luận văn quản trị kinh doanh Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại NHNo&PTNT chi nhánh Việt Yên-Bắc Giang - Pdf 27

Khoá luận tốt nghiệp Viện Đại học Mở Hà Nội
MỤC LỤC
Khoá luận tốt nghiệp Viện Đại học Mở Hà Nội
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NHNo&PTNT Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTW Ngân hàng trung ương
TGTK Tiền gửi tiết kiệm
TGTT Tiền gửi thanh toán
UNC Ủy nhiệm chi
UNT Uỷ nhiệm thu
Khoá luận tốt nghiệp Viện Đại học Mở Hà Nội
DANH MỤC BẢNG BIỂU ĐỒ THỊ
Biều đồ 2.1: Số lượng thẻ phát hành qua các năm Error: Reference source not found
Biều đồ 2.2: Lợi nhuận của ngân hàng qua các năm Error: Reference source not foundKhoá luận tốt nghiệp Viện Đại học Mở Hà Nội
LỜI MỞ ĐẦU
Mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta đặt ra cho đến năm 2010 là phải hoàn thành
nhiệm vụ công nghiệp hoá- hiện đại hoá đát nước, đua Việt Nam từ một nước nông
nghiệp trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Để thực hiện được mục tiêu này thì vốn là một trong những yếu tố rất quan trọng,
vốn là tiền đề cho sự tăng trưởng kinh tế, mức tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào quy
mô và hiệu quả vốn đầu tư. Vì vậy, để đáp ứng được nhu cầu phát triển và cạnh tranh,
các doanh nghiệp Việt Nam cũng đòi hỏi phải được mở rộng, phát triển với quy mô
ngày càng lớn, đổi mới dây truyền công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch vụ,
vươn lên cạnh tranh với hàng hoá, dịch vụ của các nước khác trong khu vực và trên thế
giới. Bởi vậy nhu cầu vốn đầu tư cho nền kinh tế ngày càng tăng. Một địa chỉ quen
thuộc và tiện ích nhất mà người cần vốn nghĩ đến đó là các Ngân hàng thương mại.
Vốn cho đầu tư phát triển có thể được tạo thành từ nhiều nguồn, tuy nhiên với điều

Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại NHNo&PTNT chi
nhánh Việt Yên- Bắc Giang.
Mặc dù đã cố gắng hoàn thành luận văn với những kiến thức và thực tế thu thập
được nhưng do kinh nghiệm còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót. Vì
vậy, em mong nhận được sự thông cảm và góp ý từ phía thầy cô để bài viết được hoàn
thiện hơn!

Sinh viên
Thân Thị Quỳnh
2
Khoá luận tốt nghiệp Viện Đại học Mở Hà Nội
CHƯƠNG I
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát chung về NHTM
Ngân hàng thương mại (NHTM) ra đời và phát triển gắn liền với các hoạt động
sản xuất kinh doanh của nhân dân và nền kinh tế. Trong các nước phát triển hầu như
không có một công dân nào là không có quan hệ giao dịch với một NHTM nhất định
nào đó. NHTM được coi như là một định chế quen thuộc trong đời sống kinh tế. Khi
nền kinh tế càng phát triển thì hoạt động dịch vụ của ngân hàng càng đi sâu vào tận
cùng những ngõ ngách của nền kinh tế và đời sống con người. Mọi công dân đều chịu
tác động từ hoạt động của ngân hàng, dù họ chỉ là khách hàng gửi tiền, một người vay
hay đơn giản là người đang làm việc cho doanh nghiệp có vay vốn và sử dụng các dịch
vụ ngân hàng.
NHTM là một sản phẩm độc đáo của nền sản xuất hàng hoá trong nền kinh tế thị
trường, một tổ chức có tầm quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế. Bản chất, chức năng,
các hoạt động nghiệp vụ của các ngân hàng cơ bản là giống nhau song quan niệm về
ngân hàng lại không đồng nhất giữa các nước trên thế giới.
1.1.1. NHTM và vai trò của NHTM đối với sự phát triển của nền kinh tế.
1.1.1.1 Khái niệm.

trung phát hành cổ phiếu. Những người nắm giữ cổ phiếu này chính là những người
chủ của ngân hàng. Họ có quyền tham gia vào các hoạt động của ngân hàng và được
chia lãi cổ tức. Do huy động tù nhiều người nên ngân hàng này có vốn chủ sở hữư lớn,
có các hình thức kinh doanh đa dạng.
- Ngân hàng nhà nước: Là loại hình ngân hàng có vốn chủ sở hữu thuộc về nhà
nước. Đây là loại hình ngân hàng có thể nói là an toàn nhất, rất ít khi bị phá sản. Tuy
nhiên những ngân hàng này nhiều khi phải thực hiện nhiệm vụ do nhà nước giao, ảnh
hưởng tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
- Ngân hàng liên doanh: là ngân hàng được hình thành dựa trên sự góp vốn của
hai hay nhiều bên, thường là giữa ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài để
tận dụng lợi thế của nhau.
Căn cứ theo tính chất hoạt động:
- Ngân hàng chuyên doanh và ngân hàng đa năng
Ngân hàng chuyên doanh là ngân hàng hoạt động theo hướng chuyên doanh
thường chỉ cung cấp một số dịch vụ ngân hàng nhất định.
Ngân hàng đa năng là ngân hàng cung cấp mọi dịch vụ ngân hàng. Đây là xu
hướng chủ yếu hiện nay của các NHTM.
4
Khoá luận tốt nghiệp Viện Đại học Mở Hà Nội
- Ngân hàng bán buôn và bán lẻ
Ngân hàng bán buôn là loại hình ngân hàng mà hoạt động của nó chủ yếu thực
hiện đối với các khách hàng lớn. Số lượng giao dịch của các ngân hàng bán buôn nhỏ
song về giá trị một dịch vụ lại lớn.
Ngân hàng bán lẻ là loại hình ngân hàng mà hoạt động chủ yếu của nó thực hiện đối
với các khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khách hàng cá nhân. Số lượng giao
dịch của các ngân hàng bán lẻ lớn song giá trị một giao dịch thường nhỏ.
Căn cứ theo cơ cấu tổ chức:
- Ngân hàng sở hữu công ty và ngân hàng không sở hữu công ty.
Ngân hàng sở hữu công ty là ngân hàng nắm giữu phần lớn vốn của công ty, cho phép
ngân hàng được quyền tham gia quyết định các hoạt động cơ bản của công ty.

cũng vì sự phát triển nhưng thông qua hình thức đầu tư gián tiếp qua các giấy tờ có giá.
- Ngân hàng phát triển: Ngân hàng phát triển huy động vốn trung và dài hạn để
đầu tư trung, dài hạn vì sự phát triển. Hoạt động đầu tư của loại ngân hàng này chủ yếu
đầu tư trực tiếp qua các dự án.
- Ngân hàng chính sách: là những NHTM 100% vốn nhà nước hoặc NHTM cổ
phần Nhà nước (gồm sở hữu Nhà nước và sở hữu của các tổ chức kinh tế quốc doanh)
được lập ra để phục vụ những chính sách của Nhà nước. Loại ngân hàng này không
hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.
- Ngân hàng hợp tác: Ngân hàng hợp tác hay gọi rộng ra là nhũng tổ chức tín
dụng hợp tác là những tổ chức tín dụng thuộc sở hữu tập thể được các thành viên tự
nguyện lập nên không phải vì mục tiêu lợi nhuận mà vì mục tiêu tương trợ lẫn nhau về
vốn và dịch vụ ngân hàng.
1.1.1.2. Vai trò của NHTM đối với sự phát triển của nền kinh tế
* Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế
NHTM ra đời là tất yếu của nền sản xuất hàng hoá. Sản xuất hàng hoá phát
triển, lưu thông hàng hoá ngày càng mở rộng, trong xã hội có người thì thừa vốn,
người thì cần vốn để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều này giải
thích cho lí do vì sao ngân hàng ra đời, NHTM ra đời là chìa khoá giúp cho người
cần vốn có được vốn và người có vốn tạm thời nhàn rỗi có thể kiếm được lãi từ
vốn. Các ngân hàng cũng cân đối được vốn trong nền kinh tế giúp cho các thành
phần kinh tế cùng nhau phát triển. Các ngân hàng đứng ra huy động vốn tạm thời
nhàn rỗi từ các doanh nghiệp, cá nhân sau đó sẽ cung ứng lại cho nơi cần vốn để
tiến hành tái sản xuất với trang thiết bị hiện đại hơn, tạo ra sản phẩm tốt hơn, có
lợi nhuận cao hơn. Xã hội càng phát triển, nhu cầu vốn cho nền kinh tế ngày càng
6
Khoá luận tốt nghiệp Viện Đại học Mở Hà Nội
tăng, không một tổ chức nào có thể đáp ứng được. Chỉ có ngân hàng- một tổ chức
trung gian tài chính mới có thể đứng ra điều hoà, phân phối vốn giúp cho tất cả
các thành phần kinh tế cùng nhau phát triển nhịp nhàng, cân đối.
* Ngân hàng là cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường

thế giới. Các NHTM là trung gian, cầu nối để tiến hành quá trình hội nhập. Ngày nay
đầu tư ra nước ngoài là một hướng đầu tư quan trọng và mang lại nhiều lợi nhuận. Đồng
thời, các nước cần xuất khẩu những mặt hàng mà mình có lợi thế so sánh và nhập khẩu
những mặt hàng mà mình thiếu. Các NHTM với các nghiệp vụ kinh doanh như: nhận
tiền gửi, cho vay, bảo lãnh và đặc biệt là các nghiệp vụ thanh toán quốc tế đã góp phần
tạo điều kiện, thúc đẩy ngoại thương không ngừng được mở rộng và phát triển.
1.1.2. Các nghiệp vụ cơ bản của NHTM.
NHTM hiện đại hoạt động với 3 nghiệp vụ chính đó là: nghiệp vụ huy động vốn,
nghiệp vụ sử dụng vốn, và các nghiệp vụ trung gian khác. Ba nghiệp vụ này có quan
hệ mật thiết, tác động hỗ trợ, thúc đẩy nhau cùng phát triển, tạo nên uy tín và thế mạnh
cạnh tranh cho các NHTM, các nghiệp vụ này đan xen lẫn nhau trong quá trình hoạt
động của ngân hàng, tạo nên một chỉnh thể thống nhất trong quá trình hoạt động kinh
doanh của NHTM.
1.1.2.1. Nghiệp vụ huy động vốn.
Nghiệp vụ này phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh doanh của
NHTM, cụ thể bao gồm các nghiệp vụ sau:
- Nghiệp vụ tiền gửi: Đây là nghiệp vụ phản ánh hoạt động ngân hàng nhân các
khoản tiền gửi từ các doanh nghiệp vào để thanh toán hoặc với mục đích bảo quản tài
sản mà từ đó NHTM có thể huy động được. Ngoài ra NHTM có thể huy động các
khoản tiền nhàn rỗi của các cá nhân hay các hộ gia đình được gửi vào ngân hàng với
mục đích bảo quản hoặc hưởng lãi trên số tiền gửi.
- Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá: Các NHTM phần lớn sử dụng nghiệp vụ
này để thu hút các khoản vốn có tính thời hạn tương đối dài và ổn định, nhằm đảm bảo
khả năng đầu tư, khả năng cung cấp đủ các khoản tín dụng mang tính trung và dài hạn
vào nền kinh tế, hơn nữa, nghiệp vụ này còn giúp các NHTM giảm thiểu rủi ro và tăng
cường tính ổn định vốn trong hoạt động kinh doanh.
- Nghiệp vụ đi vay: Nghiệp vụ đi vay được các NHTM sử dụng thường xuyên
nhằm mục đích tạo vốn kinh doanh cho mình bằng việc vay các tổ chức tín dụng trên
thị trường tiền tệ và vay ngân hàng nhà nước dưới các hình thức tái chiết khấu hay vay
có bảo đảm Trong đó các khoản vay từ ngân hàng nhà nước chủ yếu nhằm tạo sự cân

Thông thường hoạt động từ cho vay này chiếm tới 65- 70% trong tổng lợi nhuận của
ngân hàng. Nghiệp vụ cho vay có thể được phân loại bằng nhiều cách: theo thời gian
có cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn, theo hình thức đảm bảo có cho vay có
đảm bảo, cho vay không đảm bảo, theo mục đích có cho vay bất động sản, cho vay
thương mại, cho vay cá nhân, cho vay nông nghiệp, cho vay thuê mua
9
Khoá luận tốt nghiệp Viện Đại học Mở Hà Nội
- Nghiệp vụ đầu tư tài chính
Bên cạnh nghiệp vụ tín dụng, các NHTM còn dùng số vốn huy động từ dân cư,
từ các tổ chức kinh tế xã hội để đầu tư vào nền kinh tế dưới các hình thức như: hùn
vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị trường và trực tiếp thu lợi nhuận từ
các khoản đầu tư đó.
- Nghiệp vụ khác
NHTM thực hiện các hoạt động kinh doanh như: kinh doanh nngoài tê, vàng
bạc và kim khí, đá quý, thực hiện các dịch vụ tư vấn, dịch vụ ngân quỹ, nghiệp cụ uỷ
thác và đại lí, kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm
1.1.2.3 Nghiệp vụ trung gian khác
Ngoài hai nghiệp vụ cơ bản trên, ngân hàng còn thực hiên một số nghiệp vụ cơ
bản khác như:
- Dịch vụ trong thanh toán: Có thể nói ngân hàng là thủ quỹ của nền kinh tế. Các
doanh nghiệp, tổ chức kinh tế sẽ không phải mất thời gian sau khi mua hoặc bán hàng
hoá và dịch vụ bởi việc thanh toán sẽ được ngân hàng thực hiện một cách nhanh
chóng và chính xác.
- Dịch vụ môi giới, tư vấn: Ngân hàng đứng ra làm trung gian mua bán chứng
khoán, tư vấn cho người đầu tư mua bán chứng khoán, bất động sản
- Các dịch vụ khác: Ngân hàng đứng ra quản lí hộ tài sản; giữ hộ vàng, tiền, cho
thuê két sắt, bảo mật.
1.2. Vốn của NHTM
1.2.1. Khái niệm về vốn của NHTM
NHTM là một tổ chức trung gian tài chính với các chức năng cơ bản là: trung

- Vốn khác
Mỗi loại vốn đều có tính chất, vai trò riêng trong tổng nguồ vốn hoạt động
của ngân hàng và đều có những tác động nhất định đến hoạt động kinh doanh
của NHTM.
1.2.2.1 Vốn chủ sở hữu
Đây là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của chính ngân hàng, ngân hàng có toàn
quyền sử dụng gồm các trang thiết bị, cơ sở vật chất, nhà cửa Đây là nguồn vốn khá
quan trọng, trước hết là nó tao uy tín cho chính ngân hàng, một ngân hàng được trang
bị cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại, đẹp và bề thế mới tạo cảm giác an toàn cho khách
hàng khi đến giao dịch. Đối với mỗi ngân hàng, nguồn hình thành và nghiệp vụ hình
thành loại vốn rất đa dạng, tuỳ theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của chủ ngân
hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường.
- Nguồn hình thành ban đầu: trước khi tiến hành kinh doanh theo quy định của
pháp luật, ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định, đó là vốn pháp định hay vốn
điều lệ. Tuỳ theo hình thức sở hữu thì hiện nay theo nghị định số 10/2011/NĐ-CP,
11
Khoá luận tốt nghiệp Viện Đại học Mở Hà Nội
mức vốn pháp định áp dụng cho đến năm 2011 đó là:
Bảng 1.1: Mức vốn pháp định áp dụng cho một số loại hình tổ chức tín dụng
Loại hình tổ chức tín dụng
Mức vốn pháp định áp dụng
cho đến năm 2011
a Ngân hàng thương mại Nhà nước 3.000 tỷ đồng
b Ngân hàng thương mại cổ phần 3.000 tỷ đồng
c Ngân hàng liên doanh 3.000 tỷ đồng
d Ngân hàng 100% vốn nước ngoài 3.000 tỷ đồng
đ Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài 15 triệu USD
- Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động: VCSH của ngân hàng không
ngừng được tăng lên theo thời gian nhờ có nguồn vốn bổ sung, nguồn bổ sung này có
thể từ lợi nhuận hay từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm Nguồn vốn bổ

bảo toàn và sinh lời đối với những khoản tiền đó. Người gửi tiết kiệm sẽ có sổ tiết kiệm
xác định rõ thời gian và hình thức trả lãi đã thoả thuận với ngân hàng. Hiện nay tiền gửi
tiết kiệm là khu vực tiềm năng đồng thời là nơi cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng,
để thu hút nguồn tiền này các ngân hàng luôn đưa ra các hình thức huy động đa dạng
như: tiết kiệm bằng VND và bằng ngoại tệ với lãi suất cạnh tranh hấp dẫn và với nhiều
kì hạn để ngưòi gửi có nhiều cơ hội lựa chọn cho phù hợp, tiện ích nhất.
- Tiền gửi của các ngân hàng: Đây là nguồn tiền gửi có quy mô thường nhỏ.
Giữa các ngân hàng luôn có tiền gửi của nhau mục đích để đảm bảo thanh toán thuận
tiện, phục vụ tối đa lợi ích cho khách hàng của mình.
1.2.2.3 Vốn đi vay
Bên cạnh việc huy động tiền gửi, nhiều lúc các ngân hnàg cũng phải đi vay
để đảm bảo thanh toán, đảm bảo dự trữ bắt buộc Các ngân hàng có thể vay ở:
- Vay NHNN (NHTW): Khi các NHTM có nhu cầu cấp bách về vốn thì người
giúp đỡ cuối cùng sẽ là NHNN. Hình thức vay chủ yếu là tái chiết khấu (hay tái cấp
vốn). Các NHTM sẽ mang các trái phiếu mà mình đã chiết khấu lên NHTW để tái
chiết khấu. Thông thường NHTW chỉ cho tái chiết khấu những trái phiếu có chất
lượng, thời hạn ngắn và phù hợp với mục tiêu của nhà nước trong từng thời kì.
- Vay các tổ chức tín dụng khác: Đây là các khoản vay mượn lẫn nhau giữa các
ngân hàng hoặc giữa ngân hàng với các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân
hàng. Hình thức vay này rất đơn giản, ngân hàng vya chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân
hàng cho vay thông qua ngân hàng đại lí, các khảon vay có thể không cần thế chấp
hoặc thế chấp bằng các chứng khoán của kho bạc. Các khoản vay này thông thường có
thời hạn ngắn, chủ yếu chỉ để giải quyết những nhu cầu tức thời.
- Vay trên thị trường vốn: các ngân hàng có thể phát hành giấy nợ (kì phiếu, tín
phiếu, trái phiếu) trên thị trường vvốn để huy động vố trung và dài hạn nhắm đáp ứng
13
Khoá luận tốt nghiệp Viện Đại học Mở Hà Nội
các nhu cầu cho vay trung và dài hạn và các nhu cầu đầu tư khác. Những ngân hàng
lớn có uy tín hoặc trả lãi cao sẽ có khả năng vay được nhiều hơn các ngân hàng nhỏ.
Các ngân hàng nhỏ thường vay gián tiếp thông qua các ngân hàng đại lí hoặc được sự

Khoá luận tốt nghiệp Viện Đại học Mở Hà Nội
Quy trình tái sản xuất mở rộng sẽ được thực hiện dễ dàng hơn với việc huy động vốn
của các NHTM. Tuy việc huy động vốn có thể thực hiện bằng nhiều kênh: thị trường
chứng khoán, ngân sách nhà nước nhưng trong điều kiện nước ta hiện nay thì huy
động vốn qua các NHTM vẫn là hình thức chủ yếu và quan trọng nhất.
1.2.3.2 Đối với hoạt động kinh doanh của NHTM
- Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh: Để bước vào
hoạt động kinh doanh thì đầu tiên ngân hàng phải cần có vốn. Ngoài lượng vốn bắt
buộc phải có, ngân hàng phải huy động từ các nguồn khác, ngân hàng đi vay để cho
vay. Vậy để có hoạt động cho vay thì phải có nguồn lực để cho vay. Và ở đây, nguồn
vốn phản ánh tiềm năng và sức mạnh của ngân hàng. Đối với những ngân hàng lớn,
việc tham gia tài trợ cho những dự án lớn luôn dễ dàng hơn các ngân hàng nhỏ. Vốn
không chỉ là phương tiện kinh doanh mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của
NHTM. Nói cách khác, không có vốn thì ngân hàng không thể thực hiện được các
nghiệp vụ kinh doanh của mình.
- Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của ngân
hàng: Hoạt động tín dụng của ngân hàng phụ thuộc và vốn của ngân hàng. Ngân hàng
có nhiều vốn sẽ có ưu thế cạnh tranh hơn so với ngân hàng ít vốn. Có được nhiều vốn,
ngân hàng sẽ có điều kiện để đưa ra các hình thức tín dụng linh hoạt, có điều kiện để
hạ lãi suất từ đó làm tăng quy mô tín dụng. Các ngân hàng lớn, nhiều vốn thường có
rất nhiều các dịch vụ ngân hàng. Phạm vi hoạt động kinh doanh của họ sẽ rộng hơn
nhiều các ngân hàng nhỏ. Chính vì vậy, càng khẳng định rõ tầm quan trọng của vốn
trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
- Vốn quyết định khả năng thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên
thương trường.: Các ngân hàng lớn trên thế giới là các ngân hàng có uy tín, luôn được
ca ngợi và nể trọng. Điều kiện đầu tiên để xây dựng uy tín của ngân hàng chính là vốn
của ngân hàng. Có nhiều vốn, khả năng thanh toán của ngân hàng luôn được đảm bảo,
các khách hàng luôn cảm thấy yên tâm khi giao thiệp với ngân hàng. Trong nền kinh tế
bất ổn hiện nay, khả năng thanh toán luôn được các ngân hàng ưu tiên hàng đầu và để
được như vậy thì các ngân hàng luôn tìm cách huy động được nhiều vốn hơn.

qua các máy rút tiền tự động (máy ATM). Ngân hàng thường bảo quản loại tiền này
trên hai tài khoản: tài khoản thanh toán và tài khoản vãng lai.
- Tài khoản thanh toán: Là loại tài khoản tiền gửi mà chủ tài khoản có toàn quyền
sử dụng số tiền trên tài khoản nhưng chỉ trong phạm vi số dư tiền gửi. Loại tài khoản
này luôn luôn có số dư có.
- Tài khoản vãng lai: Là tài khoản có thể có “số dư có” hoặc “số dư nợ”, thường
được sử dụng cho các tổ chức kinh tế. “Số dư có” thể hiện tiền gửi của khách hàng,
16
Khoá luận tốt nghiệp Viện Đại học Mở Hà Nội
“số dư nợ” thể hiện khoản tín dụng ngân hàng cấp cho khách hàng vay.
Với mục đích chủ yếu khi gửi tiền là để sử dụng các dịch vụ ngân hàng nên mức
lãi suất mà ngân hàng trả cho người gửi tiền là rất thấp, thậm chí không phải trả lãi.
Tuy nhiên ở nhiều nước có tỉ lệ thanh toán không dùng tiền mặt thấp (trong đó có Việt
Nam) thì để tăng mức huy động tiền gửi, ngân hàng vẫn trả lãi cho tiền gửi này thậm
chí có những thời điểm được trả ngang bằng với lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kì
hạn. Tỉ lệ huy động từ nguồn này sẽ là khá cao nếu ngân hàng có các dịch vụ đa dạng,
sản phẩm ngân hàng chất lượng cao, hệ thống mạng lưới rộng rãi, đáp ứng tốt các nhu
cầu của người gửi tiền.
1.3.1.2. Huy động tiền gửi có kì hạn
Là tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân gửi vào ngân hàng và rút ra sau một
thời hạn nhất định. Khoản này thường gắn với các tổ cức kinh tế có chu kì kinh doanh
gần như xác định, thời hạn thanh toán tiền ổn định, ít có sự biến động. Phần tiền gửi
này, ngân hàng sử dụng dễ dàng nên mức lãi suất mà ngân hàng phải trả cũng cao hơn.
Người gửi tiền, ngoài mục đích sử dụng các dịch vụ ngân hàng còn có mục đích kiếm
lời. Do đó, sự thay đổi lãi suất sẽ có tác động rất nhanh và rõ nét đối với nguồn vốn
huy động của ngân hàng.
Ở Việt Nam, hình thức gửi tiền có kì hạn bằng các chứng chỉ tiền gửi (mà chúng
ta vẫn gọi là kì phiếu ngân hàng có mục đích) với các thời hạn 3tháng, 6 tháng, 1 năm,
2 năm ngày càng phổ biến, đã và đang phát huy vai trò trong việc tạo vốn cho ngân
hàng.

do NHTW chỉ cho NHTM một hạn mức tái chiết khấu và việc cho vay này lại nằm
trong định hướng của chính sách tài chính quốc gia. Nhưng dù sao, đây cũng là một hình
thức bổ sung vốn cho NHTM cực kì quan trọng trong những thời điểm nhất định.
1.3.3. Huy động qua phát hành các công cụ nợ
Đây là hình thức huy động vốn có hiệu quả khá cao của các NHTM. Trong quá
trình hoạt động, ở những thời điểm nhất định, ngân hàng thấy cần phải huy động thêm
vốn trước những cơ hội kinh doanh đầy hấp dẫn. Điều đó có nghĩa là ngân hàng huy
động vốn ở thê chủ động, tức là có đầu ra mới tính đầu vào. Ngân hàng định rõ quy
mô vốn huy động, loại tiền huy động và đưa ra các mức chi phí hợp lí làm cho việc tạo
vốn của ngân hàng thành công nhanh chóng. Để vay trên thị trường, ngân hàng có thể
phát hành kì phiếu và trái phiếu.
- Trái phiếu ngân hàng là một giấy tờ có giá, xác nhận khoản nợ của khách hàng
đối với người chủ ngân hàng với những cam kết như thanh toán một số tiền xác định
vào một ngày xác định trong tương lai với thời hạn xác định cho trước. Trái phiếu
được phát hành trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, chủ yếu là để huy động vốn trung
18
Khoá luận tốt nghiệp Viện Đại học Mở Hà Nội
và dài hạn.
- Kì phiếu: Kì phiếu ngân hàng là một loại giấy tờ nhận nợ ngắn hạn do ngân hàng
phát hành nhằm huy động vốn trong dân, chủ yếu là để phục vụ cho những kế hoạch kinh
doanh xác định của ngân hàng như: một dự án, một chương trình kinh tế
1.3.4. Huy động vốn qua các hình thức khác
Để tăng cường huy động vốn nhàn rỗi từ dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh
nghiệp, các NHTM còn sử dụng các hình thức khác về dịch cụ xã hội như: làm dịch vụ
bảo lãnh, đại lí phát hành chứng khoán, trung gian thanh toán, đầu mối trong hợp đồng
đồng tài trợ Nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụ trên càng mang lại cho ngân
hàng những nguồn huy động lớn, giúp cho ngân hàng có thể kinh doanh một cách an
toàn và hiệu quả.
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của NHTM
Trong cả môi trường tự nhiên và xã hội, mỗi sự vật, hiện tượng này đều có những

cũng ảnh hưởng sâu sắc tới việc huy động vốn của NHTM. Nói chung, bất cứ NHTM
nào, khi cần huy động vốn đều phải xem xét các quy định của pháp luật.
1.4.1.2 Tình hình chính trị, kinh tế xã hội trong và ngoài nước
Có thể nói đây là yếu tố khách quan đối với tất cả các ngành nghề kinh tế, không
riêng gì ngân hàng. Sự ổn định chính trị cả trong và ngoài nước có tác động rất rõ. Các
cuộc bãi công, biểu tình, sụp đổ chính phủ luôn kéo theo tình trạng huy động vốn của
ngân hàng bị trì trệ, bởi người dân không còn tin tưởng. Ngược lại, sự đồng tâm, nhất
trí, ổn định trong bộ máy lãnh đạo sẽ làm cho các NHTM huy động vốn được dễ dàng.
Như Achentina năm 2002, sau khi có những vấn đề chính trị, người dân kéo đến ngân
hàng rút tiền ồ ạt làm cho cả hệ thống ngân hàng chao đảo. Và cuộc chiến Irac năm
2003 cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới trong đó có sự khó khăn về huy động
vốn của các NHTM.
Nền kinh tế ở vào tình trạng tăng trưởng hay suy thoái đều tác động tới việc huy
động vốn của ngân hàng. Ở tình trạng tăng trưởng, người dân cần nhiều vốn để mở
rộng quy mô, trang thiết bị. Các ngân hàng phải huy động nhiều vốn và càng có điều
kiện để huy động do tích luỹ được nhiều hơn. Ngược lại, ở tình trạng suy thoái, sản
xuất đình trệ, đầu tư bị thu hẹp, ngân hàng huy động vốn khó khăn hơn.
1.4.1.3 Tâm lí, thói quen tiêu dùng của người gửi tiền
Tập quán tiêu dùng của người dân có tầm ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc
huy động vốn của ngân hàng. Rõ ràng ở những vùng mà người dân có thói quen gửi
tiền vào ngân hàng sẽ huy động được dễ dàng hơn nhiều ở những vùng người dân
thường hay cất trữ tiền trong nhà bằng vàng, bất dộng sản Bên canh đó, thói quen
thanh toán khi mua hàng hoá cũng góp phần làm tăng hay giảm nguồn vốn huy động
20
Khoá luận tốt nghiệp Viện Đại học Mở Hà Nội
của ngân hàng. Ở nhiều nước phát triển, việc thanh toán không dùng tiền mặt là phổ
biến, hầu như người dân nào cũng có tài khoản trong ngân hàng và ngân hàng trở
thành một phần tất yếu của cuộc sống. Ngược lại, ở một số nước, trong đó có Việt
Nam, thói quen thanh toán bằng tiền mặt vẫn còn ăn sâu thì nguồn vốn huy động của
ngân hàng ít nhiều vẫn gặp khó khăn. Các tập quán tiêu dùng này khó có thể thay đổi

Nhưng đồng thời thì hiệu quả của việc huy động vốn có thể giảm do chi phí huy động
tăng. Do đó, số lượng nguồn vốn huy động được sẽ phụ thuộc chủ yếu vào chiến lược
kinh doanh hay đúng hơn là phụ thuộc vài chính bản thân ngân hàng.
1.4.2.2 Năng lực và trình độ của cán bộ ngân hàng
Không chỉ riêng ngân hàng mà trong bất cứ hoạt động nào, ngành nghề nào, yếu
tố cong người cũng phải được đặt lên hàng đầu. Các cán bộ nhân viên ngân hàng có
năng lực sẽ phán đoán, xử lí chính xác các tình huống sẽ làm cho các hoạt động huy
động vốn được thực hiện một cách tốt đẹp. Trình độ của cán bộ ngân hàng cao sẽ làm
cho các thao tác nghiệp vụ được thực hiện nhanh chóng và có hiệu quả. Thái độ trong
tiếp xúc của nhân viên với khách hàng cũng rất quan trọng. Nó có thể lôi kéo khách
hàng làm tăng nguồn vốn huy động đồng thời cũng có thể làm khách hàng ròi bỏ, gây
ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng trong hoạt động của ngân hàng, trước hết là
trong khâu huy động vốn. Các nhân viên ngân hàng là người mang hình ảnh cho cả
ngân hàng. Do đó, để tăng cường huy động vốn thì một điều cực kì quan trọng là các
nhân viên ngân hàng phải có đủ những tiêu chí của một nhân viên ngân hàng chuyên
nghiệp như: hiểu biết khách hàng, hiểu biết nghiệp vụ, hiểu biết quy trình, hoàn thiện
phong cách phục vụ.
1.4.2.3 Uy tín của ngân hàng
Đó là hình ảnh của ngân hàng trong lòng khách hàng, là niềm tin của khách hàng
đối với ngân hàng. Uy tín của mỗi ngân hàng được xây dựng, hình thành trong cả một
quá trình lâu dài. Người gửi tiền khi gửi thường chọn những ngân hàng lâu đời chứ
không phải là những ngân hàng mới thành lập. Ngân hàng lớn thường được ưu tiên lựa
chọn nhiều hơn so với những ngân hàng nhỏ. Hinhg thức bảo hiểm tiền gửi làm tăng
độ an toàn, tăng uy tín của ngân hàng. Một điều quan trọng ở nước ta là hình thức sở
hữu cũng có ảnh hưởng quan trọng tới huy động vốn. Các ngân hàng quốc doanh bao
giờ cũng có độ an toàn cao hơn cho người gửi tiền, uy tín của các NHTM quốc doanh
cao hơn so với các ngân hàng khác. Những ngân hàng có ụy tín luôn chiếm được lòng
tin của khách hàng, là tiền đề cho việc họ huy động được những nguồn vốn lớn với
chi phí rẻ hơn và tiết kiệm được thời gian.
1.4.2.4 Trình độ công nghệ ngân hàng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status