LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực tập tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi
đã nhận được nhiều sự giúp đỡ của các tập thể, cá nhân trong và ngoài trường.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Tài
nguyên và Môi trường và các thầy cô Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội
đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành quá trình thực tập tốt nghiệp.
Đặc biệt tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Cao Trường Sơn là
người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn Công ty TNHH Tiến Hải, xã La Phù,
huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ đã giúp đỡ tôi thực hiện đề tài này.
Cuối cùng tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè,
những người đã khích lệ tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp.
Tôi xin cam đoan những kết quả trong báo cáo này là sự thật.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 30 tháng 04 năm 2013
SV. Nguyễn Thị Lý
i
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vii
Phần 1. ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục đích, yêu cầu nghiên cứu 2
1.2.1. Mục đích nghiên cứu 2
1.2.2. Yêu cầu nghiên cứu 2
2.1.1. Tình hình phát triển 3
2.1.2. Hình thức chăn nuôi 5
2.1.3. Tỷ lệ phân bố 7
2.1.4. Đặc điểm chuồng trại 8
2.2. Tổng quan các vấn đề môi trường chăn nuôi 9
2.2.1. Nguồn thải phát sinh từ chăn nuôi 9
Đơn vị tính: 1.000 đồng 62
4.5.2. Đánh giá tính khả thi cho giải pháp sử dụng chế phẩm EM bổ sung vào
thức ăn cho lợn Công ty TNHH Tiến Hải nhằm tăng khả năng hấp thụ thức
ăn, giảm mùi hôi chuồng trại 64
5.1. Kết luận 67
iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DO Ô xy hòa tan trong nước
BOD
5
Nhu cầu ôxy sinh hóa
COD Nhu cầu ôxy hóa học
EC Độ dẫn điện
HDPE Màng chống thấm (High Density Poly Etylen – HDPE)
TCTK Tổng cục thống kê
QCVN Quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam
SXSH Sản xuất sạch hơn
TCTK Tổng cục thống kê
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TSS Tổng chất rắn lơ lửng
UNEP Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (United Nations
Environment Programme – UNEP)
VOCs Chất hữu cơ bay hơi
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp hàng năm Error: Reference source not
found
Bảng 2.2: Các loại trang trại phân theo vùng tính đến 1/7/2011 Error:
Reference source not found
source not found
Bảng 4.8: Lượng thuốc thú y và vaccine sử dụng hàng tháng của công ty Error:
Reference source not found
Bảng 4.9: Nhu cầu sử dụng nước hàng tháng của công ty Error: Reference source
not found
Bảng 4.10: Nhu cầu sử dụng điện hàng tháng của công ty Error: Reference source
not found
Bảng 4.11. Cân bằng vật chất cho quá trình sản xuất của công ty ( Error: Reference
source not found
Bảng 4.12: Các loại chất thải và nguồn phát sinh của công tyError: Reference
source not found
Bảng 4.13: Các thông số nước thải chăn nuôi của Công ty TNHH Tiến Hải Error:
Reference source not found
Bảng 4.14: Các thông số chất lượng nước ao của Công ty TNHH Tiến Hải
Error: Reference source not found
Bảng 4.15: Chi phí bên trong của Công ty TNHH Tiến Hải . Error: Reference source
not found
Bảng 4.16: Nguyên nhân phát sinh dòng thải công ty TNHH Tiến Hải Error:
Reference source not found
Bảng 4.17: Các cơ hội sản xuất sạch hơn của Công ty TNHH Tiến Hải Error:
Reference source not found
Bảng 4.18: Bảng sàng lọc các cơ hội sản xuất sạch hơn của Công ty TNHH Tiến
Những khó khăn trong việc thu gom và xử lý các chất thải chăn nuôi là
những vấn đề đầu tiên gắn liền với sự thâm canh chăn nuôi.
Các trang trại chăn nuôi tập trung, mặc dù phần lớn đã có hệ thống xử
lý chất thải nhưng hiệu quả xử lý chưa triệt để đã gây ra ô nhiễm nghiêm
trọng môi trường đất, nước, không khí ở nông thôn, ảnh hưởng trực tiếp tới hệ
sinh thái, chuỗi thức ăn và sức khỏe con người.
Sản xuất sạch hơn với mục tiêu là tránh ô nhiễm bằng cách sử dụng tài
nguyên, nguyên vật liệu một cách có hiệu quả nhất trong sản xuất đang ngày
càng được áp dụng nhiều ở nước ta đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế và
môi trường.
1
Việc nghiên cứu áp dụng sản xuất sạch hơn trong chăn nuôi là một
vấn đề mới, vừa nhằm nâng cao sản xuất ngành chăn nuôi vừa tăng cường hạn
chế ô nhiễm môi trường từ hoạt động sản xuất. Công ty TNHH Tiến Hải đóng
trên địa bàn huyện Thanh Thủy – tỉnh Phú Thọ là một công ty chuyên sản
xuất, chăn nuôi lợn nái sinh sản với quy mô lớn, rất thuận lợi cho việc nghiên
cứu ứng dụng công nghệ sản xuất sạch hơn.
Từ những lý do trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên
cứu, áp dụng sản xuất sạch hơn tại công ty TNHH Tiến Hải, huyện Thanh
Thủy, tỉnh Phú Thọ” nhằm đánh giá hiện trạng sản xuất chăn nuôi của công
ty và đưa ra biện pháp kiểm soát ô nhiễm theo hướng sản xuất sạch hơn,
mang lại lợi ích kinh tế, bảo vệ môi trường cho công ty.
1.2. Mục đích, yêu cầu nghiên cứu
1.2.1. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá quy trình chăn nuôi lợn hiện tại của công ty TNHH Tiến Hải
- Xác định các cơ hội áp dụng các biện pháp sản xuất sạch hơn cho
công ty TNHH Tiến Hải
- Đề xuất và đánh giá tính khả thi các giải pháp sản xuất sạch hơn cho
công ty TNHH Tiến Hải.
1.2.2. Yêu cầu nghiên cứu
Dịch vụ 4,1 4,6 2,3 3,6 4,2
Nguồn: Tổng Cục Thống kê – Viện kinh tế nông nghiệp,2009
Ngành chăn nuôi của nước ta đang ngày càng tăng cả về quy mô và số
lượng. Theo Tổng Cục Thống Kê, tổng hợp kết quả chương trình điều tra chăn
3
nuôi tại thời điểm 1/10/2012, cả nước có 2,6 triệu con trâu; 5,2 triệu con bò; 26,48
triệu con lợn; 308,3 triệu con gia cầm (Trung tâm Tin học và Thống kê, 2012).
Theo kết quả tổng hợp này, năm 2011 do có Thông tư số 27/2011/TT-
BNNPTNT ngày 13 tháng 4 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và phát triển
nông thôn quy định tiêu chí mới về trang trại nên cả nước có 20.065 trang trại
(bằng 13,8% số trang trại năm 2010). Trong đó, có 6.202 trang trại chăn nuôi,
chiếm 30,9% tổng số trang trại trong cả nước.
Bảng 2.2: Các loại trang trại phân theo vùng tính đến 1/7/2011
Tổng số
trang
trại
Chia theo loại trang trại
Trồng
trọt
Chăn
nuôi
Lâm
nghiệp
Nuôi trồng
thủy sản
Tổng
hợp
Cả nước 20.065 8.642 6.202 51 4.433 737
Đồng bằng sông Hồng 3.506 39 2.396 3 923 145
Trung du và miền
2010 2.877,0 5.808,3 93,1 1.288,4 27.373,3 300,5
2011 2.712,0 5.436,6 88,1 1.267,8 27.056,0 322,6
2012 2.627,8 5.194,2 26.500,0 308,5
Nguồn: Tổng Cục Thống kê, 2013
Qua bảng 2.3 cho thấy, trong 10 năm từ 2001 đến 2011, tốc độ tăng
trưởng bình quân của một số loại gia súc, gia cầm đều cao. Số lượng trâu, bò
tăng bình quân một năm là 2,15%, lợn tăng 2,41%, gia cầm 4,79%. Chỉ có số
lượng ngựa giảm dần với tốc độ bình quân 2,23%/năm.
Bước sang năm 2012, chăn nuôi gia súc, gia cầm gặp khó khăn do giá
thịt giảm, chi phí đầu vào tăng cao và khó khăn về vốn nên chăn nuôi của các
hộ và các doanh nghiệp cũng như trang trại bị ảnh hưởng. Theo kết quả điều
tra chăn nuôi, tại thời điểm 01/10/2012, đàn lợn cả nước có 26,5 triệu con,
giảm 2,1% so với cùng thời điểm năm 2011, trong đó đàn lợn nái có 4,0 triệu
con, giảm 0,5%; đàn trâu có 2.627,8 nghìn con, giảm 3,1%; đàn bò có 5.194,2
nghìn con, giảm 4,5%. Nguyên nhân chủ yếu do diện tích chăn thả bị thu hẹp,
chăn nuôi hiệu quả thấp nên chưa khuyến khích người nuôi mở rộng quy mô
đàn. Riêng nuôi bò sữa vẫn phát triển, tổng đàn bò sữa tại thời điểm trên của
cả nước đạt 167 nghìn con, tăng 17% so với cùng thời điểm năm 2011. Đàn
gia cầm có 308,5 triệu con, giảm 4,4% so với thời điểm 01/10/2011, trong đó
đàn gà 223,7 triệu con, giảm 3,86% (Tổng Cục Thống kê, 2013).
2.1.2. Hình thức chăn nuôi
Hiện nay, ở nước ta có 2 hình thức chăn nuôi chính là chăn nuôi hộ
gia đình và chăn nuôi theo hình thức trang trại tập trung.
5
Sản xuất chăn nuôi ở Việt Nam chủ yếu tập trung ở các hộ quy mô
nhỏ. Đây là hình thức chăn nuôi đã có từ lâu đời, chủ yếu là chăn nuôi tận
dụng và sử dụng lao động gia đình. Theo báo cáo của Viện nghiên cứu chính
sách Lương thực Quốc tế (IFPRI), hơn 92% người sản xuất chăn nuôi chỉ sử
dụng lao động của hộ gia đình trong sản xuất chăn nuôi. Tuy nhiên, các hộ
không chỉ tập trung vào chăn nuôi mà còn kết hợp với trồng trọt và các hoạt
nuôi của cả nước (Tổng Cục Thống kê, 2011), tiếp đến là vùng Đồng bằng sông
Cửu Long với 578 trang trại, chiếm 9,3%. Vùng Tây Nguyên có số trang trại chăn
nuôi tập trung ít nhất cả nước chiếm 5,9% (366 trang trại).
Hình 2.1: Cơ cấu trang trại chăn nuôi phân theo vùng ở nước ta
Nguồn: Tổng Cục Thống kê, 2011
Tính đến thời điểm 01/7/2011 cả nước có trên 4,13 triệu hộ có chăn
nuôi lợn, tổng đàn lợn của nước ta khoảng 27 triệu con (Cục Chăn nuôi,
2011; Tổng Cục Thống kê, 2011). Tính chung 3 vùng ở miền Bắc và miền
Trung chiếm hơn 80% tổng số hộ có nuôi lợn: Bắc Trung Bộ và Duyên hải
miền Trung (30%), Trung du và miền núi phía Bắc (29,1%) và Đồng bằng
7
sông Hồng (21,1%). Trong 3 vùng còn lại, Đồng bằng sông Cửu Long chiếm
12%, Tây Nguyên chiếm 5,1% và Đông Nam Bộ chiếm 2,7%.
Bảng 2.4: Số lượng hộ chăn nuôi lợn theo quy mô số con lợn của từng
vùng KT – XH, thời điểm 1/7/2011
(Đơn vị: 1.000 hộ)
Tổng số
Chia theo quy mô số con lợn
1 đến 2
con
3 đến 5
con
6 đến
9 con
Từ 10 con
trở lên
Cả nước 4.131,6 2144,0 1.060,0 367,2 560,4
Đồng bằng sông Hồng 870,7 454,4 170,4 66,1 179,9
Trung du và miền núi
phía Bắc
chuồng đơn giản, tận dụng chiếm 71,67%; chuồng kiên cố chỉ có 1,67%. Với
chăn nuôi gia trại và trang trại chủ yếu là loại hình bán kiên cố với tỷ lệ tương
ứng là 56,25% và 53,57%. Ở trang trại chuồng kiên cố cao nhất cũng chỉ đạt
10,71% (Phùng Đức Tiến và cộng sự, 2009).
2.2. Tổng quan các vấn đề môi trường chăn nuôi
2.2.1. Nguồn thải phát sinh từ chăn nuôi
Chăn nuôi là một trong những ngành sản xuất tạo ra lượng chất thải
lớn nhất, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường. Các chất thải chăn
nuôi được phát sinh chủ yếu
từ:
- Chất thải của bản thân gia súc, gia cầm như phân, nước tiểu,
lông, vảy da và
các
phủ tạng loại thải của gia súc, gia
cầm
- Nước thải từ quá trình tắm gia súc, rửa chuồng hay rửa dụng cụ và thiết
bị
chăn
nuôi, nước làm mát hay từ các hệ thống dịch vụ chăn
nuôi…
- Thức ăn thừa, các vật dụng chăn nuôi, thú y bị loại ra trong quá
trình chăn
nuôi.
- Bệnh phẩm thú y, xác gia súc, gia cầm
chết.
- Bùn lắng từ các mương dẫn, hố chứa hay lưu trữ và chế biến hay
xử lý chất
thải
Trong chất thải chăn nuôi thường chứa hàm lượng chất dinh dưỡng
9
Nguồn: Hill và Toller, 1974
Lượng phân và nước tiểu do các loại gia súc lớn như trâu, bò, ngựa
thải ra trong 24 giờ là nhiều nhất, các loại gia cầm do chúng thải ra phân
được trộn lẫn với nước tiểu nên không xác định được lượng nước tiểu trong
một ngày đêm.
Để sản xuất 1.000 kg thịt
lợn
thì hàng ngày sản sinh ra 84 kg nước
tiểu; 39 kg phân; 11 kg TS (chất rắn tổng số); 3,1
kg
BOD
5;
0,24 NH
4
-N
chưa kể ô nhiễm từ nước tắm và rửa
chuồng. (
Bùi Hữu Đoàn, 2011)
10
Thành phần nước tiểu gia súc khác nhau tùy vào loại thức ăn mà
chúng sử dụng, chủ yếu là nước, nước tiểu của Dê, Cừu, Ngựa chứa lượng
chất hữu cơ cao. Ngoài ra, trong đó còn chứa các khoáng chất khác (Bảng 2.6)
Bảng 2.6: Thành phần trung bình của nước tiểu các loại gia súc
(Đơn vị: %)
Loại gia
súc
H
2
O
Chất
Salmonella typhi
A$B
Phó thương
hàn 55 30
Shigella
spp Lỵ 55 60
Vibrio
cholerae Tả 55 60
Escherichia
coli
10
5
/100ml
Viêm dạ dày
ruột 55 60
Hepatite
A
Viêm
gan 55 3 - 5
Taenia
saginata Sán 50 3 - 5
Micrococcus
Ung
nhọt 54 10
Sreptococcus
10
2
/100ml
Làm
mủ 50 10
nuôi,
quá trình thu gom, dự trữ và sử dụng
chất thải. Các khí thải chăn nuôi chủ yếu là NH
3
, H
2
S, CH
4
, CO
2
được hình
thành từ quá trình phân giải các hợp chất hữu cơ có trong chất thải.
2.2.2. Hiện trạng ô nhiễm môi trường chăn nuôi
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi lợn phát triển với tốc độ
rất nhanh nhưng chủ yếu là tự phát và chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ
thuật về chuồng trại và kỹ thuật chăn nuôi. Do đó năng suất chăn nuôi thấp và
12
gây ô nhiễm môi trường một cách trầm trọng. Ô nhiễm môi trường không
những ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi, năng suất chăn nuôi mà còn ảnh
hưởng rất lớn đến sức khỏe con người và môi trường sống xung quanh.
Theo báo cáo của Cục Chăn nuôi, mỗi năm ngành chăn nuôi của nước
ta thải ra 80 triệu tấn chất thải rắn, vài chục tỷ khối chất thải lỏng và hàng
trăm triệu tấn chất thải khí. Việc phân và nước thải không qua xử lý xả trực
tiếp ra môi trường gây ô nhiễm nghiêm trọng.
Bảng 2.8: Hiện trạng chất thải rắn chăn nuôi ước tính năm 2008
TT
Loài vật
nuôi
Tổng số đầu
con năm 2007
1 Bò 10 23,762 24,528 23,105 22,276 21,593
2 Trâu 15 15,987 16,37 15,823 15,801 15,948
3 Lợn 2 19,601 19,389 19,491 20,17 19,98
4 Gia cầm 0,2 15,666 16,499 18,054 20,44 21,9
5 Dê, cừu 1,5 0,832 0,969 0,0,734 0,750 0,706
6 Ngựa 4 0,127 0,146 0,175 0,149 0,131
Nguồn: Tổng Cục Thống kê và Cục Chăn nuôi, 2011
Chất thải rắn chăn nuôi đang là một trong những nguồn thải lớn ở
nông thôn. Tổng lượng chất thải rắn chăn nuôi của nước ta mỗi năm rất lớn:
80.450.000 tấn/năm (năm 2008) (Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia,
2011). Trong những năm gần đây, do tổng số các loài vật nuôi ít biến động
nên tổng khối lượng chất thải rắn chăn nuôi tương đối ổn định.
Hiện nay, chăn nuôi ở Việt Nam chủ yếu vẫn ở quy mô hộ gia đình,
chất thải chăn nuôi của các hộ này chủ yếu được xử lý bằng các hình thức:
Hầm biogas, tận dụng nuôi thủy sản, làm phân ủ bón ruộng. Có khoảng 19%
chất thải chăn nuôi không được xử lý mà thải trực tiếp ra môi trường xung
quanh. (Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia, 2011)
Ngành chăn nuôi ngày càng phát triển để đáp ứng nhu cầu cuộc sống
của con người. Kéo theo đó là lượng chất thải rắn chăn nuôi cũng ngày một
gia tăng, người chăn nuôi vì chạy theo lợi nhuận hoặc do thiếu hiểu biết mà
đổ chất thải chưa qua xử lý ra môi trường gây nên các vấn đề nghiêm trọng
cho môi trường. Nghiên cứu của Phùng Đức Tiến và cộng sự năm 2009 cho
thấy: Trong chăn nuôi lợn, tỷ lệ hộ có khu xử lý chất thải rất thấp, nông hộ đạt
48,39%; gia trại 55,17% và chăn nuôi trang trại cũng chỉ đạt 51,72%.
14
Tình hình xử lý chất thải trong chăn nuôi còn chưa được quan tâm
đúng mức. Phần lớn các cơ sở chăn nuôi đổ chất thải trực tiếp ra môi trường,
chỉ có một số nhỏ cơ sở có khu xử lý chất thải chăn nuôi chủ yếu là ủ phân
tươi và phần nhỏ xử lý bằng biogas (Phùng Đức Tiến và cộng sự, 2009).
Năm 2007, kết quả điều tra sơ bộ của Cục Chăn nuôi cho biết:
để tiết kiệm chi phí, nguyên liệu và năng lượng, tăng sức cạnh tranh sản phẩm
trên thị trường.
Ở Việt Nam, khái niệm sản xuất sạch hơn đã xuất hiện ở nước ta từ
những năm 90 của thập kỷ trước và được thử nghiệm áp dụng trong công
nghiệp tử năm 1995 qua hai dự án do quốc tế tài trợ là “SXSH trong công
nghiệp giấy” (1995 – 1997) và “Giảm thiểu chất thải trong công nghiệp dệt” ở
Hà Nội (1995 – 1996) do UNEP/NIEM (United nations environment
programme/Network for Industrial Environmental Management − Chương trình
Môi trường Liên Hiệp Quốc/Mạng lưới quản lý môi trường công nghiệp) tại
Bangkok (Thái Lan) và CIDA-IDRC (Cultural Industries Development Agency
– International Development Research Centre, Cơ quan Phát triển Quốc tế
Canada − Trung tâm nghiên cứu phát triển quốc tế Canada) (Canada) tài trợ.
Năm 1998, thuật ngữ SXSH được chính thức sử dụng trong "Tuyên
ngôn Quốc tế về sản xuất sạch hơn" (International Declaration on Cleaner
Production) của UNEP. Năm 1999, Việt Nam đã ký tuyên ngôn Quốc tế về
SXSH khẳng định cam kết của Việt Nam với chiến lược phát triển bền vững.
(Khoa Môi trường, Đại học Khoa học Huế, 2012). Cùng năm 1998, Tổ chức
Phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO) đã giúp Việt Nam thành
lập “Trung tâm Sản xuất sạch Việt Nam” tại Viện Khoa học và Công nghệ
Môi trường, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội trong khuôn khổ một dự án
US/VIE/96/063 do Chính phủ Thụy Sỹ tài trợ thông qua UNIDO
(pc, truy cập ngày 17/2/2013)
16
“Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2020” (2003) của Việt Nam đã xác định quan điểm “Coi phòng ngừa là
chính, kết hợp với xử lý và kiểm soát ô nhiễm…”. Một trong 36 chương trình, đề
án, dự án ưu tiên cấp quốc gia trong chiến lược (số 28) liên quan đến SXSH.
Sản xuất sạch hơn đã được triển khai áp dụng thành công tại Việt Nam
hơn mười năm qua. Từ năm 2002, phương pháp luận này đã được Bộ Công
Thương đẩy mạnh triển khai áp dụng tại năm tỉnh: Phú Thọ, Thái Nguyên,
Đồng Xuân, công ty TNHH sản xuất và thương mại Nam Hưng, nhà máy xi
măng Phú Thọ, công ty TNHH nhà nước một thành viên Kim loại màu Thái
Nguyên, công ty cổ phần Việt Vương, công ty cổ phần mía đường Bến Tre,
Tính đến năm 2010, cả nước có 2.509 cơ sở sản xuất công nghiệp
nhận thức được lợi ích của việc áp dụng sản xuất sạch hơn tương đương với
28%, 1.031 cơ sở sản xuất công nghiệp áp dụng sản xuất sạch hơn (11%), 309
doanh nghiệp giảm trên 5% tiêu thụ năng lượng, nguyên, nhiên liệu trên một
đơn vị sản phẩm (3%) (Bộ Công Thương, 2010).
18