cả hệ thống thần kinh sẽ bị giảm sút, guồng máy hoạt động sẽ bị trì trệ.
Mỗi cán bộ quản lý ngoài việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ đã
được định sẵn trong hệ thống còn phải góp phần làm cho hệ thống đó ngày
càng hoàn thiện và phát triển .
Do vậy: yêu cầu đặt ra đối với người quản lý giáo dục là hết sức quan
trọng. Đóng vai trò then chốt và quyết định cho sự nghiệp giáo dục. Chúng ta
phải coi quản lý giáo dục cũng là một nghề cũng phải được đào tạo công phu,
bài bản, như chúng ta đào tạo để làm người giáo viên khi đứng trên bực giảng.
Có làm được như vậy chúng ta mới tạo ra được những nhà cán bộ quản lý
20
giỏi, tâm huyết với nghề, biết thực hiện quá trình quản lý của mình bằng nghệ
thuật dựa trên cơ sở khoa học.
thành hiện thực, đáp ứng được nhu cầu học tập suốt đời của nhân dân. Tạo
mọi điều kiện để mọi người dân đều được đến trường, đều có cơ hội học tập
như nhau, học tập suốt đời.
Theo Phạm Viết Vượng thì: “ Quản lý trường học là lao động của các
cơ quan quản lý, nhằm tập hợp và tổ chức các lao động của giáo viên, học
sinh, sinh viên và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa
các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong
nhà trường.
Quản lý nhà trường về cơ bản khác với quản lý ở các lĩnh vực khác, vì
ở đây có những tác động của chủ thể quản lý là những tác động của công tác
tổ chức sư phạm đến đối tượng quản lý là học sinh, sinh viên nhằm giải quyết
những nhiệm vụ giáo dục của nhà trường( Truyền thụ tri thức kỹ năng kĩ
sảo...). Đó là một hệ thống có tác động, có phương hướng, có mục đích, có kế
hoạch, có tổ chức, có mối quan hệ qua lại lẫn nhau, phụ thuộc vào nhau, thúc
đẩy nhau cùng thực hiện tốt nhiệm vụ của giáo dục.
Người quản lý giáo dục trong công tác tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ sư
phạm: Chúng ta cần khẳng định: “Muốn quản lý tốt công tác tổ chức bồi
dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho học viên (Trong các trường đại học) Người
quản lý phải là người thầy giáo giỏi, có trình độ chuyên môn vững vàng, có
kiến thức sâu rộng và phải nắm chắc các nội dung, yêu cầu và quy trình đào
tạo của việc dạy nghề cho học viên (Sinh viên, giảng viên ).”
1.3. Khái niệm nghiệp vụ sư phạm và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm
1.3.1. Nghiệp vụ sư phạm
Nghiệp vụ: Từ điển tiếng Việt thông dụng của Nguyễn Như ý đã cho
rằng : “Nghiệp vụ là công việc chuyên môn của một nghề.”
22
Trong kỉ yếu hội thảo Quốc gia các trường Đại học Sư phạm 1998 Tại
Thành phố Vinh - Nghệ an cũng đã khẳng định: “ Dưới mọi trường nghề,
Nghiệp vụ là toàn bộ kiến thức, kĩ năng cần thiết để người học làm tốt công
việc của mình sau khi được đào tạo. (Trang 11 5- Kỉ yếu hội thảo)
“ Năng lực được tri thức làm cơ sở, được quy định bởi các giá trị, được
sử dụng như những kĩ năng, được tăng cường qua vốn kinh nghiệm và được
thực hiện thông qua ý định”
1.3.2. Quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm
Việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là một hoạt động cơ bản trong quá
trình đào tạo và bồi dưỡng giáo viên. Có ý nghĩa quyết định trong việc hình
thành phẩm chất, và năng lực nghề nghiệp. Người quản lý hoạt động bồi
dưỡng nghiệp vụ sư phạm phải tạo điều kiện cho sinh viên, giáo viên và giảng
viên rèn luyện, bồi dưỡng bằng nhiều cách, nhiều hình thức khác nhau, biết
huy động mọi lực lượng, vật chất, tinh thần, biết phối hợp tất cả các lực lượng
để hỗ trợ cho hoạt động bồi dưỡng rèn luyện nghiệp vụ sư phạm theo một
hướng thuận lợi và đạt được kết quả tốt nhất.
Ngoài các nội dung trên trong khuôn khổ nghiệp vụ sư phạm còn có
một số kĩ năng bắt buộc như:
+ Rèn luyện các kĩ năng cơ bản của hoạt động dạy học như:
Kĩ năng nói: (Kĩ năng diễn đạt bằng lời) Khi lên lớp đứng trước bục
giảng, đứng trước học sinh, sinh viên Người giáo viên nói chung và giảng
viên các trường đại học nói riêng phải chững chạc, nói năng lưu loát, có sức
thuyết phục, giọng nói truyền cảm, gần gũi, dễ nghe, thu hút được sự chú ý
của mọi người, phát âm đúng, rõ từ đầu đến cuối, âm thanh vừa phải để mọi
người đều dễ nghe được (Kể cả những bàn ngồi cuối lớp) , giọng nói dứt
khoát, tự tin có sức thuyết phục, hùng biện...
24
Đây là một kĩ năng quan trọng nhất của người giáo viên, giảng viên bởi
vì khi được rèn luyện về kĩ năng giao tiếp, giáo viên được tập cách tiến hành
khi giao tiếp sư phạm, hoặc khi người giáo viên hướng dẫn các sinh viên tiến
hành các trắc nghiệm, các giai đoạn trong giao tiếp, tập sử dụng các phương
tiện để giao tiếp sư phạm, rèn luyện phong cách và kĩ năng giao tiếp sư phạm:
- Khi tiến hành người giáo viên cho sinh viên tiếp xúc với các tình
huống và lựa chọn phương án giải quyết tốt nhất, hoặc giáo viên hướng dẫn