Tìm hiểu thực tế và nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường tại TP. Hồ Chí Minh hiện nay - Pdf 27

Đỗ Văn Đỉnh
GIỚI THIỆU CHUNG
Trong thời đại khi mà vấn đề ô nhiễm môi trường luôn là mối quan tâm đáng chú ý
nhất của cả toàn thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng thì vấn đề về vệ sinh môi
trường cũng cần được đặt lên hàng đầu. Thành phố Hồ Chí Minh, là một vùng đất
đầy tiềm năng, đang trên đà phát triển thu hút nhiều nhà đầu tư trên khắp thế giới
cũng như doanh nghiệp nước nhà, kéo theo đó là rất nhiều nhân khẩu từ khắp đất
nước đổ về thì vấn đề môi trường càng đáng quan tâm. Với dân số đông, mật độ dân
số dày đặc thì lượng chất thải thải ra hằng ngày là một con số đáng báo động. Thêm
vào đó ý thức của người dân về vệ sinh môi trường còn kém, rác thải vẫn còn vứt
bừa bãi không đúng nơi qui định, nước thải sinh hoạt còn đổ trực tiếp ra sông, góp
phần gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe của chính mình. Trong
những con hẻm ở các đường trong thành phố chúng ta gặp không ít những đống rác
đã bốc mùi hôi thối, phân động vật và cả người, trong những hẻm đó đôi khi còn có
những quán hàng rong bán đồ ăn uống mà người ta vẫn ngồi ăn một cách rất thản
nhiên, gây mất cảnh quan đô thị, ô nhiễm không khí… và cả dịch bệnh, họ chưa
nhận ra rằng chính những hành động của mình là đang hại chính mình và đang hủy
hoại môi trường sống. Những thiết bị thu gom, xử lý rác còn thô sơ, hạn chế về mặt
kỹ thuật và quản lý nên tình trạng ô nhiễm ngày càng trầm trọng hơn. Vì thế đã có
nhiều biện pháp tích cực trong việc giải quyết vấn đề vệ sinh môi trường nhưng cũng
không đạt hiệu quả như mong muốn. Vì thế vấn đề vệ sinh môi trường tại thành phố
Hồ Chí Minh là một vấn đề cấp bách cần phải giáo dục tuyên truyền để bảo vệ sức
1 | P a g e
Đỗ Văn Đỉnh
khỏe cũng như môi trường sống của chúng ta, đưa thành phố ngày càng phát triển
trong tương lai. Để mọi người có cái nhìn chi tiết hơn thì sau đây nhóm chúng tôi
xin trình bày “hiện trạng vệ sinh môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh”.
2 | P a g e
Đỗ Văn Đỉnh
Chương 1
TỔNG QUAN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

có độ cao trung bình 5 -10m.
1.1.2 Khí Hậu, Thời Tiết
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Cũng như
các tỉnh ở Nam bộ, đặc điểm chung của khí hậu - thời tiết Thành phố Hồ Chí Minh
là nhiệt độ cao đều trong năm và có hai mùa mưa - khô rõ ràng làm tác động chi
phối môi trường cảnh quan sâu sắc. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ
tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Theo tài liệu quan trắc nhiều năm của trạm Tân Sơn
Nhất, qua các yếu tố khí tượng chủ yếu; cho thấy những đặc trưng khí hậu Thành
Phố Hồ Chí Minh như sau:
- Lượng bức xạ dồi dào, trung bình khoảng 140 Kcal/cm2/năm. Số giờ nắng trung
bình/tháng 160 - 270 giờ. Nhiệt độ không khí trung bình 27
0
C. Nhiệt độ cao tuyệt
đối 40
0
C, nhiệt độ thấp tuyệt đối 13,8
0
C. Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là
tháng 4 (28,8
0
C), tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là khoảng giữa tháng 12 và
tháng 1 (25,7
0
C). Hàng năm có tới trên 330 ngày có nhiệt độ trung bình 25 - 28
0
C.
Ðiều kiện nhiệt độ và ánh sáng thuận lợi cho sự phát triển các chủng loại cây trồng
và vật nuôi đạt năng suất sinh học cao; đồng thời đẩy nhanh quá trình phân hủy chất
hữu cơ chứa trong các chất thải, góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường đô thị.
- Lượng mưa cao, bình quân/năm 1.949 mm. Năm cao nhất 2.718 mm (1908) và

Sau 35 năm giải phóng, Sài Gòn phát triển một cách vượt bậc. Trở thành trung tâm
kinh tế, văn hóa giáo dục lớn của cả nước và có tầm ảnh hưởng trong khu vực
ASIAN. Nhưng kèm theo đó là những thách thức và khó khăn.
7 | P a g e
Đỗ Văn Đỉnh
Hình 1.3 Khu vực trung tâm thành phố
Hình 1.5 Thành phố Hồ Chí Minh về đêm
Theo tài liệu tham khảo từ các báo cáo, các bài viết tổng kết về tình hình phát triển
kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2009, ta có được các số liệu sau :
Năm 2009 là năm đầy khó khăn của thành phố Hồ Chí Minh. Khủng hoảng kinh tế
thế giới đã ảnh hưởng đến từng cơ quan, doanh nghiệp và đến tận gia đình. Những
8 | P a g e
Đỗ Văn Đỉnh
chỉ tiêu kinh tế xã hội mà thành phố đặt ra tưởng chừng khó có thể đạt được. Thế
nhưng, chính trong bối cảnh đó, cùng với cả nước, thành phố Hồ Chí Minh đã có
nhiều giải pháp đưa kinh tế từng bước vượt qua khủng hoảng. GDP đạt 7,8%, dù
chưa đạt so với chỉ tiêu đặt ra nhưng con số này vẫn cao hơn 1,5 lần so với bình
quân GDP chung của cả nước.
Chưa có năm nào sản xuất và kinh doanh lại khó khăn như năm nay. Tỷ lệ doanh
nghiệp bị phá sản tăng lên, kéo theo là số lao động mất việc làm cũng ngày càng
nhiều, giá cả lại leo thang. Thêm vào đó là xuất khẩu giảm mạnh, giá trị sản xuất
công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh trong quý I chỉ đạt 1,9%. Kinh tế Thành phố
Hồ Chí Minh trong tình trạng giảm sút nghiêm trọng với tốc độ tăng chỉ đạt 4%.
Nhiều người tiên liệu: 20 chỉ tiêu kinh tế xã hội của thành phố đề ra trong năm 2009
chắc khó mà đạt được.
Tuy nhiên, chính trong thời điểm khó khăn ấy, dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Chính
phủ, Đảng bộ, chính quyền thành phố đã cùng chung tay góp sức đề ra các giải pháp
để cùng đồng hành với doanh nghiệp vượt qua thách thức. Thành phố Hồ Chí Minh
xác định: để phục hồi sản xuất tăng trưởng kinh tế thì doanh nghiệp đóng vai trò
quan trọng, vì vậy mà hàng tháng, hàng quý, lãnh đạo thành phố đã chủ động tổ

Năm 2009 đã kết thúc, năm 2010 vẫn còn rất nhiều khó khăn từ ảnh hưởng của suy
thoái kinh tế. Tuy nhiên, với những kinh nghiệm và bài học rút ra từ việc đối phó với
cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2009, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục chủ động,
linh hoạt hơn để cùng các địa phương khác trong cả nước vượt qua giai đoạn hậu
khủng hoảng, góp phần đưa nền kinh tế nước nhà phát triển một cách bền vững.
1.3 Ô nhiễm môi trường
Hình 1.6 Kênh rạch tại thành phố bị ô nhiễm trầm trọng
Với tốc độ gia tăng dân số quá nhanh, cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, ý thức người dân
kém , Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi
trường. Cũng như Hà Nội, hiện tượng nước thải ở Thành phố Hồ Chí Minh không
được xử lý, đổ thẳng vào hệ thống sông ngòi rất phổ biến. Nhiều cơ sở sản xuất
không xử lý nước thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn cũng chưa có hệ
11 | P a g e
Đỗ Văn Đỉnh
thống xử lý nước thải. Tại cụm công nghiệp Tham Lương, nguồn nước bị nhiễm bẩn
bởi chất thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m³/ngày
[8]
.
Sông Sài Gòn, mức độ ô nhiễm vi sinh chủ yếu do hoạt động nuôi trồng thuỷ sản
gây ra vượt tiêu chuẩn cho phép đến 220 lần. Cho tới 2008, vẫn chưa có giải pháp cụ
thể nào để chấm dứt tình trạng ô nhiễm này.
Hình 1.7 Nước thải không được xử lý, đổ thẳng vào hệ thống sông ngòi
Lượng rác thải ở Thành phố Hồ Chí Minh lên tới 6.000 tấn/ngày, trong đó một phần
lượng rác thải rắn không được thu gom hết. Kết quả quan trắc năm 2007 cho thấy, so
với năm 2006, sự ô nhiễm hữu cơ tăng 2 đến 4 lần. Các phương tiện giao thông, hoạt
động xây dựng, sản xuất còn góp phần gây ô nhiễm không khí. Khu vực ngoại
thành, đất cũng bị ô nhiễm do tồn đọng thuốc bảo vệ thực vật từ sản xuất nông
nghiệp gây nên.
12 | P a g e
Đỗ Văn Đỉnh

2.1.1 Rác thải tại thành phố
Năm 2002, lượng rác thải tại Thành phố Hồ Chí Minh chỉ là 1,5 triệu tấn. Nhưng
một năm sau, lượng rác thải tại Thành phố Hồ Chí Minh đã lên đến 1,7 triệu tấn. Và
năm 2006, lượng rác thải tại Thành phố Hồ Chí Minh đã ở mức 1,9 triệu tấn/ năm.
Số liệu thống kê về hiện trạng môi trường quốc gia cho biết, mỗi năm Việt Nam “sản
xuất” khoảng 16 triệu tấn chất thải rắn và năm sau cao hơn năm trước từ 10% - 16%.
So sánh với các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng thì Thành phố Hồ Chí
Minh là địa phương tiên phong trong cả nước về vấn đề này, với lượng chất thải
khoảng 6.800 tấn/ngày. Chưa hết, số lượng chất thải công nghiệp của Thành phố Hồ
15 | P a g e
Đỗ Văn Đỉnh
Chí Minh chiếm đến 50% số lượng chất thải cả nước (khoảng 1 triệu tấn) (Người lao
động 7/2007).

Hình 2.1 Vứt rác thải vô tội vạ Hình 2.2 Những xe rác bốc mùi trên các
vỉa hè
Các nguồn chủ yếu phát sinh ra rác đô thị bao gồm :
- Từ các khu dân cư (rác sinh hoạt).
- Từ các trung tâm thương mại.
- Từ các công sở, trường học, công trình công cộng.
- Từ các hoạt động công nghiệp.
- Từ các hoạt động xây dựng đô thị.
- Từ các trạm xử lý nước thải và từ các đường ống thoát nước của thành phố.
( Intergrated Solid waste management)
Hiện nay, khoảng 80% trong số 2,6 triệu tấn chất thải công nghiệp phát sinh mỗi
năm là từ các trung tâm công nghiệp lớn ở miền Bắc và miền Nam. Trong đó, 50%
lượng chất thải công nghiệp của Việt Nam phát sinh ở Thành phố Hồ Chí Minh và
16 | P a g e
Đỗ Văn Đỉnh
các tỉnh lân cận, 30% còn lại phát sinh ở vùng Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung

nhiều hộ dân sống xung quanh khu vực gần bãi rác Gò Cát (Tân Phú, Tân Bình) đều
kêu ca về mùi hôi và nước rỉ rác từ bãi chôn lấp này lan tỏa. Công ty Môi trường Đô
thị Thành phố Hồ Chí Minh, đơn vị quản lý bãi rác Gò Cát, cho rằng nguyên nhân
của “những sự cố” về mùi, nước rỉ rác là do: bãi rác đã quá tải. Theo thiết kế, bãi
rác Gò Cát với diện tích 25 ha, chỉ tiếp nhận khoảng 3,65 triệu tấn rác nhưng đến
nay nó đã ôm trọn gần 6 triệu tấn rác. Công suất tiếp nhận của bãi rác Gò Cát chỉ
2.000 tấn/ngày, tuy nhiên những lúc cao điểm, bãi rác này phải tiếp nhận đến 5.000
tấn rác/ngày, vượt công suất cho phép đến 3.000 tấn/ngày. Cuối tháng 7-2007, bãi
rác Gò Cát đóng cửa, bãi rác Đa Phước và Phước Hiệp hiện đang tiếp nối nhiệm vụ.
Tuy nhiên, với thực trạng rác thải như hiện nay, ngay cả Công ty Môi trường Đô thị
18 | P a g e
Đỗ Văn Đỉnh
thành phố cũng không dám khẳng định hai bãi rác mới sẽ làm tròn nhiệm vụ của
mình. (Nguồn "Người lao động 7/2007")
Hình 2.3 Đỉnh rác cao như thế này là nguyên nhân phát tán mùi hồi ra các khu vực
lân cận.
- Bãi chôn lấp Phước Hiệp số 1 ( tại xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi)
Bãi chôn lấp Phước Hiệp 1 đang xảy ra sự cố lún trượt trên phạm vi rộng, vị trí các
trụ điện đang bị dịch chuyển, mương thoát nước mưa bị biến dạng nên khả năng tiếp
nhận rác chỉ đạt công suất 1.000 tấn/ngày (theo thiết kế tiếp nhận 3.000 tấn/ngày).,
nước rỉ rác chưa xử lý tại bãi rác Phước Hiệp thải ra kênh Thầy Cai không những
gây ô nhiễm môi trường mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe người dân chung
quanh.Mỗi ngày lượng nước rỉ từ bãi rác Phước Hiệp lên tới hơn 2.000m
3
, trong khi
đó chỉ có 2 nhà máy xử lý nước rỉ rác, với công suất 1.200m
3
/ngày.
Ngoài ra, cứ khoảng 12h trưa đến 16h chiều mỗi ngày, từng đoàn xe chở rác nỗi đuôi
nhau thành từng đoàn làm rỉ nước rác xuống mặt đường bốc lên mùi hôi làm ảnh

21 | P a g e
Đỗ Văn Đỉnh
Hiện nay, khu mới xử lý được 280 m
3
/ngày so với yêu cầu là 800m3/ngày. Như vậy,
trung bình mỗi tháng còn gần 20.000 m
3
nước rỉ rác chưa được xử lý và trong hai
năm qua lượng nước rỉ từ rác thải đã lên con số quá lớn. Và dù đã nhận được khoản
chi phí khá lớn cho việc xử lý rác nhưng đến nay, sau 2 năm đi vào hoạt động, khu
Đa Phước vẫn chưa hoàn thiện 10 hạng mục quan trọng như nhà máy xử lý nước rỉ
rác công suất 1.200 m
3
nước/ngày, nhà máy tái chế nhựa, nhà máy làm phân
compost, sàn trung chuyển rác
Thực tế, bãi chôn lấp Đa Phước đang lập lại hiện trạng của các bãi chôn lấp trước đây là gây ô nhiễm môi
trường do nước rỉ rác và công nghệ xử lý chưa triệt để. Không chỉ “phát tán” mùi hôi nồng nặc, bãi rác còn
là là nơi sinh sôi nảy nở của rất nhiều ấu trùng ruồi, gây phát sinh dịch ruồi ở huyện Bình Chánh, gây ô
nhiễm nguồn nước và có thể nguy hại đến cả khu vực quanh vùng như Nhà Bè và Cần Giuộc (Long An) Tỉ
lệ người dân mắc bệnh về hô hấp vì thế mà ngày càng gia tăng, nhất là trẻ dưới 10 tuổi.
2.1.3 Quản lý rác thải
Sở Tài nguyên-Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, trên địa bàn thành phố
hiện có gần 10 nhà máy tái chế rác sinh hoạt đang được xây dựng, trong đó có một
số nhà máy đang được khẩn trương hoàn thành và đi vào hoạt động ngay trong năm
2010.
Các nhà máy này bao gồm nhà máy chế biến phân compost công suất 500 tấn/ngày
của Công ty xử lý chất thải rắn Việt Nam, nhà máy chế biến phân compost của Công
22 | P a g e
Đỗ Văn Đỉnh
ty Vietstar có công suất giai đoạn 1 là 600 tấn/ngày đã vận hành thử và sẽ chính thức

chưa mang lại hiệu quả thiết thực vì khi người dân thực hiện xong việc phân loại thì
24 | P a g e
Đỗ Văn Đỉnh
công tác thu gom rác lại nhập chung. Sau đó, rác đem về bãi chỉ chôn lấp chứ chưa
có nhà máy chế biến rác, gây lãng phí công sức của người dân và tiền của Nhà nuớc
rất lớn.
Vì vậy, cách đây gần 10 năm, thành phố đã có nhiều chính sách ưu đãi về đất đai,
thuế, đầu tư… và thu phí xử lý rác khá cao nhằm kêu gọi các nhà doanh nghiệp
trong và ngoài nước tham gia đầu tư vào các dự án xây dựng các công trình xử lý rác
thải, xây dựng nhà máy tái chế rác thải thành phân compost, khí gas sản xuất
điện để hạn chế việc phải chôn lấp rác thải như hiện nay và biến rác thành tiền.
Hình 2.7 Một góc khu xử lý chất
thải rắn ở bãi chôn lấp Đa Phước
Kết quả, đã có nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đã mạnh dạn bỏ vốn đầu tư vào
xử lý và tái chế rác thải của thành phố như Công ty xử lý chất thải rắn Việt Nam
(VWS), một doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã đầu tư trên 90 triệu USD xây
dựng khu xử lý rác tại xã Đa Phước huyện Bình Chánh có quy mô 128ha và xây
dựng nhà máy chế biến rác thải thành phân compost.
25 | P a g e

Trích đoạn Môi trường không khí ở Thành phố Hồ Chí Minh a Ô nhiễm do hoạt động giao thông nhiễm do công nghiệp Đầu tư cho vệ sinh môi trường còn thấp Trách nhiệm của chính quyền đô thị Sự phát triển kinh tế xã hộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status