i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
*****
TRẦN THỊ BÍCH HƯỜNG
THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THEO HƯỚNG BỀN
VỮNG Ở TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. PHẠM VĂN DŨNG
Hà Nội – Năm 2014
iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu
khoa học, độc lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong
luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng. TÁC GIẢ LUẬN VĂN Trần Thị Bích Hường
iv
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC iv
1.3. Kinh nghiệm của một số địa phương thực hiện thu NSNN theo hướng bền
vững 45
1.3.1. Tình hình thu NSNN theo hướng bền vững ở Bắc Ninh 45
1.3.2. Tình hình thu NSNN theo hướng bền vững ở Đà Nẵng 50
1.3.3. Bài học kinh nghiệm cho Quảng Bình 53
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 56
2.1. Phương pháp luận 56
2.2. Các phương pháp cụ thể được sử dụng để thực hiện luận văn 57
v
2.3. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 60
Chương 3 THỰC TRẠNG THU NGÂN SÁCH THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
Ở TỈNH QUẢNG BÌNH 62
3.1. Điều kiện tự nhiên và thành tựu kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Bình sau
25 năm tái lập tỉnh 62
3.1.1. Điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng 62
3.1.2. Thành tựu kinh tế - xã hội 67
3.1.3. Khó khăn, hạn chế 72
4.2. Những quan điểm chủ yếu về thu NSNN theo hướng bền vững ở tỉnh
Quảng Bình 96
4.2.1. Thu NSNN bền vững là một trong những điều kiện đảm bảo phát
triển bền vững của Quảng Bình 96
4.2.2. Tạo lập đồng bộ các điều kiện đảm bảo tính bền vững của thu ngân
sách 96
vi
4.2.3. Thu NSNN bền vững là trách nhiệm của các ngành, các cấp trong
tỉnh, trong đó ngành tài chính giữ vai trò quyết định 97
4.3. Các giải pháp đảm bảo thu NSNN theo hướng bền vững ở tỉnh Quảng
Bình 97
4.3.1. Thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế như SXKD, từ đó tạo nguồn
thu ổn định, vững chắc cho NSNN 97
4.3.2. Tăng cường quản lý thu, chống thất thu, chống gian lận thương mại
106
4.3.3. Đẩy mạnh công tác quản lý NSNN theo hướng tiết kiệm, hiệu quả, từ
đó tăng dần mức độ tự cân đối ngân sách các cấp, đảm bảo tính ổn định, bền
vững của NSNN 111
4.3.4. Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi 113
4.3.5. Xác định quy mô thu NSNN hợp lý và hoàn thiện cơ cấu nguồn thu
115
1. Danh mục các bảng
Bảng 1.1. Thu NSNN ở Bắc Ninh 46
Bảng 1.2. Thu NSNN ở Đà Nẵng 50
Bảng 3.1. Tổng thu và tỷ suất thu NSNN so với GDP của tỉnh Quảng Bình . 78
Bảng 3.2. Kết quả thu ngân sách theo nguồn hình thành tỉnh Quảng Bình 79
Bảng 3.3. Cơ cấu thu NSNN theo sắc thuế 85
Bảng 3.4. Cơ cấu thuế gián thu và thuế trực thu trong tổng thu thuế 87
Bảng 3.5. Kết quả thu ngân sách tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2009 - 2013 92
Bảng 3.6. Cân đối thu, chi ngân sách tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2009 - 2013
922. Danh mục các biểu đồ
Biểu đồ 3.1. Kết quả thực hiện nhiệm vụ thu NSNN của tỉnh Quảng Bình 75
Biểu đồ 3.2. Kết quả thực hiện nhiệm vụ thu NSNN của tỉnh Quảng Bình 79
Biểu đồ 3.3. Kết quả thu NSNN từ hoạt động SXKD của tỉnh Quảng Bình 83
Biểu đồ 3.4. Cơ cấu các khoản thu cân đối NSNN của tỉnh Quảng Bình 86
Biểu đồ 3.5. Cơ cấu các khoản thu từ thuế, phí và lệ phí 90
địa phương trong những năm tới.
Câu hỏi nghiên cứu của luận văn: Làm thế nào để thu NSNN một
cách bền vững ở Quảng Bình?
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
*Mục đích nghiên cứu:
Từ việc hệ thống hóa và xây dựng lý luận về thu NSNN theo hướng
bền vững trên địa bàn một tỉnh; phân tích để chỉ ra những ưu nhược điểm của
thu NSNN theo hướng bền vững ở Quảng Bình giai đoạn 2009 - 2013, luận
văn đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm tăng thu ngân sách theo hướng
bền vững ở địa phương trong những năm tới.
*Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn sẽ tập trung giải quyết
các nhiệm vụ:
- Xây dựng, hệ thống hóa lý luận về thu NSNN theo hướng bền vững
trên địa bàn một tỉnh.
- Nghiên cứu tình hình thu NSNN theo hướng bền vững ở một số địa
phương, rút ra kinh nghiệm cho Quảng Bình.
- Phân tích, đánh giá thực trạng thu NSNN tỉnh Quảng Bình theo hướng
bền vững, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân.
- Đưa ra các quan điểm và giải pháp pháp nhằm tăng thu ngân sách
theo hướng bền vững ở Quảng Bình trong những năm tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động thu ngân sách của tỉnh Quảng
3
Bình dưới góc độ Kinh tế chính trị. Điều đó có nghĩa là các hoạt động thu
ngân sách sẽ được nghiên cứu trong các quan hệ kinh tế - xã hội.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn khái quát công tác thu NSNN, giới
hạn việc nghiên cứu trong phạm vi thu NSNN tỉnh Quảng Bình và giới hạn
việc nghiên cứu trong phạm vi các khoản thu quy định ở khoản 1 và 2 Điều
32 Luật NSNN (Các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%; Các
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
1.1. Các công trình nghiên cứu chủ yếu
Mục tiêu quan trọng nhất của thu NSNN theo hướng bền vững là phát
triển bền vững. Đồng thời, thu NSNN bền vững là điều kiện để phát triển bền
vững. Do đó, nghiên cứu thu NSNN theo hướng bền vững cần được đặt trong
khung khổ phát triển bền vững.
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về phát triển bền vững
Trước đây, các nước công nghiệp phát triển tập trung chủ yếu vào hoạt
động sản xuất. Cách làm này cũng được nhiều nước đang phát triển áp dụng
trong những năm 50 - 60 của thế kỷ XX. Họ rất coi trọng mục tiêu gia tăng
sản lượng và tăng trưởng thông qua chỉ tiêu đánh giá về GNP và GDP. Nhìn
chung trong thời kỳ này, các nước thường lấy tiêu chuẩn về tốc độ tăng
trưởng, hiệu quả kinh tế, mức tăng thu nhập làm thước đo trình độ phát triển
của nền kinh tế.
Cho đến đầu những năm 70 của thế kỷ vừa qua, nạn nghèo đói gia tăng
ở các nước đang phát triển đã khiến những người nghiên cứu về phát triển tập
trung mọi nỗ lực vào vấn đề cải thiện phân phối thu nhập. Quan niệm về phát
triển lúc đó được chuyển hướng sang tăng trưởng gắn với bảo đảm bình đẳng
xã hội và đặc biệt là vấn đề giảm đói nghèo. Chỉ tiêu này được đánh giá là
một tiêu chuẩn quan trọng ngang bằng với tiêu chuẩn về hiệu quả kinh tế.
Nhưng vào đầu những năm 1980, khi sự xuống cấp nhanh chóng của
môi trường đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống; trở thành
6
những thách thức thật sự đối với phát triển dài hạn thì vấn đề bảo vệ môi
trường đã trở thành mục tiêu thứ ba của sự phát triển. Cũng khoảng thời gian
này, thuật ngữ “phát triển bền vững” bắt đầu xuất hiện.
Từ đó tới nay, đã có nhiều định nghĩa và khái niệm về phát triển bền
Hải và cộng sự tiến hành đã trình bày hệ thống quan điểm lý thuyết và hành
động quản lý môi trường cho phát triển bền vững. Công trình này đã xác định
phát triển bền vững qua các tiêu chí: bền vững kinh tế, bền vững môi trường,
bền vững văn hoá đã tổng quan nhiều mô hình phát triển bền vững như mô
hình 3 vòng tròn kinh kế, xã hội, môi trường giao nhau của Jacobs và Sadler
(1990), mô hình tương tác đa lĩnh vực kinh tế, chính trị, hành chính, công
nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội của WCED (1987), mô hình liên hệ thống kinh
tế, xã hội, sinh thái của Villen (1990), mô hình 3 nhóm mục tiêu kinh tế, xã
hội, môi trường của World Bank.
- “Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam” đã đưa ra nhiều vấn đề cần ưu
tiên để thực hiện phát triển bền vững, trong đó 5 lĩnh vực cần được ưu tiên để
phát triển bền vững về kinh tế, đó là: duy trì tăng trưởng nhanh và bền vững;
thay đổi mô hình sản xuất và tiêu dùng theo hướng thân thiện với môi trường;
thực hiện quá trình công nghiệp hóa sạch; phát triển nông nghiệp và nông thôn
bền vững; phát triển bền vững các vùng và địa phương.
- “Nghiên cứu xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở
Việt Nam - giai đoạn I” (2003) do Viện Môi trường và phát triển bền vững,
Hội Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam tiến hành. Trên cơ sở
tham khảo bộ tiêu chí phát triển bền vững của Brundtland và kinh nghiệm các
8
nước: Trung Quốc, Anh, Mỹ, các tác giả đã đưa ra các tiêu chí cụ thể về phát
triển bền vững đối với một quốc gia là bền vững kinh tế, bền vững xã hội và
bền vững môi trường. Đồng thời cũng đề xuất một số phương án lựa chọn bộ
tiêu chí phát triển bền vững cho Việt Nam.
- “Phát triển bền vững từ quan niệm đến hành động” (2006) là đề tài
khoa học cấp Bộ do PGS.TS. Hà Huy Thành làm chủ nhiệm, Viện nghiên cứu
Môi trường và phát triển bền vững là cơ quan chủ trì thực hiện. Đề tài đã
nghiên cứu tổng quan nội dung cơ bản và quá trình hình thành và phát triển
của khái niệm, khung khổ, chương trình hành động, chỉ tiêu phát triển bền
vững của Liên hợp quốc và các quốc gia, khu vực trên thế giới. Trên cơ sở đó,
1.1.2. Các công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn thu của NSNN
- Một số vấn đề hoàn thiện pháp luật thuế TNDN của tác giả Phan Thị
Thanh Dương - Khoa Luật Thương Mại, trường Đại học Luật TP. Hồ Chí
Minh (Đăng tải trên website http://www.hcmulaw.edu.vn). Trong đề tài, tác
giả đã tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản của Luật thuế TNDN, đi
sâu, làm rõ chi tiết từng nội dung mà Luật chưa đề cập đến, đề ra những giải
pháp hoàn thiện cho phù hợp với thực tế đòi hỏi.
- Hoàn thiện luật thuế TNDN nhóm tác giả đăng tải trên website
http://tanphu.org.vn. Bài viết đã phân tích được những ưu nhược điểm của
Thuế TNDN, đề ra các giải pháp hoàn thiện về mặt thuế suất, chi phí được
trừ, ưu đãi thuế, vấn đề chống chuyển giá.
- Luận văn thạc sỹ kinh doanh và quản lý: “Hoàn thiện quản lý thu thuế
đối với doanh nghiệp ở nước ta hiện nay” của Vũ Thị Mai (Học viện Chính
10
trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005), nghiên cứu thực trạng quản lý thu thuế ở
Việt Nam, chỉ ra những kết quả đã đạt được, hạn chế và nguyên nhân của
những hạn chế trong quá trình đổi mới từ 1990 đến nay. Từ đó, đề xuất một
số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế ở Việt Nam từ năm
2010.
- Đề tài nghiên cứu Khoa học cấp Bộ “Chiến lược cải cách hệ thống
chính sách thuế, phí giai đoạn 2011 - 2020” của TS. Vũ Văn Trường (Vụ
chính sách Thuế, 2011). Đề tài tập trung phân tích những ưu điểm và đặc biệt
là những bất cập của hệ thống chính sách thuế, phí Việt Nam trước năm 2010
và đề xuất những giải pháp nhằm đổi mới hệ thống chính sách thuế, phí cho
giai đoạn 2011 - 2020.
- Luận án tiến sĩ “Sử dụng công cụ chính sách tài chính để phát triển
nền kinh tế trong quá trình hội nhập” của tác giả Lê Công Toàn, trường Đại
học Tài chính Kế toán Hà Nội, năm 2003. Luận án bàn về chính sách tài chính
với tư cách là công cụ quản lý nền kinh tế, nhà nước có thể và cần phải sử
dụng để thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Luận án đã chỉ ra những ưu, nhược
cũng đã bàn đến hoạt động thu ngân sách. Đây là nguồn tư liệu giúp học viên
tìm hiểu và rút ra bài học kinh nghiệm cho đề tài.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này có những đóng góp đáng kể
trong việc giải quyết vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn trên nhiều phương diện
liên quan đến NSNN: từ chính sách đến hoạt động thu thuế, phí; việc nâng
cao hiệu quả và sử dụng thời kỳ NSNN Các tài liệu trên đã được học viên
tham khảo, nghiên cứu, kế thừa có chọn lọc trong luận văn.
12
1.1.4. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Trong những năm gần đây, phát triển bền vững được các nhà khoa học,
các nhà quản lý… hết sức quan tâm. Để phát triển bền vững, đất nước cũng
như mỗi địa phương phải giải quyết nhiều vấn đề, trong đó NSNN phải thật
sự trở thành công cụ hữu hiệu để thực hiện phát triển bền vững cả về kinh tế,
xã hội và môi trường. Muốn vậy, nguồn thu NSNN phải bền vững. Đây là vấn
đề chưa được nghiên cứu kỹ càng, đặc biệt trong điều kiện của một tỉnh như
Quảng Bình. Khoảng trống này được tác giả lựa chọn để nghiên cứu trong
luận văn của mình.
1.2. Cơ sở lý luận về thu NSNN theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh
1.2.1. Bản chất, đặc điểm thu NSNN theo hướng bền vững trên địa bàn
tỉnh
1.2.1.1. Ngân sách Nhà nước
NSNN gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước. NSNN
là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, bao gồm chủ yếu các khoản thu và chi
của Nhà nước dưới hình thức tiền tệ. NSNN được lập và thực hiện cho một
thời gian nhất định, thường là một năm.
Luật NSNN được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa XI, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 16/12/2002 đã xác định: NSNN là toàn
bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Thứ nhất, NSNN đảm bảo nguồn tài chính đáp ứng cho việc thực hiện
các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong từng thời gian cụ thể theo quy
định của pháp luật. Vai trò này xuất phát từ mối quan hệ giữa chủ thể quản lý
và công cụ quản lý. Chủ thể của NSNN là nhà nước. Do đó, những việc mà
chủ thể phải làm thì đương nhiên NSNN phải lo đáp ứng về nguồn tài chính.
Tuy nhiên, chỉ những nhu cầu hợp pháp thì NSNN mới có nghĩa vụ phải đáp
ứng.
Thứ hai, NSNN là công cụ tài chính quan trọng được nhà nước sử dụng
để hướng dẫn, điều tiết, kích thích cung - cầu hàng hóa dịch vụ của nền kinh
tế trong từng thời gian cụ thể. Cung - cầu hàng hóa dịch vụ được lấy như là
một thước đo quan trọng và tổng hợp để phản ánh hiệu quả phân bổ trong nền
kinh tế. Chính vì vậy, chính phủ luôn phải quan tâm để thiết lập cho quan hệ
cung - cầu này luôn có khả năng ở trạng thái cân bằng. NSNN đã trở thành
một trong những công cụ được nhà nước sử dụng cho việc thiết lập lại cân đối
cung - cầu hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân. Những biểu hiện của
vai trò này, có thể nhận diện thông qua hai mặt hoạt động thu - chi của
NSNN.
Bằng việc thiết lập hệ thống thuế với nhiều sắc thuế khác nhau theo
mức động viên và chính sách ưu tiên miễn, giảm thuế thích hợp sẽ tác động
tới việc lựa chọn các phương án SXKD của các doanh nghiệp. Thuế sẽ gây ra
các tác động đáng kể tới cung - cầu của thị trường hàng hóa, dịch vụ.
Chi NSNN cũng sẽ tác động tới cung - cầu hàng hóa, dịch vụ trên thị
trường một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Ví dụ: Việc nâng mức tiền lương tối
thiểu sẽ tác động trực tiếp tới “cầu” và tác động gián tiếp tới “cung”. Nhưng
việc nhà nước chi đầu tư cơ sở hạ tầng lại có tác động trực tiếp tới”cung” và
tác động gián tiếp tới “cầu”.
15
Thứ ba, NSNN giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính của nền
kinh tế quốc dân. Mặc dù hệ thống tài chính của nền kinh tế quốc dân của các
quốc gia khác nhau có rất nhiều điểm khác biệt; nhưng xét trên giác độ gắn
hưởng, tác động đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Xét
ở khía cạnh này rõ ràng hoạt động thu chi của NSNN là hoạt động điều chỉnh
quá trình kinh tế, xã hội.
Hoạt động của NSNN là hoạt động phân phối các nguồn tài chính, là
quá trình giải quyết quyền lợi kinh tế giữa Nhà nước và xã hội với kết quả là
các nguồn tài chính được phân chia thành hai phần: phần nộp vào NSNN và
phần để lại cho các thành viên của xã hội. Phần nộp vào NSNN sẽ tiếp tục
phân phối lại, thể hiện qua các khoản cấp phát từ ngân sách cho các mục đích
tiêu dùng và đầu tư. Trong quá trình phân phối giá trị tổng sản phẩm quốc dân
đã làm xuất hiện hệ thống các quan hệ tài chính. Hoạt động thu, chi NSNN
cũng là hoạt động tài chính và cũng làm nảy sinh các quan hệ tài chính.
Những phân tích trên đây cho thấy, mặc dù biểu hiện của NSNN rất đa
dạng và phong phú, nhưng về thực chất chúng đều phản ánh lại nội dung cơ
bản là:
- NSNN hoạt động trong lĩnh vực phân phối các nguồn tài chính và vì
vậy, nó thể hiện các mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và các chủ
thể khác trong xã hội.
- Quyền lực ngân sách thuộc về Nhà nước, mọi khoản thu và chi tài
chính của Nhà nước đều do Nhà nước quyết định và nhằm mục đích phục vụ
yêu cầu thực hiện các chức năng của Nhà nước.
17
Những nội dung trên chính là những mặt, những mối liên hệ quyết định
sự phát sinh, phát triển của NSNN. Do đó, có thể kết luận bản chất của NSNN
như sau: NSNN là hệ thống các mối quan hệ kinh tế và xã hội giữa Nhà nước
và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn
tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng quản lý và điều
hành nền kinh tế - xã hội của mình.
Phần thu thể hiện các nguồn tài chính được huy động vào NSNN; phần
chi thể hiện chính sách phân phối các nguồn tài chính đã huy động được để
thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.