Những vấn đề cơ bản của quản lý nhà nước về kinh tế - Pdf 27

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ
PGS.TS Vũ Đình Tích
Nội dung chủ yếu của tài liệu này gồm có :
I. Nhà nước và quản lý nhà nước về kinh tế trong nền kinh tế thị trường
II. Nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về kinh tế
II.1 - Mục tiêu
II.2 - Chức năng
II.3 - Nguyên tắc
II.4 - Công cụ
II.5 - Phương pháp
II.6 - Thông tin và quyết định
II.7 - Bộ máy
II.8 - Cán bộ
II.9 - Vấn đề phân cấp
III. Kết luận

I. NHÀ NƯỚC VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1. Khái niệm Nhà nước
Nhà nước là bộ máy thống trị (hay thiết chế quyền lực chính trị) của một
hoặc một nhóm giai cấp này đối với toàn bộ các giai cấp khác trong xã hội,
đồng thời Nhà nước còn là quyền lực công đại diện cho lợi ích chung của
cộng đồng xã hội nhằm duy trì và phát triển xã hội trước lịch sử và các Nhà
nước khác.
Như vậy, Nhà nước có hai thuộc tính cơ bản: Thuộc tính giai cấp và thuộc
tính xã hội.
1
2. Nhiệm vụ của Nhà nước
- Nhà nước phải bảo vệ được sự an toàn, yên ổn cho mọi công dân trong xã
hội, giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ;

5/ Chịu sự chi phối của các quy luật khách quan của kinh tế thị trường, từ đó
hình thành một trật tự nhất định về ứng xử trong quá trình sản xuất-lưu
thông-phân phối-tiêu dùng: Quan hệ kinh tế được xác lập qua các hợp đồng;
Tiền tệ hóa các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế…
2
Đối với nền kinh tế thị trường hiện đại, ngoài các đặc trưng đã nêu, còn có
thêm các đặc trưng sau đây:
6/ Có sự xích lại gần nhau giữa các mục tiêu kinh tế và các mục tiêu xã hội.
7/ Có sự quản lý của Nhà nước.
8/ Có sự chi phối mạnh mẽ của hợp tác quốc tế.
- Ưu điểm cơ bản của cơ chế thị trường :
+ Tạo động lực thúc đẩy, kích thích sự phát triển của sản xuất;
+ Có khả năng huy động tối đa, tự phân bổ và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực xã hội;
+ Tạo ra tính phản ứng nhanh nhạy , thích ứng cao và tự trao dồi nâng cao
năng lực của các chủ thể kinh tế ;
+ Đáp ứng các nhu cầu có thể thanh toán của xã hội một cách tự nhiên mà
không một bộ máy hoạch định nào có thể thay thế được.
- Các khuyết tật chính của cơ chế thị trường :
+ Lợi ích của cá nhân hoặc một nhóm người có thể làm thiệt hại lợi ích của
những người khác trong xã hội;
+ Gây ra những biến động bất thường ( sự vận động có tính chất chu kỳ)
làm thiệt hại cho sự phát triển kinh tế;
+ Tư nhân không muốn hoặc không đủ sức cung cấp các dịch vụ công cho
xã hội;
+" Bàn tay vô hình" không thể giải quyết được các vấn đề chính trị, xã hội ,
không thể điều hòa lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội ;
+ Xu hướng hòa nhập nền kinh tế của mỗi nước vào thị trường thế giới ngày
càng tăng, từng tổ chức, doanh nghiệp dù quy mô lớn đến đâu cũng không thể ngăn
ngừa hay khắc phục được những ảnh hưởng bất lợi, khai thác triệt để các yếu tố có

thể kinh tế (cá nhân, doanh nghiệp, tập đoàn…)
Quản lý nhà nước về kinh tế là một khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứu
riêng và có nhiệm vụ phải thực hiện riêng. Quản lý nhà nước về kinh tế là một
khoa học giáp ranh giữa kinh tế học, khoa học về quản lý và khoa học về nhà
nước pháp quyền. Nhưng hơn thế nữa, quản lý nhà nước về kinh tế còn là một
nghệ thuật và là một nghề.
II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ
II.1. Mục tiêu của quản lý nhà nước về kinh tế
1. Khái niệm mục tiêu
Việc đầu tiên của quản lý nhà nước về kinh tế là xác định mục tiêu, đây
cũng là căn cứ của quá trình quản lý.
Mục tiêu của quản lý nhà nước về kinh tế là chỉ ra các phương hướng và
yêu cầu về số lượng cho các hoạt động quản lý nhằm giải quyết các vấn đề
4
cơ bản nhất như tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, xóa đói
giảm nghèo, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực…
Đặc điểm của mục tiêu quản lý(có 3), đó là :
- Tính vĩ mô: Chỉ những mục tiêu kinh tế quan trọng như tốc độ tăng
trưởng, chuyển dịch cơ cấu, lạm phát, lao động và việc làm…liên quan đến
toàn bộ nền kinh tế mới thuộc về mục tiêu quản lý nhà nước về kinh tế. Như
vậy, những vấn đề hoạt động sản xuất kinh doanh ở tầm vi mô là không
thuộc về phạm vi của quản lý nhà nước về kinh tế;
- Thống nhất giữa chất và lượng, tức là thống nhất giữa định tính và định
lượng;
- Tính tích cực, tính trình tự , tính tương hỗ.
2. Các mục tiêu cụ thể
1. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế
2. Mục tiêu công bằng kinh tế
3. Mục tiêu phúc lợi kinh tế tổng hợp
II.2. Chức năng của quản lý nhà nước về kinh tế

2. Tạo lập môi trường cho sự phát triển kinh tế
Môi trường cho sự phát triển kinh tế là tập hợp các yếu tố, các điều kiện
tạo nên khung cảnh tồn tại và phát triển của nền kinh tế.
Các loại môi trường cần thiết cho sự phát triển kinh tế : Môi trường kinh
tế ( bao gồm chính sách nâng cao thu nhập cho dân cư, chính sách hấp dẫn
đầu tư, chính sách xây dựng cơ sở hạ tầng, chính sách giá cả, tiền tệ, tiết
kiệm…); Môi trường pháp lý; Môi trường chính trị; Môi trường văn hóa-xã
hội; Môi trường sinh thái; Môi trường kỹ thuật; Môi trường quốc tế…
Những việc Nhà nước cần làm để tạo lập các môi trường:
- Đảm bảo sự ổn định về chính trị và an ninh quốc phòng, mở rộng quan hệ
đối ngoại trong đó có quan hệ kinh tế đối ngoại;
- Xây dựng và thực thi một cách nhất quán các chính sách kinh tế-xã hội
theo hướng đổi mới;
- Xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật;
- Xây dựng mới và nâng cấp cơ sở hạ tầng;
- Xây dựng nền văn hóa…
3. Chức năng hỗ trợ phát triển và đảm bảo cơ sở hạ tầng cho phát triển
Nhà nước phải đảm nhận trách nhiệm hỗ trợ cho các chủ thể kinh tế , các
doanh nghiệp phát triển. Sự hỗ trợ này không chỉ về pháp lý, quản lý, tạo lập
môi trường … mà còn phải tạo dựng cơ sở vật chất , hạ tầng kinh tế kỹ thuật,
đặc biệt là cơ sở hạ tầng như đường sá, sân bay, bến cảng…đòi hỏi vốn đầu
tư rất lớn, từng chủ thể kinh tế ngoài Nhà nước không muốn làm hoặc không
đủ tiềm lực làm .
6
4. Điều tiết sự hoạt động của nền kinh tế
Nhà nước điều tiết sự hoạt động của nền kinh tế là Nhà nước sử dụng
quyền lực của mình chi phối các hành vi kinh tế của các chủ thể trong nền
kinh tế thị trường, ngăn chặn các tác động tiêu cực đến quá trình hoạt động
kinh tế, ràng buộc chúng phải tuân thủ các quy tắc đã định sẵn nhằm đảm
bảo sự phát triển bình thường của nền kinh tế.

năng quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp: Về mục tiêu quản lý; Về
quan hệ quản lý; Về đối tượng quản lý; Về công cụ quản lý; Về nguyên tắc
tổ chức quản lý.
6- Tiết kiêm và hiệu quả
7- Mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế với yêu cầu cùng có lợi, tôn trọng độc
lập chủ quyền lãnh thổ
8- Gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hóa-xã hội, đảm bảo định hướng
xã hội chủ nghĩa
9- Pháp chế xã hội chủ nghĩa
II.4. Công cụ của quản lý nhà nước về kinh tế
1. Khái niệm
Công cụ quản lý nhà nước về kinh tế là tổng thể những phương tiện hữu
hình và vô hình mà Nhà nước sử dụng để tác động lên mọi chủ thể kinh tế
trong xã hội nhằm thực hiện mục tiêu quản lý nền kinh tế quốc dân.
Công cụ quản lý có 3 đặc điểm:
- Tính chủ thể : Chủ thể sử dụng các công cụ quản lý nhà nước về kinh tế là
các cơ quan quản lý của Nhà nước về kinh tế, chứ không phải là cơ quan
quản lý của Nhà nước bất kỳ;
- Tính mục đích: Nhằm thực hiện mục tiêu quản lý kinh tế vĩ mô, chứ không
phải là mục tiêu quản lý của từng ngành, từng vùng, từng địa phương, từng
doanh nghiệp;
- Tính hệ thống: Công cụ quản lý nhà nước về kinh tế là một hệ thống bao
gồm nhiều chủng loại, trong đó có công cụ quản lý hữu hình và công cụ
quản lý vô hình, công cụ quản lý trực tiếp và công cụ quản lý gián tiếp .
2. Các công cụ . Có 4 công cụ :
1. Pháp luật
8
Pháp luật thường được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt
buộc chung (quy phạm pháp luật) thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và
cộng đồng xã hội, do Nhà nước đặt ra, thực thi và bảo vệ, nhằm mục tiêu

+ Quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội;
+ Kế hoạch 5 năm;
+ Kế hoạch hàng năm;
9
+ Chương trình;
+ Dự án;
+ Ngân sách .
3. Chính sách
Chính sách là một tập hợp các giải pháp nhất định để thực hiện các mục
tiêu bộ phận trong quá trình đạt tới các mục tiêu chung của sự phát triển kinh
tế-xã hội.
Chính sách là một hệ thống phức tạp gồm nhiều loại, có thể được chia
thành 2 nhóm chủ yếu, đó là :
- Các chính sách kinh tế : Chính sách cơ cấu , chính sách tài chính, chính
sách tiền tệ, chính sách kinh tế đối ngoại…
- Các chính sách xã hội : Chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình, chính
sách lao động và việc làm, chính sách giáo dục, chính sách văn hóa, chính
sách khoa học và công nghệ…
4. Tài sản quốc gia ( hay tiềm lực kinh tế quốc gia)
Tài sản quốc gia theo nghĩa rộng là toàn bộ mọi nguồn lực của đất nước,
theo nghĩa hẹp là nguồn vốn và các phương tiện vật chất-kỹ thuật mà Nhà
nước có thể sử dụng để tiến hành quản lý nền kinh tế quốc dân. Ở đây ta xét
theo nghĩa hẹp, đó là :
- Công sở,
- Ngân sách nhà nước,
- Tài nguyên thiên nhiên,
- Công khố ( kho bạc, dự trữ ngoại tệ, tiền mặt, vàng bạc, đá quý…; Có chức
năng chủ yếu là dự trữ và bảo hiểm ),
- Kết cấu hạ tầng,
- Doanh nghiệp nhà nước,

tạo ra sự phục tùng của các cá nhân và các tổ chức trong hoạt động kinh tế.
Phương pháp hành chính đòi hỏi chủ thể quản lý phải có quyết định dứt
khoát, rõ ràng, dễ hiểu, có địa chỉ người thực hiện, loại trừ khả năng có sự
giải thích khác nhau đối với nhiệm vụ được giao.
Phương pháp hành chính tác động vào đối tượng quản lý theo hai hướng:
tác động về mặt tổ chức và tác động điều chỉnh hành động của đối tượng.
Theo hướng tác động về mặt tổ chức, Nhà nước xây dựng và không ngừng
hoàn thiện khung pháp luật, tạo ra một hành lang pháp lý cho các chủ thể
kinh tế hoạt động. Theo hướng tác động điều chỉnh hành động của đối
tượng, Nhà nước quy định những thủ tục hành chính buộc tất cả các chủ thể
(cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, hộ gia đình) đều phải tuân thủ.
Phương pháp hành chính hết sức cần thiết trong những trường hợp hệ
thống quản lý rơi vào tình huống khó khăn phức tạp. Cần phân biệt phương
11
pháp hành chính với kiểu hành chính quan liêu do việc lạm dụng các kỷ luật
hành chính, sử dụng mệnh lệnh thiếu khoa học, chủ quan.
Phương pháp hành chính chỉ có hiệu quả cao khi các quyết định có căn
cứ khoa học, được luận chứng đầy đủ về mặt kinh tế. Khi sử dụng phương
pháp hành chính phải gắn chặt quyền hạn với trách nhiệm của cấp ra quyết
định. Cấp ra quyết định càng cao, phạm vi tác động của quyết định càng
rộng, nếu sai thì tổn thất càng lớn. Người ra quyết định phải chịu trách
nhiệm hoàn toàn về quyết định của mình.
2. Phương pháp kinh tế
Phương pháp kinh tế trong quản lý nhà nước về kinh tế là cách thức tác
động gián tiếp của Nhà nước lên đối tượng quản lý nhằm làm cho họ quan
tâm đến hiệu quả cuối cùng, từ đó mà tự giác, chủ động hoàn thành tốt
nhiệm vụ được giao, không cần phải có sự tác động thường xuyên của Nhà
nước bằng phương pháp hành chính.
Mặt mạnh của phương pháp kinh tế chính là ở chỗ nó tác động vào lợi
ích kinh tế của đối tượng quản lý, từ đó tự họ lựa chọn phương án hoạt động

của họ trong việc thực hiện nhiệm vụ.
Con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội, do đó để tác động lên
con người không chỉ dùng các phương pháp hành chính, kinh tế mà cần có
tác động về tinh thần, tâm lý…
Đặc trưng của phương pháp giáo dục là tính thuyết phục, tức là phải làm
cho người lao động phân biệt phải - trái, đúng - sai, lợi - hại, đẹp - xấu, thiện
- ác, từ đó nâng cao tính tự giác của người lao động.
Nội dung giáo dục : Phổ biến đường lối chủ trương chính sách để mọi
người hiểu, ủng hộ và quyết tâm thực hiện; Giáo dục ý thức lao động sáng
tạo, có năng suất, hiệu quả; Xóa bỏ tâm lý và phong cách của người sản xuất
nhỏ, người làm thuê, xây dựng tác phong công nghiệp.
Các phương tiện giáo dục : Thông qua các phương tiện truyền thông đại
chúng, sử dụng các đoàn thể, các tổ chức xã hội, các hội nghị tổng kết, hội
thi, khen thưởng, hội chợ…
4. Vận dụng các phương pháp quản lý về kinh tế
Để thực hiện tốt các chức năng quản lý của nhà nước về kinh tế, vấn đề
không chỉ đơn thuần là lựa chọn các phương pháp phù hợp với đối tượng,
mà điều quan trọng hơn là phải vận dụng tổng hợp các phương pháp quản lý
đó, bởi lẽ:
- Các quy luật khách quan là một hệ thống, chúng đồng thời tác động lên
nền kinh tế. Phương pháp quản lý với tư cách là cách thức vận dụng có mục
đích các quy luật nên phải vận dụng tổng hợp các quy luật, các phương pháp
đó.
- Các đối tượng quản lý bao gồm tổng thể các chủ thể và các quan hệ
phức tạp giữa chúng, hoạt động theo những động cơ hết sức khác nhau, theo
những mục tiêu khác nhau. Vì vậy phải vận dụng nhiều phương pháp khác
nhau để tác động một cách phù hợp vào các đối tượng khác nhau.
13
- Mỗi phương pháp quản lý riêng biệt đều có hạn chế nhất định, cần phải
vận dụng tổng hợp các phương pháp để hỗ trợ nhau nhằm giải quyết nhiệm

hoạt động của mình. Văn bản là cơ sở cho công tác kiểm tra, thanh tra, giám
sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức và doanh nghiệp.
Có hai loại hình văn bản: Văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành
chính thông thường .
- Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
ban hành theo một trình tự và thủ tục chặt chẽ về mặt pháp lý, chứa đựng các
quy tắc xử sự chung, bắt buộc đối với mọi người. Phạm vi điều chỉnh của
văn bản quy phạm pháp luật mang tính chung, không chỉ đích danh một cơ
quan, tổ chức, cá nhân cụ thể nào, được sử dụng lặp đi lặp lại trong một
không gian, thời gian nhất định, cho đến khi có văn bản mới thay thế hoặc
bãi bỏ, đình chỉ.
Văn bản quy phạm pháp luật có các loại cụ thể dưới đây :
+ Các văn bản luật : Bao gồm Hiến pháp, Luật;
+ Các văn bản dưới luật mang tính chất luật: Bao gồm Nghị quyết của Quốc
hội; Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Lệnh, Quyết
định của Chủ tịch nước.
+ Văn bản pháp quy: Bao gồm Nghị quyết và Nghị định của Chính phủ,
Quyết định và Chỉ thị của Thủ thướng Chính phủ, Quyết định và Thông tư
của Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Văn bản của chính quyền
địa phương các cấp .
- Văn bản hành chính thông thường : Rất đa dạng như công văn, tờ trình,
báo cáo, thông báo, thông cáo, biên bản,diễn văn…
II.7. Bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế
1. Bộ máy nhà nước
Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến
địa phương, được tổ chức theo những nguyên tắc thống nhất,tạo thành một
chỉnh thể đồng bộ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Cơ quan nhà nước là một bộ phận của bộ máy nhà nước, mang tính độc
lập tương đối, có chức năng nhiệm vụ nhất định, được thành lập theo quy
định của pháp luật để thực hiện các chức năng nhiệm vụ được Nhà nước

+ Thực hiện quyền giám sát tối cao;
+ Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước;
+ Quyết định chính sách tài chính-tiền tệ quốc gia;
+ Quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách nhà nước, phê
chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước;
+ Quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các loại thuế…
- Chính phủ: Là cơ quan chấp hành của Quốc hội, là cơ quan hành chính cao
nhất. Cơ cấu Chính phủ gồm có : Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ
trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Chính phủ làm việc theo chế độ
tập thể, tức là thảo luận tập thể và quyết định theo đa số.Trong quản lý kinh
tế, Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
16
+ Thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân;
+ Xây dựng đề án kế hoạch phát triển KT-XH dài hạn, 5 năm, hàng năm
trình Quốc hội; Chỉ đạo thực hiện các kế hoạch đó;
+ Lập dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách nhà nước và quyết
toán ngân sách nhà nước hàng năm trình Quốc hội; Tổ chức và điều hành
thực hiện ngân sách nhà nước được Quốc hội quyết định;
+ Quyết định các chính sách cụ thể, biện pháp về tài chính, tiền tệ, tiền
lương giá cả;
+ Thống nhất quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sở hữu toàn dân,
tài nguyên quốc gia, thực hành chính sách tiết kiệm;
+ Thi hành chính sách bảo vệ, cải tạo, tái sinh và sử dụng hợp lý các nguồn
tài nguyên thiên nhiên;
+ Thống nhất quản lý và mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại;
+ Tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê nhà nước.
- Thủ tướng Chính phủ: Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ
và lãnh đạo công tác của Chính phủ, các thành viên của Chính phủ, Thủ
trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các cấp.
- Bộ và cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ: Bộ là cơ quan nhà

định các đường lối chính sách, các cơ chế quản lý kinh tế-xã hội của đất
nước . Cán bộ quản lý kinh tế là người đưa ra phương án sử dụng có hiệu
quả các nguồn lực của xã hội . Cán bộ quản lý còn là người đại diện cho Nhà
nước, là người thi hành công vụ, là cầu nối giữa Nhà nước và nhân dân . Cán
bộ quản lý là một trong các nhân tố đảm bảo sự thành công của quá trình xây
dựng và phát triển kinh tế . Vai trò cán bộ quản lý ngày càng tăng, đòi hỏi
người cán bộ quản lý kinh tế phải phát huy nhân tố chủ quan, có bản lĩnh, tri
thức và năng động vận dụng các quy luật khách quan cũng như các quan
điểm , đường lối, chính sách của Đảng trong công cuộc đổi mới .
II.9. Vấn đề phân cấp trong quản lý nhà nước về kinh tế
1. Sự cần thiết khách quan
Hoạt động quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về kinh tế nói
riêng là lao động có tính tập thể. Nhà nước là một hệ thống do nhiều cơ quan
nhà nước lập thành, quyền quản lý của nhà nước cũng là một hệ thống gồm
nhiều quyền, thực hiện trên quy mô rộng lớn theo không gian và thời gian,
không thể tập trung quyền lực vào tay bất kỳ một cá nhân hay một tổ chức
nào trong bộ máy nhà nước được. Vấn đề là phải thiết kế một hệ thống các
cơ quan nhà nước trong đó mỗi cơ quan được phân công một hoặc một số
quyền, có phối hợp gắn bó với nhau đảm bảo hiệu quả quản lý chung . Muốn
thực hiện điều này, phải thực hiện việc phân công, phân cấp hoạt động quản
18
lý nhà nước về kinh tế, đó là nguyên nhân sâu xa của phân cấp quản lý nhà
nước về kinh tế.
Hệ thống kinh tế quốc dân-đối tượng của quản lý là một hệ thống có quy
mô hết sức to lớn, trong không gian rộng lớn, với các hoạt động và quá trình
sản xuất hết sức phức tạp, đòi hỏi phải được phân chia các đối tượng để làm
căn cứ giao việc cho các cơ quan quản lý chúng. Việc phân cấp quản lý nhà
nước về kinh tế đã và đang diễn ra ở tất cả các nước và được coi là điều có
tính tất yếu khách quan.
2. Khái niệm phân cấp

bức tranh khái quát và tương đối toàn diện về chủ đề này, chúng tôi cố gắng
nêu tóm gọn và hệ thống hóa các vấn đề cơ bản của quản lý nhà nước về
kinh tế.
Những vấn đề cơ bản cần nắm chắc trong quản Chuyên đề này là :
1. Khái niệm nền kinh tế thị trường ( đặc trưng, ưu điểm, khuyết tật), khái
niệm quản lý nhà nước về kinh tế.
2. Những nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về kinh tế :
1/ - Mục tiêu (có 3)
2/ - Chức năng ( có 5 )
3/- Nguyên tắc ( có 9)
4/ - Công cụ ( có 4 )
5/ - Phương pháp ( có 3)
6/ - Bộ máy
Và các vấn đề khác .
Mặc dù được kế thừa các kiến thức của các ngành khoa học có liên quan
đi trước, song đây vẫn là một bộ môn khoa học mới đối với chúng ta-bộ môn
khoa học xã hội gắn chặt với thể chế chính trị-kinh tế- xã hội của nước ta,
nhất là trong giai đoạn còn phải nghiên cứu hoàn thiện nhiều vấn đề không
chỉ từ lý luận , mà còn liên quan chặt chẽ đến thực tiễn xây dựng và quản lý
nền kinh tế thị trường của Việt Nam, nên chắc chắn còn nhiều nội dung cần
được hoàn thiện đầy đủ hơn. Để đáp ứng yêu cầu đi sâu hơn của bạn đọc,
dưới đây sẽ kê danh sách các tài liệu tham khảo chính đã được sử dụng trong
quá trình biên soạn tài liệu Chuyên đề này . Rất mong nhận được các ý kiến
đóng góp xây dựng của bạn đọc .
Hà Nội , Ngày 15-8-2010
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Kinh tế quốc dân : Giáo trình Quản lý nhà nước về
kinh tế . Hà Nội 2005 .
20
2. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh : Tập bài giảng Quản lý nhà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status