luận văn quản trị kinh doanh Hoạt động kinh doanh nhập khẩu của Công ty VILEXIM thực trạng và giải pháp - Pdf 27

LỜI CAM ĐOAN
Trong quá trình làm chuyên đề thực tập này em có tham khảo một số tài
liệu, luận văn tốt nghiệp và sách báo, tạp chí có liên quan nhưng em xin cam
kết, đây là tài liệu do tự bản thân nghiên cứu, không hề có sự sao chép từ bất
cứ tài liệu nào. Nếu sai em xin chịu trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật
của nhà trường.
Chữ kí của sinh viên
1
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Công ty
Bảng 2: Cơ cấu chất lượng lao động của Công ty VILEXIM
Bảng 3 : Cơ cấu doanh thu của Công ty theo lĩnh vực hoạt động.
Bảng 4: Trị giá kim ngạch xuất nhập khẩu của Công ty VILEXIM
Bảng 5: Tỷ trọng kim ngạch XNK của Công ty VILEXIM năm 2008-2009
Bảng 6: Phí nhập khẩu uỷ thác qua VILEXIM:
Bảng 7: Báo cáo kim ngạch nhập khẩu qua các năm
Bảng 8: Biểu đồ thể hiện sự biến động trong kim ngạch nhập khẩu
Bảng 9: Bảng kết quả kinh doanh nhập khẩu hàng hóa của Công ty thời kì từ
năm 2005-2009
Bảng 10: Tỉ trọng kim ngạch nhập khẩu theo phương thức nhập khẩu
Bảng 11: Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu
Bảng 12: Biểu đồ thể hiện sự biến động của kim ngạch nhập khẩu theo cơ cấu
mặt hàng
Bảng 13: Cơ cấu kim ngạch nhập khẩu theo thị trường
Bảng 14: Phân bổ chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh năm 2010 của Công ty
VILEXIM
2
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CH NG I: KHÁI QUÁT V CÔNG TY VILEXIMƯƠ Ề 6
Các b ph nộ ậ 15

nước, uy tín cũng như danh tiếng của Công ty không ngừng được nâng cao.
Bản thân hiện đang là sinh viên năm thứ 4 khoa Thương Mại và Kinh tế
Quốc Tế của trường đại học Kinh tế Quốc Dân, may mắn được thực tập cuối
khóa tại Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu 3 của Công ty VILEXIM, em đã
có cơ hội để được học hỏi thêm thực tế cũng như kinh nghiệm của các cơ,
chú, anh, chị trong phòng cũng như toàn Công ty. Công việc chủ yếu của
phòng là thực hiện những hợp đồng nhập khẩu.Với những công việc đã được
tiếp cận và học hỏi trong suốt quá trình thực tập, em quyết định chọn đề tài
của chuyên đề thực tập cuối kì là:
“Hoạt động kinh doanh nhập khẩu của Công ty VILEXIM: thực trạng
và giải pháp”
Bản chuyên đề thực tập được chia làm 3 phần:
I- Khái quát về Công ty VILEXIM
II-Thực trạng hoạt động kinh doanh nhập khẩu hàng hóa tại Công ty
VILEXIM
III- Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu tại
Công ty Vilexim
Do thời gian thực tập ngắn và kiến thức còn hạn chế nên bản chuyên đề
báo cáo thực tập không thể tránh khỏi sai sót, em mong muốn nhận được sự
đóng góp ý kiên của các thầy cô để em có thể hoàn thiện bản chuyên đề hơn
nữa.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo TS
Nguyễn Việt Cường đã giúp em hoàn thành bản chuyên đề này. Em cũng xin
cảm ơn các cơ, chú, anh, chị tại Công ty VILEXIM và Phòng kinh doanh 3 đã
4
tạo điều kiện tốt nhất cho em trong thời gian thực tập tại Công ty.
5
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY VILEXIM
1. Tên gọi, trụ sở, nguồn vốn của Công ty
a. Tên gọi.

nhuận của Công ty.
2. Lịch sử hình thành và phát triển
Quá trình hình thành và phát triển của Công ty có thể chia thành 2 giai
đoạn chính:
- Giai đoạn 1: từ năm 1986- 1993
Công ty cổ phần xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư VILEXIM là một
doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu đa ngành, đa chức năng, đa lĩnh vực
của bộ công thương, có tiền thân là Công ty xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư
VILEXIM được thành lập năm 1986. Ban đầu chức năng của Công ty là thực
hiện các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu với nước cộng hồ dân chủ
nhân dân Lào.
- Giai đoạn 2: từ năm 1993 đến nay
Năm 1993, Bộ thương mại ( nay là Bộ công thương) đã ra quyết định số
332 TM.TCCB ngày 31.3.1993 thành lập Doanh nghiệp nhà nước Công ty
xuất nhập khẩu với Lào. Do quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà
nước nên Công ty xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư được chuyển sang hình
thức Công ty cổ phần theo quyết định số 1188.QĐ – BTM ngày 23 tháng 8
năm 2004. Công ty chính thức đi vào hoạt động dưới hình thức Công ty cổ
phần từ ngày 1.1 năm 2005. Tuy nhiên, Công ty mới chỉ tiến hành cổ phần
hoá một phần trong đó nhà nước vẫn nắm giữ 51% cổ phần.
Từ năm 1993 đến nay theo xu thế của cơ chế thị trường và sự đổi mới của
đất nước, để có thể thích ứng và phát triển vươn lên đòi hỏi Công ty phải có
những thay đổi trong chiến lược xuất nhập khẩu, kinh doanh và thị trường. Do
vậy Bộ Công Thương ( khi đó là Bộ Thương Mại) đã có những điều chỉnh để
7
Cơng ty không chỉ thực hiện kinh doanh xuất nhập khẩu với Lào mà còn được
phép tiến hành kinh doanh xuất nhập khẩu với tất cả các nước trên thế giới và
cả thị trường trong nước,góp phần vào sự phát triển nói chung của nền kinh tế
nước ta.
3.Bộ máy tổ chức và chức năng nhiệm vụ của Công ty

nghệ
Phòng
thủ
công

nghệ
Phòg
du
lịch
Phòg
du
lịch
Phòng
XNK
1
Phòng
XNK
1
Phòn
g
XNK
2
Phòn
g
XNK
2
Phòng
XNK
3
Phòng

Giám đốc: Do Bộ trưởng Bộ Thương mại trực tiếp bổ nhiệm, Giám đốc
trực tiếp điều hành Công ty theo chế độ một thủ trưởng và có toàn quyền
quyết định mọi hoạt động của Công ty. Giám đốc là người chịu trách nhiệm
trước Nhà nước và Bộ Thương mại về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công ty, đảm bảo phổ biến và thi hành các chính sách pháp luật của Nhà
nước. Giám đốc cũng là đại diện cho toàn thể cản bộ công nhân viên trong
Công ty.
Hai Phó giám đốc: dưới giám đốc là 2 Phó giám đốc. Các phó giám đốc
do giám đốc đề nghị và được Bộ Thương mại bổ nhiệm. Phó giám đốc Công
ty làm tham mưu cho giám đốc trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong đó có một phó giám đốc thường trực thay mặt giám đốc giám sát, chỉ
đạo các bộ phận chức năng trong hoạt động sản xuất kinh doanh tại trụ sở
chính, báo cáo lên giám đốc.
Phó giám đốc thứ 2 thay mặt giám đốc chỉ đạo và điều hành hoạt động
kinh doanh cho các chi nhánh và đơn vị trực thuộc. Là người chịu trách nhiệm
trước giám đốc về hoạt động kinh daonh, chịu trách nhiệm trong việc thi hành
các chế độ chính sách Nhà nước rồi báo cáo lên giám đốc.
Dưới Giám đốc và Phó giám đốc là các phòng ban, văn phòng đại diện chi
nhánh trực thuộc cụ thể:
Phòng kế toán hành chính :
9
Xây dựng và hoàn thiện các quy chế về quản trị nhân sự - lao động tiền
lương. Phối hợp cùng các phòng chức năng theo dõi diễn biến tiền lương thu
nhập, tránh để vượt chi quỹ lương. Tổng hợp các báo cáo kết quả đánh gía thi
đua của các đơn vị trình hội đồng thi đua xem xét. Tham mưu cho giám đốc
trong việc tổ chức thực hiện quy chế.Thực hiện công tác hành chính văn thư
lưu trữ đảm bảo để bộ máy hoạt động có hiệu quả.
Phòng Kế toán- Tài vụ: phụ trách hoạt động tài chính, xây dựng kế hoạch
tài chính hàng năm, dài hạn và đề xuất các biện pháp điều hòa vốn, trích lập
các quỹ. Có nhiệm vụ làm công tác theo dõi nghiệp vụ liên quan đến công tác

doanh lớn của Bộ Công thương, hiện nay, Công ty đã mở rộng hoạt động kinh
doanh xuất nhập khẩu với nhiều nước: Singapore, Malaysia, Nhật Bản, Hàn
Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Nga, EU, và một số nước Châu
Phi, Trung Đông và Mỹ La Tinh Các chức năng chính của Công ty:
-Kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp, xuất nhập khẩu uỷ thác các mặt
hàng nông lâm sản, hoá chất dược liệu (trừ hoá chất nhà nước cấm), bông vải
sợi, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ.
-Xuất khẩu lao động, đào tạo ngoại ngữ, giáo dục định hướng và nghề
nghiệp cho lao động đi làm việc tại nước ngoài;
- Liên doanh liên kết hợp tác sản xuất với các tổ chức kinh tế thuộc các
thành phần kinh tế trong và ngoài nước.
3.2.2 Nhiệm vụ của Công ty
Các nhiệm vụ chủ yếu của Công ty VILEXIM là:
- Đẩy mạnh và phát triển quan hệ thương mại, hợp tác đầu tư thông qua
hoạt động xuất nhập khẩu và các hoạt động khác có liên quan đến kinh tế đối
ngoại với các tổ chức kinh tế Việt Nam và nước ngoài.
- Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh doanh của Công ty
11
theo quy chế hiện hành để thực hiện mục đích và nội dung hoạt động của
Công ty. Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằm thực hiện tốt
các nhiệm vụ kinh doanh của Công ty.
- Tuân thủ các chính sách, chế độ, pháp luật của Nhà nước và quản lý
kinh tế tài chính, quản lý xuất nhập khẩu và trong giao dịch đối ngoại thực
hiện nghiêm chỉnh các cam kết hợp đồng kinh tế mà Công ty đã ký.
- Trực tiếp xuất nhập khẩu hàng hóa giữa nước ta với Lào và các nước
khác, xuất khẩu trực tiếp những sản phẩm do Công ty liên doanh sản xuất,
nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ cho liên doanh sản xuất của Công ty.
- Nhận ủy thác xuất nhập khẩu và nhận làm các dịch vụ thuộc phạm vi
kinh doanh của Công ty theo yêu cầu của khách hàng trong và ngoài nước.
- Nghiên cứu và thực hiện có hiệu quả việc nâng cao chất lượng của hàng

• Nhập khẩu hàng hóa
Hoạt động nhập khẩu hàng hóa là một trong những lĩnh vực quan trọng
của Công ty, đóng góp phần lớn vào sự gia tăng doanh thu và phát triển của
Công ty trong những năm qua. Đây là kết quả của việc Công ty luôn chú
trọng đến lĩnh vực nhập khẩu trang thiết bị, máy móc, nguyên nhiên liệu phục
vụ cho sản xuất. Các mặt hàng nhập khẩu truyền thống là thế mạnh của
VILEXIM gồm: các loại sắt thép, đồng, nhôm, kẽm thỏi, hạt nhựa, vòng bi,
các nguyên nhiên liệu phục vụ sản xuất trong nước và các mặt hàng tiêu dùng
thiết yếu khác. Năm 2007 kim ngạch nhập khẩu của Công ty đạt 57,638 triệu
USD, tăng 128% so với năm 2006 và vượt 142% kế hoạch Bộ giao.
• Xuất khẩu lao động
Xuất khẩu lao động, đào tạo lao động để xuất khẩu cũng là thế mạnh của
VILEXIM. Đến nay, Công ty đã xây dựng được năm cơ sở đào tạo, giáo dục
định hướng, dạy nghề và dạy tiếng nước ngoài. Với đội ngũ giáo viên chuyên
nghiệp, nhiệt tình, giàu kinh nghiệm, Trung tâm xuất khẩu lao động
VILEXIM đã tiến hành đào tạo được hàng ngàn lao động có tay nghề cao, đáp
13
ứng được sự đòi hỏi cao của các thị trường lao động nước ngoài. Những công
nhân Việt Nam do VILEXIM đào tạo và đưa đi làm việc ở nước ngoài thường
có trình độ cao, chính vì vậy mà tỷ lệ vi phạm hợp đồng lao động của công
nhân rất thấp. Hiện Công ty đã chiếm lĩnh việc xuất khẩu lao động sang làm
việc tại nhiều thị trường như Malaysia, Đài Loan, Macao, khu vực Trung
Đông, Nhật Bản và Algeria,… Đó cũng chính là một trong những điều mang
lại uy tín và danh tiếng cho VILEXIM.
• Đầu tư liên doanh
Về hoạt động đầu tư, Công ty đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng xây dựng cơ sở
vật chất và sản xuất hàng hoá trong nước. Đặc biệt Công ty đã mở rộng
hướng liên doanh hợp tác ra nước ngoài với hai dự án ban đầu : nhà máy sản
xuất thép tại Lào và Liên doanh sản xuất bánh kẹo thực phẩm tại Ghana. Ở
nhà máy sản xuất thép tại Lào, trải qua nhiều thăng trầm trong hoạt động sản

37
3
8
20
2
5
5
25
100
80
80
40
100
100
67
2
5
3
12
20
20
60
33
8
10
32
27
8
12
5

viên này sẽ còn có thể đóng góp công sức cho Công ty trong một thời gian
dài. 25,6% còn lại là những nhân viên đã có thâm niên công tác lâu năm, tích
lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu, là một đội ngũ viên nòng cốt và rất
quan trọng trong việc đưa ra những tư vấn, phân tích quan trọng đối với hoạt
động kinh doanh và giúp đỡ đào tạo lớp nhân viên trẻ kế cận.
CHƯƠNG II
15
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHẬP KHẨU
HÀNG HÓA TẠI CÔNG TY VILEXIM
1. Vai trò hoạt động kinh doanh nhập khẩu trong tòan bộ hoạt động
sản xuất kinh doanh của Công ty
Như đã đề cập, công ty VILEXIM thực hiện kinh doanh chủ yếu trên
bốn lĩnh vực:
• Kinh doanh xuất khẩu hàng hóa
• Kinh doanh nhập khẩu hàng hóa
• Xuất khẩu lao động
• Đầu tư liên doanh
Bảng 3 : Cơ cấu doanh thu của Công ty theo lĩnh vực hoạt động.
Lĩnh vực hoạt động
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Doanh thu
(Tỷ VNĐ)
Tỷ
trọng
Doanh thu
(Tỷ VNĐ)
Tỷ
trọng
Doanh thu
( Tỷ VNĐ)

so sánh với hoạt động xuất khẩu, ta có thể nhìn vào số liệu sau:
Bảng 4: Trị giá kim ngạch xuất nhập khẩu của Công ty VILEXIM
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Trị giá
( 1000 USD)
Trị giá
( 1000 USD)
Trị giá
( 1000 USD)
Trị giá
( 1000 USD)
Kim ngạch XK 21,606 20,322 17,527 8,025
Kim ngạch NK 45,913 57,649 56,141 31,441
Tổng 67,519 77,971 73,668 39,466
Nguồn: báo cáo nội bộ phòng xuất nhập khẩu
Có thể thấy rằng hoạt động nhập khẩu của Công ty chiếm một vị trí rất
quan trọng trong hoạt động của Công ty. Trị giá kim ngạch nhập khẩu năm
2006 chỉ mới gấp đôi trị giá kim ngạch xuất khẩu thì đến năm 2008 con số
này đã tăng lên là 3 lần và đến năm 2009 là xấp xỉ 4 lần. Từ bảng số liệu này,
ta có thể vẽ được biểu đồ thể hiện rõ về tương quan tỷ trọng giữa kim ngạch
xuất khẩu và nhập khẩu của Công ty như sau:
Bảng 5: Tỷ trọng kim ngạch XNK của Công ty VILEXIM năm 2008-2009
17

Nguồn: báo cáo kết quả kinh doanh nội bộ phòng kinh doanh xuất nhập khẩu.
Biểu đồ trên cho ta thấy tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu luôn chiếm tỷ lệ
áp đảo so với kim ngạch xuất khẩu. Cụ thể năm 2008 kim ngạch nhập khẩu
chiếm tới 74,44% trong khi tỷ lệ này đối với kim ngạch nhập khẩu là 25,56%.
Sang năm 2009, tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu tiếp tục tăng với 79,67% trong
khi kim ngạch xuất khẩu giảm xuống còn 20,33%. Điều này càng thể hiện rõ

kinh doanh xuất nhập khẩu. VILEXIM là một đơn vị đóng vai trị thực hiện
các hoạt động dịch vụ xuất nhập khẩu. Trong đó mảng kinh doanh nhập khẩu
là mảng chính trong hoạt động của Công ty. Hình thức kinh doanh mà doanh
nghiệp thực hiện chủ yếu là nhập khẩu uỷ thác ( chiếm tới 85% tỉ trọng kim
ngạch nhập khẩu của Công ty) và nhận đơn hàng từ khách hàng nội là bước
đầu tiên trong nghiệp vụ nhập khẩu ủy thác. Công ty trong nước đặt hàng với
VILEXIM và thỏa thuận về các điều khoản cần thiết để VILEXIM nhập khẩu
cho họ mặt hàng nào đó.
Trong đơn đặt hàng, người uỷ thác nêu cụ thể về hàng hoá định nhập khẩu
và tất cả những nội dung cần thiết cho việc ký kết hợp đồng uỷ thác. Nội dung
đơn đặt hàng thường bao gồm tên và địa chỉ đơn vị đặt hàng , số hiệu tài
khoản và ngân hàng giao dịch, số và ngày tháng lập đơn đặt hàng, tên hàng,
quy cách phẩm chất, mục đích sử dụng, số lượng, ước giá, thời hạn và địa
điểm hàng về Việt Nam. Dựa trên đơn đặt hàng, VILEXIM ký kết hợp đồng
19
kinh tế với đơn vị đặt hàng, lập đơn hàng ngoại và ký kết hợp đồng với nước
ngoài. Bởi vậy, đơn đặt hàng là một tài liệu có giá trị pháp lý cho hoạt động
nghiệp vụ xuất nhập khẩu. Đồng thời đơn đặt hàng phải đầy đủ thủ tục quy
định cho việc lập đơn hàng. Đối với hoạt động uỷ thác nhập khẩu thì phải
kèm theo chứng nhận của Ngân hàng về việc đơn vị đặt hàng có vốn ngoại tệ.
2.1.2. Ký kết hợp đồng uỷ thác :
Trong hợp đồng uỷ thác bên nhận uỷ thác phải ký kết và thực hiện hợp
đồng nhập khẩu với danh nghĩa của mình nhưng bằng chi phí của bên uỷ thác.
Hợp đồng uỷ thác nhập khẩu mà Công ty ký kết với khách hàng nội thường
có các điều khoản sau:
-Điều khoản về hàng hoá: gồm có tên hàng, số lượng, trị giá, xuất xứ, mô
tả hàng hoá.
-Điều khoản giao hàng: quy định thời gian và địa điểm giao nhận là thời
gian hàng về tới kho của bên nhận uỷ thác hoặc do bên uỷ thác chỉ định. Sở dĩ
có quy định như vậy là vì bên uỷ thác nhập khẩu thường uỷ thác luôn cho

ty thu được để quyết định có thực hiện phương án hay không.
Một phương án kinh doanh bao gồm nhiều nội dung , trong đó có thể chia
hai phần chính : những thông tin liên quan đến phương án và nội dung chính
của phương án.
• Phần thông tin đến phương án gồm: số phương án (được đánh số theo
số thứ tự các phương án thực hiện trong một năm ), tân khách hàng nội, tên
hàng , thị trường, số lượng , trị giá ngoại tệ (ngoại tệ mà khách hàng phải bỏ
ra để nhập khẩu lô hàng).
• Phần nội dung chính bao gồm các chi phí phải bỏ ra để thực hiện việc
nhập khẩu uỷ thác cho lô hàng để cuối cùng đưa ra giá khách hàng thanh toán,
nó gồm có một số nội dung cụ thể như sau :
-Trị giá vốn hàng nhập: là trị giá của lô hàng nhập khẩu, chính là tổng trị
21
giá được ghi trong hợp đồng ngoại (tức là hợp đồng mua bán mà Công ty sẽ
ký với khách hàng ngoại theo những điều kiện mà khách hàng nội – bên uỷ
thác yêu cầu). Trị giá này thường được tính bằng cách nhân trị giá ngoại tệ
với tỉ giá tạm tính liên ngân hàng vào thời gian lên phương án.
-Các khoản chi phí trong quá trình thực hiện nhập khẩu lô hàng: chi phí bốc
xếp tại kho cảng, chi phí giám định Hải quan, chi phí bảo hiểm, cước phí vận
chuyển, chi phí bảo quản lưu kho, thủ tục phí, điện phí ngân hàng.
Thuế nhập khẩu: bằng trị giá lô hàng theo đơn vị ngoại tệ nhân với thuế suất
( nếu là mặt hàng thuế tính theo thuế suất hoặc có thể cộng thêm cả một khoản
thuế cố định nếu là mặt hàng được tính theo thuế cố định cho cả lô hàng).
Thuế VAT đầu vào (đây chính là VAT nộp lần 1) = (trị giá vốn hàng nhập
+ thuế nhập khẩu) x Thuế suất thuế VAT đối với mặt hàng nhập khẩu.
Phí nộp Công ty = trị giá vốn hàng nhập x Mức phí (được tính theo %)
Giá bán chưa thuế VAT = Trị giá vốn hàng nhập + Các khoản chi phí
trong quá trình thực hiện lô hàng + Thuế nhập khẩu + phí nộp Công ty.
Thuế VAT đầu ra ( là tổng thuế phải nộp) = Thuế VAT lần 1 + Thuế VAT lần
2

nhập CIF và Công ty không có nghĩa vụ phải mua bảo hiểm. Hàng hoá nhập
khẩu thường được vận chuyển bằng đường biển.
2.1.5. Mở L/C:
Hầu hết các hợp đồng yêu cầu thanh toán bằng L/C, các loại thanh toán
khác như TTR hay D/P tuy có thể dựng với các khách hàng truyền thống,
đáng tin cậy song cũng ít phổ biến.
Ngay sau khi hợp đồng ngoại được ký kết, bên uỷ thác sẽ nộp ngay cho
VILEXIM một khoản tiền trị giá 10% giá trị hợp đồng để bên nhận uỷ thác
mở L/C. Thời gian mở L/C nếu hợp đồng ngoại (hợp đồng với đối tác nước
ngoài) không có quy định gì, thụng thường L/C được mở khoảng 20-25 ngày
trước khi đến thời hạn giao hàng (nếu khách hàng ở Châu Âu). Nếu không có
thoả thuận gì khác thời gian hiệu lực của L/C là 21 ngày sau ngày giao hàng.
Nếu quá thời hạn đó mà bên bán không gửi đủ bộ chứng từ thanh toán thì L/C
coi như không còn hiệu lực.
Căn cứ để mở L/C là các điều khoản của hợp đồng nhập khẩu mà
23
VILEXIM đã ký kết với khách hàng ngoại. Khi mở L/C VILEXIM dựa vào
mỗi căn cứ này để điền vào một mẫu gọi là “Đơn xin mở thư tín dụng”. Mỗi
ngân hàng khác nhau có mẫu xin mở thư tín dụng khác nhau về hình thức dự
nội dung vẫn gồm đầy đủ các thông tin cần thiết. Đơn xin mở thư tín dụng
được nộp cho ngân hàng kèm theo bản sao hợp đồng ngoại, bản sao hợp đồng
nội kèm theo hai uỷ nhiệm chi : một uỷ nhiệm chi để ký quỹ theo quy định về
việc mở L/C ( thường là 10% trị giá hợp đồng ngoại ) và uỷ nhiệm chi thứ hai
để trả thủ tục phí cho ngân hàng về việc mở L/C.
Khi bộ chứng từ gốc từ nước ngoài về ngân hàng phát hành thư tín dụng,
VILEXIM phải xem xét và kiểm tra chứng từ, nếu chứng từ hợp lệ , chấp
nhận thanh toán cho ngân hàng thì mới được nhận bộ chứng từ để đi nhận
hàng trong đó vận đơn phải được ký hậu theo lệnh của Ngân hàng, phí ký hậu
thường là khoảng 50$.
Trong trường hợp hàng đã về tới cảng mà bộ chứng từ vẫn chưa về, chi

Khai báo hải quan : Công ty (chủ hàng) khai bỏo các chi tiết về hàng hoá
lên Tờ khai hải quan để cơ quan hải quan kiểm tra các thủ tục giấy tờ. Nội
dung khai trong Tờ khai hải quan phải chân thực và chính xác theo Hợp đồng
ngoại và giấy báo nhận hàng hay vận đơn.
Bộ hồ sơ xuất trình cho Hải quan bao gồm : giấy giao chứng từ cho Hải
quan, giấy giới thiệu cán bộ của VILEXIM ra hải quan làm thủ tục nhập khẩu,
hợp đồng ngoại ( sales contract ), invoice, packing list, tờ khai hải quan .
Sau khi khai báo với Hải quan, Hải quan vào sổ thông báo, kiểm tra tình
hình nợ đọng thuế để phân luồng hàng hoá thành luồng xanh, luồng đỏ , luồng
vàng. Đối với hàng hoá luồng xanh thì không phải kiểm hoá sẽ được áp mã
thuế luôn. Hàng hoá luồng đỏ và vàng thì phải kiểm tra và sau đó mới áp mã
số thuế và thuế suất phải nộp. Cán bộ làm thủ tục Hải quan sẽ nhận hàng và
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status