1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC VÕ THỊ SƯƠNG BIỆN PHÁP TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ
SƯ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG
ĐẠI HỌC PHƯƠNG ĐÔNG Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số : 60 14 05 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. ĐINH THỊ KIM THOA
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
4
3. Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
5
4. Giả thuyết khoa học
5
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5
6. Phương pháp nghiên cứu
5
7. Phạm vi nghiên cứu
9
8. Cấu trúc của luận văn
9
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
10
1.1. Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu
10
1.2. Lý luận chung về quản lý
11
1.2.1. Khái niệm về quản lý
11
1.2.2. Chức năng của quản lý
14
1.2.3. Quản lý giáo dục
18
2
Kết luận chương 1
33
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC BỒI DƢỠNG NGHIỆP VỤ
SƢ PHẠM CHO ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC
PHƢƠNG ĐÔNG HÀ NỘI 34
2.1. Khái quát về trường Đại học Phương Đông Hà Nội
34
2.2. Thực trạng biện pháp tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho
giảng viên trường đại học Phương Đông
37
2.2.1. Nhận thức của cán bộ giảng viên của trường đại học Phương
Đông về việc tổ chức bồi dưỡng NVSP
37
2.2.2. Nhận thức về tính cấp thiết của các nội dung hoạt động tổ chức
bồi dưỡng RLNVSP cho giảng viên
39
2.3. Thực trạng biện pháp tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội
ngũ giảng viên trường ĐH Phương Đông Hà Nội
40
2.3.1. Thực trạng hình thức tổ chức các lớp chứng chỉ NVSP
40
3.1.2. Mục đích lựa chọn
56
3.1.3. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp
57
3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm
60
3
3.2.1. Tổ chức bồi dưỡng nhận thức về tầm quan trọng của vấn đề nâng
cao năng lực nghiệp vụ sư phạm cho các cấp quản lý nhà trường và đội
ngũ giảng viên 60
3.2.2. Xác định nội dung bồi dưỡng phù hợp với CBGD của trường
61
3.2.3. Đa dạng hóa phương pháp và hình thức bồi dưỡng
62
3.2.4. Tổ chức sự phối hợp giữa trường đại học Phương Đông và các cơ
sở đào tạo giáo viênnhằm hiện thựchoá kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ
sư phạm 63
3.2.5. Cung ứng kịp thời các điều kiện về tài chính, cơ sở vật chất, đội
ngũ giảng viên đáp ứng mục tiêu bồi dưỡng
64
3.2.6. Tạo cơ chế kích thích quá trình tự bồi dưỡng củaCBGD trường
đại học Phương Đông
Kí hiệu viết tắt
Dùng trong luận văn
ĐH
Đại học
BGD & ĐT
Bộ giáo dục và đào tạo
CBGD Can bo giao duc
BPBD
Biện pháp bồi d-ỡng
CNH-HĐH
Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá
CSVC
Cơ sở vật chất
GD ĐT
Giáo dục đào tạo
GV
Giảng viên
KĐHKT
Khối đại học kinh tế
KT-XH
Kinh tế xã hội
NVSP
Nghiệp vụ s- phạm
QL
Quản lí
QLGD
Quản lí giáo dục
SV
Sinh viên
Văn kiện Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản
Việt Nam khóa VII có ghi: “Để đảm bảo chất lượng của giáo dục và đào tạo
phải giải quyết tốt vấn đề thầy giáo.” Có nghĩa là Người thầy giáo dù dạy ở bất
cứ bậc học, ngành học nào đòi hỏi phải có trình độ, phải được đào tạo chuẩn cả
về chuyên môn và nghiệp vụ, phải có tay nghề cao, phải năng động sáng tạo,
không ngừng trau dồi và nâng cao tri thức.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 2
khóa VIII cũng đã chỉ ra: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục
và đào tạo.”
Điều 70 Luật Giáo dục đã khẳng định: “ Nhà giáo phải có những tiêu
chuẩn sau đây”:
2
+ Có phẩm chất đạo đức tốt
+ Có tư tưởng tốt
+ Đạt trình độ chuẩn, được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ ”
Đồng thời nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của đội ngũ giảng viên,
cán bộ công nhân viên của các trường đại học trong công cuộc phát triển giáo
dục của nước nhà. Trải qua hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển các trường
đại học trong cả nước đã đào tạo được một số đông đảo các nhà giáo, cán bộ
quản lí giáo dục, có phẩm chất đạo đức, có bản lĩnh chính trị, có tinh thần
trách nhiệm và tận tụy với nghề, có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ ngày
càng được nâng cao, đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, kịp thời phục vụ có hiệu quả cho sự
nghiệp giáo dục trong từng giai đoạn phát triển của đất nước. Trước yêu cầu
ngày càng cao của sự nghiệp phát triển giáo dục trong bối cảnh toàn cầu hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là khi Việt Nam đã trở thành thành viên
chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, đòi hỏi các tổ chức giáo
dục, các trường đại học trong cả nước phải phấn đấu nâng cao chất lượng đào
tạo và hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội, bằng nhiều
lượng và không ngừng được nâng cao về trình độ chuyên môn nghiệp vụ. (Số
giảng viên tại trường đại học có trình độ từ thạc sĩ trở lên chiếm 90%, đội ngũ
giảng viên có trình độ tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư ở các trường đại học chiếm
một tỉ lệ khá cao).
Tuy nhiên, một bất cập đang tồn tại hiện nay là đội ngũ giáo viên trong
các trường từ Mầm non, Tiểu học đến Trung học cơ sở, Trung học phổ thông
đều được đào tạo trong hệ thống các trường sư phạm từ Trung học sư phạm,
Cao đẳng sư phạm, Đại học sư phạm được trang bị đầy đủ kiến thức về
chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, các kĩ năng sư phạm. Còn ở các trường từ
Trung học chuyên nghiệp đến cao đẳng, đại học số giảng viên đang trực tiếp
giảng dạy không được đào tạo từ các trường sư phạm lại chiếm một tỉ lệ khá
4
cao (47,7%). Đã có một thời gian dài chúng ta đã quá coi trọng trình độ, năng
lực chuyên môn và cho rằng chỉ cần có đủ điều kiện về chuyên môn là có thể
làm tốt công tác giảng dạy. Vì vậy, có nhiều giảng viên có trình độ chuyên
môn tốt có học hàm học vị từ Thạc sĩ đến Tiến sĩ, phó giáo sư, Giáo sư, Giáo
sư Tiến sĩ khoa học, Nhà giáo ưu tú, Nhà giáo nhân dân nhưng chưa được chú
trọng về đào tạo nghiệp vụ sư phạm nên đã gặp nhiều khó khăn trong công tác
giảng dạy. (Các môn như: Giao tiếp sư phạm đại học, Lý luận giáo dục đại
học, Lý luận dạy học đại học, Tâm lý học đại học, Phương pháp nghiên cứu
khoa học giáo dục đại học, Tổ chức quản lí giáo dục đại học, Kiểm định và
Đánh giá kết quả giáo dục đại học).
Đứng trước thực trạng đó việc tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm,
cho đội ngũ giáo viên và giảng viên các trường đại học trong cả nước nói
chung và trường Đại học Phương Đông nói riêng là một trong những giải pháp
thiết thực nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy đại học của đội ngũ giảng viên
nói riêng, và chất lượng Giáo dục - Đào tạo nói chung, phấn đấu hoàn thành tốt
nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục từ nay đến 2020. Đó là lý do tôi lựa chọn đề tài:
“Biện pháp tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên
5.2. Nghiên cứu thực trạng vấn đề tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ sư
phạm của đội ngũ giảng viên trường đại học Phương Đông Hà Nội.
5.3. Đề xuất các giải pháp tổ chức tốt quá trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm
cho đội ngũ giảng viên của trường.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phối hợp các
nhóm phương pháp sau:
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp như: phân tích; tổng hợp; khái quát hoá;…
để làm sáng tỏ cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu.
6
Phương pháp nghiên cứu lý luận là thu thập những căn cứ, những thông
tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu đã có và bằng các thao
tác tư duy logic để rút ra những kết luận khoa học cần thiết.
Mục đích của việc sử dụng nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận là
nhằm tích lũy những tri thức lí luận về sự thích ứng nói chung với hoạt động
bồi dưỡng rèn luyện nghiệp vụ sư phạm nói riêng. Để từ đó xây dựng một số
khái niệm công cụ, để giải quyết nhiệm vụ một đề tài, làm cơ sở cho việc
nghiên cứu các vấn đề về thực tiễn . Bao gồm các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết: Thông qua phương pháp
này nhằm phân tích lí thuyết thành từng bộ phận, từng mặt theo thời gian, không
gian để dễ hiểu chúng một cách đầy đủ, toàn diện, nhằm phát hiện ra những xu
hướng, những trường phái nghiên cứu của từng tác giả, từ đó chọn lọc những
thông tin có ích về sự thích ứng nói chung và sự thích ứng trong bồi dưỡng
nghiệp vụ sư phạm nói riêng nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu của đề tài. Đồng
thời thông qua đó để tổng hợp lại, liên kết từng mặt của từng thông tin lí thuyết về
sự thích ứng và thích ứng về rèn luyện bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm để có một
tài liệu toàn diện, khái quát về các đối tượng cần được nghiên cứu.
- Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lí thuyết: Đây là hai phương pháp
6.2.4. Ngoài ra sử dụng các phương pháp bổ trợ khác như:
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động giáo dục;
Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia để làm sáng tỏ hơn những vấn đề
cần nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động là phương pháp phân
tích sản phẩm hoạt động (Những giờ lên lớp) của giảng viên để tìm ra những
thông tin về đối tượng nghiên cứu mà không thể nhận thức nó một cách trực
tiếp được.
Mục đích: Qua việc phân tích kết quả của công tác tổ chức bồi dưỡng
rèn luyện nghiệp vụ sư phạm trong các hoạt động lên lớp của người giảng
8
viên, trong việc giải quyết các tình huống sư phạm, qua phân tích tình hình
thực tiễn việc tích cực, chủ động tham gia vào quá trình bồi dưỡng rèn luyện
nghiệp vụ sư phạm để tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của đội ngũ giảng viên,
thái độ của họ, nhận thức của họ về tầm quan trọng, nội dung, ý nghĩa của
công tác tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm trong quá trình giảng dạy tại
trường đại học, những thuận lợi, khó khăn, nguyện vọng, ý kiến đề nghị với
Ban giám hiệu, với Bộ giáo dục và Đào tạo và các ban ngành có liên quan.
Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Là phương pháp sử dụng trí tuệ của
đội ngũ chuyên gia có trình độ cao của một số chuyên ngành, nhằm xem xét,
nhận định bản chất của sự kiện khoa học hay thực tiễn để tìm ra giải pháp tối
ưu nhất cho các sự kiện đó, hay phân tích đánh giá một sản phẩm khoa học.
Sử dụng các công thức toán học thống kê SPSS để xử lý các số liệu đã
thu được (Thông qua phiếu hỏi)
Ngoài ra trong quá trình làm thực nghiệm chúng tôi còn sử dụng
phương pháp trò chuyện để hỗ trợ cho phương pháp điều tra, phương pháp
quan sát và phân tích sản phẩm của hoạt động nghiệp vụ sư phạm, đồng thời
thông qua đó cũng để kiểm chứng lại độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu,
việc trao đổi với ban Giám hiệu của trường đại học, với đội ngũ giảng viên
không ngừng để góp phần vào sự tiến bộ của xã hội.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ “Muốn tiến
hành Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển Giáo dục - Đào
tạo, phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản của việc phát triển nhanh
chóng, bền vững”.
Nghị quyết Trung ương II, tại Đại hội lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt
Nam đã nêu rõ mục đích giáo dục của Việt Nam trong giai đoạn Công nghiệp
hóa - Hiện đại hóa hiện nay là: “Xây dựng những con người và thế hệ trẻ thiết
tha, gắn bó với lí tưởng độc lập của dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức
trong sáng, có ý chí kiên cường để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện vào
công cuộc Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước, biết giữ gìn và phát huy
truyền thống các giá trị văn hoá dân tộc, có năng lực tiếp thu và bảo tồn những
tri thức tinh hoa văn hoá nhân loại ”.
Để thực hiện tốt mục đích giáo dục mà văn kiện Đại hội Đảng đã đề ra,
Ngành Giáo dục cần nỗ lực đầu tư hơn nữa về tất cả các mặt: Nhân lực, vật
lực, tài lực, huy động mọi tiềm năng sẵn có của xã hội cùng với nội lực của đội
ngũ cán bộ, giáo viên nói chung và giảng viên trường đại học Phương Đông
nói riêng trong toàn Ngành Giáo dục.
Từ trước đến nay, nhất là kể từ khi đất nước đổi mới đến nay, đã có khá
nhiều đề tài nghiên cứu việc tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng
viên và sinh viên các trường thuộc khối sư phạm.
11
Ví dụ đề tài "Tổ chức và quản lý công tác rèn luyện nghiệp vụ sư phạm
cho giáo sinh trường THSP tỉnh Thanh Hoá" của Nguyễn Xuân Thái, Hà Nội,
l999; Đề tài “Thực trạng và các biện pháp tổ chức hoạt động rèn luyện nghiệp
vụ sư phạm cho sinh viên trường CĐSP Hải Phòng”của Hoàng Thị Lệ Khanh,
Hà Nội, 2000; Đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư
phạm cho sinh viên khoa Mầm non trường ĐHSP Hải Phòng” Tuy nhiên,
chưa có công trình, tài liệu nào nghiên cứu về việc tổ chức bồi dưỡng nghiệp
- Theo quan điểm kinh tế học, nhà kinh tế học người Mỹ - Frederic
Wiliam Taylor (1856 - 1915) cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng,
chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ
tiền nhất” [18].
Với nhà lý luận quản lý kinh tế Pháp A. Fayon (1841 - 1925) thì: “Quản
lý là đưa xí nghiệp tới đích, cố gắng sử dụng các nguồn lực (nhân, tài, vật, lực)
của nó” [17].
- Dưới góc độ điều khiển học, A.I. Beng cho rằng: Quản lý là quá trình
chuyển một hệ động lực phức tạp từ trạng thái này sang trạng thái khác nhờ sự
tác động vào các phần tử biến thiên của nó [35].
- Nhà toán học A.N. Kolmogorov cho rằng: Quản lý là quá trình gia
công thông tin thành tín hiệu điều chỉnh hoạt động của máy móc hay cơ thể
sống[35].
- Khi nói về vai trò của quản lý trong xã hội, ý kiến của Paul Hersey và
Ken Blanc Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” là: “Quản lý là một
quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý với người bị quản lý, nhằm thông qua
hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục
tiêu của tổ chức [32].
- Theo quan điểm của hệ thống thế giới quan Mác - Lê Nin cho rằng:
Toàn bộ thế giới vật chất đang tồn tại, mọi sự vật, hiện tượng là một chỉnh thể,
một hệ thống.Trong công tác điều hành xã hội thì quản lý cũng vậy, cũng là hệ
13
thống. Theo quan điểm này thì quản lý một đơn vị với tư cách là hệ thống xã
hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống, vào từng thành tố của hệ
thống bằng các phương pháp thích hợp nhằm đạt mục tiêu đặt ra trong điều
kiện biến đổi của môi trường”.
- Quan niệm về quản lý của một số nhà khoa học Việt Nam:
+ Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cho rằng: “Quản lý là một quá trình
định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những
thời khái niệm “quản lý" cũng như bất kỳ một khái niệm nào khác cũng phải
xây dựng theo những quy tắc khái niệm và không phạm phải sai lầm có thể có
khi khái niệm sẽ thuộc loại khái niệm chính xác.
Trong các quan điểm về quản lý đã nêu trên ta nhận thấy hầu như các
quan điểm đó chưa bao quát được mọi hoạt động của con người. Có định nghĩa
chưa nêu được khuynh hướng vận động của đối tượng quản lý theo mục đích
hoạt động của con người. Theo chúng tôi, chỉ có quan niệm của Nguyễn Đức
Trí về “quản lý" đầy đủ, hợp lý hơn cả:
Quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích), có tổ
chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về
tình trạng và môi trường, nhằm giữcho sự vận hành của đối tượng được ổn
định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định [35].
1.2.2. Chức năng của quản lý
a. Chức năng kế hoạch hoá
Peter Drucker, một trong những chuyên gia quản lý hàng đầu đương đại
đã đề xuất tiêu chuẩn về tính hiệu nghiệm (tức là khả năng làm những việc
"đúng") và tính hiệu quả (tức là khả năng làm đúng việc). ông cho rằng tính
hiệu nghiệm là quan trọng hơn, bởi vẫn có thể đạt được hiệu quả khi chọn sai
mục tiêu. Hai tiêu chuẩn này song hành cùng với hai khía cạnh của kế hoạch:
xác định những mục tiêu "đúng" và lựa chọn những giải pháp "đúng" để đạt
15
các mục tiêu này. Cả hai khía cạnh đó đều có ý nghĩa sống còn đối với quá
trình quản lý.
Để phản ánh bản chất của khái niệm chức năng kế hoạch hoá, chúng ta
có thể định nghĩa như sau: Chức năng kế hoạch hoá là quá trình xác định mục
tiêu và quyết định những giải pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó.
Như vậy: Thực chất của kế hoạch hoá là đưa toàn bộ những hoạt động
vào công tác kế hoạch hoá với mục đích, giải pháp rõ ràng, bước đi cụ thế và
ấn định tường minh các điều kiện cung ứng cho việc thực hiện mục tiêu.
có ý thức của hai hay nhiều người". Cuốn “Cơ sở khoa học của quản lý" đã xác
định: “Tổ chức là hoạt động hướng tới hình thành cấu trúc tối ưu của hệ thống
quản lý và phối hợp tốt nhất giữa các hệ thống lãnh đạo và bị lãnh đạo (chấp
hành)"[16].
Nhờ chức năng tổ chức mà hệ thống quản lý trở nên có hiệu quả, cho
phép các cá nhân góp phần tốt nhất vào mục tiêu chung. Tổ chức được coi là
điều kiện của quản lý, đúng như V.I. Lê-Nin đã khẳng định: “Chúng ta phải
hiểu rằng muốn quản lý tốt - còn phải biết tổ chức về mặt thực tiễn nữa". Thực
chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ bền vững giữa con người, giữa các bộ
phận trong hệ thống quản lý. Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn các động lực, tổ chức
không tốt sẽ làm triệt tiêu động lực và giảm sút hiệu quả quản lý.
c. Chức năng chỉ đạo
Chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến hành vi
và thái độ của những người khác nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra. Chỉ đạo thể
hiện quá trình ảnh hướng qua lại giữa chủ thể quản lý và mọi thành viên trong
tổ chức nhằm góp phần thực hiện hoá các mục tiêu đã đặt ra.
Chức năng chỉ đạo, xét cho cùng là sự tác động lên con người, khơi dậy
động lực của nhân tố con người trong hệ thống quản lý, thể hiện mối quan hệ
17
giữa con người với con người và quá trình giải quyết những mối quan hệ đó do
họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu.
d. Chức năng kiểm tra
Sau khi xác định các mục tiêu, quyết định những giải pháp tốt nhất để
đạt tới các mục tiêu và triển khai các chức năng tổ chức, chỉ đạo để hiện thực
hoá các mục tiêu đó cần phải tiến hành những hoạt động kiểm tra để xem xét
việc triển khai các quyết định trong thực tiễn, từ đó có những điều chỉnh cần
thiết trong các hoạt động để góp phần đạt tới mục tiêu đã xác định.
Như vậy, kiểm tra có vị trí quan trọng trong việc đổi mới công tác quản
lý như: đổi mới công tác kế hoạch hoá, công tác tổ chức, chỉ đạo cũng như đối
học. Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của
nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lý được giáo dục,
tức là cụ thể hóa đường lối của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp
ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước
Theo Nguyễn Quang Học: Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục
đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành
theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất
Kế hoạch
hoá
Chỉ đạo
Kiểm tra
Tổ chức
19
của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình
dạy học
Tóm lại: Quản lý giáo dục chứa đựng những đặc trung sau:
- Chủ thể quản lý giáo dục ở tầm vĩ mô là quản lý của nhà nước mà cơ
quan quản lý trực tiếp là Bộ Giáo dục, Sở giáo dục, Phòng giáo dục
- Chủ thể quản lý ở tầm vi mô: Là quản lý của Hiệu trưởng các trường
dưới hiệu trưởng là hiệu phó và tổ trưởng phụ trách chuyên môn.
Quản lý giáo dục có tính chất xã hội cao bởi vì luôn luôn trong nó cần
phải được tập trung giải quyết các vấn đề có tính thời sự như: Kinh tế,
Chính trị, Văn hóa, Xã hội, An ninh quốc phòng để phục vụ tốt cho công
tác giáo dục.
- Khách thể quản lý giáo dục đội ngũ giáo viên và học sinh, có thể nói
trong giáo dục và đào tạo thì đây là đối tượng khách thể quan trọng nhất nhưng
đồng thời ở một lĩnh vực nào đó đội ngũ này cũng là chủ thể quản lý trực tiếp
quản lý quá trình giáo dục. Khách thể quản lý là những con người cụ thể, trong
họ có rất nhiều mối quan hệ đan xen, phức tạp, đa dạng mà người quản lý phải
khoa học công nghệ tiến tiến của nhân loại vào công việc quản lý giáo dục
của mình.
Hệ thống quản lý giáo dục như là hệ thần kinh của con người nó điều
khiển toàn Ngành giáo dục, mỗi cán bộ quản lý là đại diện cho một tế bào của hệ
thần kinh đó. Nếu một tế bào nào đó không lành mạnh, không tích cực hoạt
động thì cả hệ thống thần kinh sẽ bị giảm sút, guồng máy hoạt động sẽ bị trì trệ.
Mỗi cán bộ quản lý ngoài việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ đã
được định sẵn trong hệ thống còn phải góp phần làm cho hệ thống đó ngày
càng hoàn thiện và phát triển .
Do vậy: yêu cầu đặt ra đối với người quản lý giáo dục là hết sức quan
trọng. Đóng vai trò then chốt và quyết định cho sự nghiệp giáo dục. Chúng ta
phải coi quản lý giáo dục cũng là một nghề cũng phải được đào tạo công phu,