thảo luận môn kinh tế đầu tư đề tài NỘI DUNG VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ VÀO TÀI SẢN HỮU HÌNH VÀ ĐẦU TƯ VÀO TÀI SẢN VÔ HÌNH - Pdf 27

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KINH TẾ ĐẦU TƯ
BÀI TẬP NHÓM
MÔN KINH TẾ ĐẦU TƯ
Đề tài:
NỘI DUNG VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ VÀO
TÀI SẢN HỮU HÌNH VÀ ĐẦU TƯ VÀO TÀI SẢN VÔ HÌNH
Nhóm sinh viên thực hiện : Nhóm 13
Lớp chuyên ngành : Đầu tư 49
Lớp : Kinh tế đầu tư I_2009_2010
Khoa : Kinh tế đầu tư
Khóa : 49
Giáo viên hướng dẫn : TS. Từ Quang Phương
TS. Phạm Văn Hùng
HÀ NỘI, 2010
DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN TRONG NHÓM
1. Trịnh Đức Giang
2. Đinh Ngọc Duy
3. Dương Tuấn Linh
4. Ngụ Thanh Thuận
5. Nguyễn Thị Khánh Linh
Kinh tế đầu tư
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TSHH Tài sản hữu hình
TSVH Tài sản vô hình
NĐT Nhà đầu tư
CSHT Cơ sở hạ tầng
VN Việt Nam
KHCB Khoa học cơ bản
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại

Theo thang i m 10, Vi t Nam c qu c t ánh giá ch t l ng đ ể ệ đượ ố ế đ ấ ượ
ngu n nhân l c t 3,79 i m, ng sau Thái Lan (4,04), Philippines ồ ự đạ đ ể đứ
(4,5 58
, Malaysia (5,73), n (5,76) "".Ấ Độ 58
14/09/2007: T ng liên o n Lao ng Vi t Nam v a th c hi n i u ổ đ à độ ệ ừ ự ệ đ ề
tra, kh o sát th c tr ng vi c l m, thu nh p v i s ng c a ng i lao ả ự ạ ệ à ậ à đờ ố ủ ườ
ng trong các doanh nghi p FDI t i m t s a ph ng thu hút nhi uđộ ệ ạ ộ ố đị ươ ề
doanh nghi p có v n u t n c ngo i. Theo ó, kho ng 74% lao ệ ố đầ ư ướ à đ ả
ng có vi c l m n nh, 22% lao ng không có vi c l m n nh, độ ệ à ổ đị độ ệ à ổ đị
4% thi u vi c l m. Ch có kho ng 50% lao ng có o t o c ế ệ à ỉ ả độ đà ạ đượ
l m úng ngh . K n ng l m vi c c a lao ng Vi t Nam, c bi t à đ ề ỹ ă à ệ ủ độ ệ đặ ệ
các lao ng m i ra tr ng l n i lo th ng tr c c a doanh nghi p. độ ớ ườ à ỗ ườ ự ủ ệ
Theo ý ki n c a nhi u ch doanh nghi p, các cán b ph trách nh n ế ủ ề ủ ệ ộ ụ ậ
s thì nguyên nhân chính c a th c tr ng n y n y sinh ngay t trong ự ủ ự ạ à ả ừ
gi ng ng, sinh viên ch c h c ki n th c m ch a c rèn ả đườ ỉ đượ ọ ế ứ à ư đượ
Lớp Kinh tế đầu tư I
4
Kinh tế đầu tư
luy n k n ng. Nhi u doanh nghi p ã ph i o t o l i sinh viên khi ệ ỹ ă ề ệ đ ả đà ạ ạ
ra tr ng v v a o t o v a ph i lo l ng vì nhân viên luôn có ý nhườ à ừ đà ạ ừ ả ắ đị
nh y vi c, tả ệ 58
công vi c m i có thêm "kinh nghi m".ệ ớ để ệ 59
K t qu kh o sát c a Ngân h ng Th gi i c ng cho th y: Kho ng ế ả ả ủ à ế ớ ũ ấ ả
50% các công ty v may m c, hóa ch t ánh giá lao ng c o ề ặ ấ đ độ đượ đà
t o không áp ng nhu c u c a mình. Kho ng 60% lao ng tr t t ạ đ ứ ầ ủ ả độ ẻ ố
nghi p t các tr ng d y ngh v tr ng C c n c o t o l i ệ ừ ườ ạ ề à ườ Đ ầ đượ đà ạ ạ
ngay sau khi tuy n d ng. M t s doanh nghi p ph n m m c n o ể ụ ộ ố ệ ầ ề ầ đà
t o l i ít nh t 1 n m cho kho ng 80%-90% ạ ạ ấ ă ả 59
v o h th ng giáo d c, o t o hi n nayà ệ ố ụ đà ạ ệ 59
Ngân sách nh n c d nh cho giáo d c liên t c t ng qua các n m : à ướ à ụ ụ ă ă

chỗ đứng trên thị trường thì những sản phẩm mang tên thương hiệu này sẽ dễ
được người tiêu dùng mua hơn do họ đã có niềm tin vào thương hiệu đó nên
cũng tin tưởng vào chất lượng sản phẩm.
Cũng có thể thấy, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì không thể
tách rời hai yếu tố tài sản vô hình và tài sản hữu hình. Một con người được
coi là có cuộc sống tốt và đầy đủ chỉ khi đời sống vật chất và đời sống tinh
thần của người đó đều được thoả mãn. Người ta không thể sống ( hay không
thực sự sống) khi mà chỉ được đáp ứng
Người ta không thể sống ( hay không thực sự sống) khi mà chỉ được đáp ứng
đời sống vật chất trong khi đời sống tinh thần không hề được quan tâm đến và
ngược lại.Đây là hai mặt thống nhất, gắn bó mật thiết không thể tách rời. Mối
quan hệ giữa tài sản hữu hình và tài sản vô hình trong một doanh nghiệp cũng
giống như mối quan hệ giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của một
con người. Mối quan hệ này và sự nhân thức về tầm quan trọng của nó có ý
nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp.
Lớp Kinh tế đầu tư I
6
Kinh tế đầu tư
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ Lí LUẬN CHUNG VỀ NỘI DUNG VÀ MỐI QUAN
HỆ CỦA ĐẦU TƯ VÀO TÀI SẢN HỮU HÌNH VÀ TÀI SẢN VÔ HÌNH
I. NỘI DUNG ĐẦU TƯ VÀO TÀI SẢN HỮU HÌNH VÀ TÀI SẢN VÔ
HÌNH
1. Đầu tư
1.1. Khái niệm
Đầu tư là việc sử dụng phối hợp các nguồn lực vào một hoạt động nào đó
nhằm thu được lợi ích hoặc mục tiêu cho chủ đầu tư trong tương lai. Đầu tư
đòi hỏi rất lớn nhiều loại nguồn lực. Theo nghĩa hẹp, nguồn lực sử dụng cho
đầu tư là tiền vốn. Theo nghĩa rộng, nguồn lực đầu tư bao gồm cả tiền vốn,
đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên.

- Quy mô về tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư là
rất lớn.
- Thời kỳ đầu tư kéo dài.
- Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài.
- Quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành kết quả đầu tư
chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội.
- Đầu tư có độ rủi ro cao.
1.3. Phân loại đầu tư
- Theo bản chất của các đối tượng đầu tư có: Đầu tư vào tài sản hữu
hình, Đầu tư vào tài sản vô hình.
- Theo phân cấp quản lý có: Đầu tư dự án nhóm A, Đầu tư dự án nhóm
B, Đầu tư dự án nhóm C.
Lớp Kinh tế đầu tư I
8
Kinh tế đầu tư
- Theo lĩnh vực hoạt động của kết quả đầu tư: Đầu tư phát triển sản
xuất kinh doanh, Đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, Đầu tư phát triển cơ sở
hạ tầng.
- Theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu tư: Đầu tư cơ bản, Đầu
tư vận hành.
- Theo giai đoạn hoạt động của các kết quả đầu tư trong quá trình tái
sản xuất xã hội: Đầu tư thương mại, Đầu tư sản xuất.
- Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư:
Đầu tư ngắn hạn, Đầu tư dài hạn.
- Theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư: Đầu tư gián tiếp, Đầu tư trực tiếp.
- Theo nguồn vốn trên phạm vi quốc gia: Đầu tư bằng nguồn vốn trong
nước, Đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài
2. Đầu tư vào tài sản hữu hình
2.1. Khái niệm và đặc điểm tài sản hữu hình
2.1.1. Khái niệm TSHH

+ Khó có thể di dời: do tài sản hữu hình thường là nhà cửa, vật kiến
trúc, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, thiết bị, dụng cụ…được hình
thành sau quá trình thi công xây dựng hoặc được dùng trong sản xuất kinh
doanh nên thường khó di chuyển
+ Có thể dễ dàng định giá tài sản: Tài sản hữu hình được đánh giá lần
đầu và có thể đánh giá lại trong quá trình sử dụng. Tài sản hữu hình được tính
giá theo nguyên giá (giá trị ban đầu), giá trị đã hao mòn và giá trị còn lại.
Nguyên giá là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có được
tài sản hữu hình tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào trạng thái sẵn sàng
sử dụng
Giá trị đã hao mòn (Giá trị phải khấu hao) là nguyên giá của tài sản hữu
hình ghi trên báo cáo tài chính trừ đi giá trị thanh lý ước tính của tài sản đó
Lớp Kinh tế đầu tư I
10
Kinh tế đầu tư
Giá trị thanh lý (Giá trị còn lại) là giá trị ước tính thu được khi hết thời
gian sử dụng hữu ích của tài sản sau khi trừ chi phí thanh lý ước tính.
2.2. Nội dung đầu tư vào tài sản hữu hình
2.2.1. Đầu tư cố định vào tài sản trong kinh doanh
Đầu tư vào tài sản cố định hay đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu
tư nhằm tái tạo tài sản cố định của danh nghiệp. Đầu tư xây dựng cơ bản bao
gồm các hoạt động chính như: xây lắp và mua sắm máy móc thiết bị. Trong
doanh nghiệp, đặc biệt trong sản xuất kinh doanh, để các hoạt động diễn ra
bình thường đều cần xây dựng nhà xưởng, kho tàng, các công trình kiến trúc,
mua và lắp đặt trên nền bệ các máy móc thiết bị…Hoạt động này đòi hỏi vốn và
chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp, gồm có:
- Đầu tư vào xây dựng nhà xưởng, các công trình kiến trúc, kho tàng,
bến bãi, phương tiện vận tải, truyền dẫn: một doanh nghiệp muốn sản xuất
được cần phải có nhà xưởng, nơi sản xuất. Hoạt đọng đầu tư này thường xảy
ra trước khi tiến hành sản xuất trong thời gian khá dài, thường từ 3 - 5 năm

- Đầu tư vào bán thành phẩm
- Đầu tư vào sản phẩm tồn trữ doanh nghiệp
2.3. Tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư vào tài sản hữu hình
2.3.1. Khái niệm hiệu quả đầu tư
Hiệu quả đầu tư là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các
kết quả kinh tế - xã hội đã đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí phải
bỏ ra để có các kết quả đó trong một thời kỳ nhất định
Hiệu quả của hoạt động đầu tư được đánh giá thông qua các chỉ tiêu đo
lường hiệu quả. Việc xác định các chỉ tiêu này phụ thuộc vào mục tiêu của
chủ đầu tư đưa ra
Lớp Kinh tế đầu tư I
12
Kinh tế đầu tư
Hiệu quả đầu tư được đánh giá là có hiệu quả khi trị số của các chỉ tiêu
đo lường hiệu quả thỏa mãn tiêu chuẩn hiệu quả trên cơ sở sử dụng các định
mức hiệu quả do chủ đầu tư định ra
2.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của đầu tư
Hệ thống đánh giá hiệu quả tài chính của đầu tư gồm có:
- Chỉ tiêu lợi nhuận thuần, thu nhập thuần của dự án
+ Chỉ tiêu lợi nhuận thuần được tính cho tưng năm, cho cả đời dự án
hoặc bình quân năm của đời dự án
Lợi nhuận thuần từng năm được xác định như sau:
W
i
= O
i
- C
i
Trong đó: W
i

sử dụng vốn càng cao
- Chỉ tiêu tỷ số lợi ích - chi phí: B/C
- Chỉ tiêu thời gian thu hồi vốn đầu tư: T
- Chỉ tiêu tỷ suất hoàn vốn nội bộ: IRR
- Chỉ tiêu điểm hòa vốn
2.4. Kết quả và hiệu quả của việc đầu tư vào TSHH
Kết quả và hiệu quả của việc đầu tư vào TSHH gồm có:
- Khối lượng vốn đầu tư thực hiện: là tổng số tiền đã chi để tiến hành
các hoạt động của các công cuộc đầu tư bao gồm các chi phí cho công tác xây
dựng, chi phí cho công tác mua sắm và lắp đặt thiết bị, chi phí quản lý và chi
phí khác
- Tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm
+ Tài sản cố định huy động là công trình hay hạng mục công trình, đối
tượng xây dựng có khả năng phát huy tác dụng độc lập (làm ra sản phẩm hàng
hóa hoặc tiến hành các hoạt động dịch vụ) đã kết thúc quá trình xây dựng,
mua sắm, đã làm xong thủ tục nghiệm thu sử dụng, có thể đưa vào hoạt động
được ngay
+ Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm: Khi các tài sản cố định được
huy động vào sử dụng, chúng đã làm gia tăng năng lực sản xuất, phục vụ cho
nền kinh tế. Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm là khả năng đáp ứng nhu
cầu sản xuất, phục vụ của các tài sản cố định đã được huy động vào sử dụng
để sản xuất ra sản phẩm hoặc tiến hành các hoạt động dịch vụ. Năng lực sản
Lớp Kinh tế đầu tư I
14
Kinh tế đầu tư
xuất phục vụ được thể hiện ở công suất hoặc năng lực phát huy tác dụng của
các tài sản cố định được huy động
3. Đầu tư vào tài sản vô hình
3.1. Khái niệm và đặc điểm đầu tư vào TSVH
3.1.1. Khái niệm TSVH

hữu tài sản, quyền sử dụng tài sản và quyền định đoạt tài sản.
Một tài sản trí tuệ nếu thỏa mãn các điều kiện bảo hộ pháp lý cụ thể
theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ sẽ trở thành một đối tượng sở hữu
trí tuệ (intellectual property - IP) như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn
hiệu, chỉ dẫn địa lý, tác phẩm có bản quyền (copyright) … Tập hợp các đối
tượng sở hữu trí tuệ mà một doanh nghiệp nắm giữ được gọi là tập đối tượng
sở hữu trí tuệ (IP Portfolio) của doanh nghiệp đó. Một đối tượng sở hữu trí tuệ
nếu được doanh nghiệp xúc tiến đầy đủ các biện pháp hoặc thủ tục bảo hộ
thích ứng sẽ xác lập nên một quyền sở hữu trí tuệ (IP right) như bằng độc
quyền sáng chế, bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp, giấy chứng nhận
đăng ký nhãn hiệu … Một quyền sở hữu trí tuệ có thể có tính độc quyền tuyệt
đối (như bằng độc quyền sáng chế) hoặc độc quyền tương đối (như bí mật
kinh doanh hoặc các tác phẩm có bản quyền). Điểm đáng chú ý của các đối
tượng sở hữu trí tuệ so với các tài sản trí tuệ khác là, pháp luật sở hữu trí tuệ
không chỉ điều chỉnh quá trình xác lập, bảo vệ và chuyển giao quyền tài sản
đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ, mà còn chú trọng bảo vệ quyền nhân thân
của các tác giả đã tạo ra các đối tượng sở hữu trí tuệ đó (như quyền đứng tên
trên văn bằng độc quyền, quyền đặt tên cho tác phẩm, quyền nhận thù lao và
giải thưởng liên quan …).
Việc chuyển giao hẳn quyền sở hữu (bao gồm cả quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng và quyền định đoạt) đối với một tài sản trí tuệ cụ thể hoặc một
đối tượng sở hữu trí tuệ cho một chủ thể khác được gọi là sự chuyển nhượng
Lớp Kinh tế đầu tư I
16
Kinh tế đầu tư
tài sản (assignment), như trong trường hợp Unilever mua lại nhãn hiệu P/S
của Công ty hoá mỹ phẩm P/S. Việc chủ sở hữu vẫn nắm quyền sở hữu tài sản
và chỉ cấp phép cho một chủ thể khác sử dụng tài sản trí tuệ liên quan của
mình gọi là sự cấp li-xăng (licensing), như trong trường hợp Unilever cấp li-
xăng cho Kinh Đô sử dụng nhãn hiệu WALL trong một thời gian ngắn để

hoặc quy trình, sẽ được bảo hộ độc quyền cho người đăng ký trước nếu thỏa
ba điều kiện: có khả năng áp dụng công nghiệp, có tính mới và có trình độ
sáng tạo. Một nhà sáng chế hoặc một doanh nghiệp có thể nộp đơn đăng tất cả
các sáng chế mà học có ngay khi mỗi sáng chế vừa phát sinh để giành quyền
ưu tiên. Sau đó, tùy theo điều kiện thương mại hoá của mỗi sáng chế, họ có
thể tạm giữ kín sáng chế trong vòng 19 tháng để quan sát hoặc chuẩn bị thị
trường, để hoàn thiện sáng chế … hay cho công bố để chào bán hoặc chào
mời hợp tác, để có quyền tạm thời khuyến cáo các doanh nghiệp khác không
được khai thác … Cũng từ sau ngày nộp đơn, họ có một thời hạn là 42 tháng
để ra quyết định cuối cùng là có nên lấy bằng độc quyền hay không. Có khi
chỉ một thời gian ngắn sau khi đăng ký, đã xuất hiện một sáng chế khác ưu
việt hơn của người khác, hoặc có khi sau khi đã công bố và tìm mọi cách xâm
nhập thị trường mà vẫn không thành công, người đăng ký có thể từ bỏ đơn
sáng chế đã nộp do sáng chế không có triển vọng thương mại hoá. Các tập
đoàn công nghiệp quốc tế hàng năm đều đăng ký vài ngàn đơn sáng chế vào
nhiều nước khác nhau trong đó có VN, chủ yếu là để ém trước các thị trường
(preempt the markets) của các sản phẩm dự định được sản xuất theo các sáng
chế đã nộp đơn. Họ có thể tiến hành lấy bằng độc quyền hoặc không trong
vòng một, hai, ba, bốn hoặc năm năm sau tùy theo giá trị khai thác thương
mại của mỗi sáng chế. Theo đó, hệ thống đăng ký sáng chế về bản chất là một
hệ thống pháp lý trợ giúp kinh doanh công nghệ chứ không phải là hệ thống
để thể hiện hoặc tôn vinh tài năng. Cũng như mọi loại sản phẩm mới khác, có
Lớp Kinh tế đầu tư I
18
Kinh tế đầu tư
công nghệ mới sẽ hết sức đắt giá nhưng sẽ có nhiều hơn các công nghệ mới
chỉ mang tính lót đường cho tri thức và công nghiệp.
- Nhãn hiệu (brand/trademark) là dấu hiệu để phân biệt các sản phẩm
(hàng hoá và/hoặc dịch vụ) cùng loại. Giá trị của nhãn hiệu đuợc hình thành
dần trong tiến trình tiếp thị và có thể phân tách thành năm thành tố giá trị

bản chất chức năng của thương hiệu với chức năng của nhãn hiệu trong cách
tiếp cận này sẽ giúp phát triển các chiến thuật và sách lược khai thác mối
tương quan giữa thương hiệu (corporate brand) với các nhãn hiệu (brand)
trong tập nhãn hiệu (brand portfolio) của doanh nghiệp. Không như giá trị của
nhãn hiệu về cơ bản được hình thành trong mối quan hệ với mảng khách hàng
mục tiêu (target segment), giá trị của thương hiệu được hình thành qua quá
trình giao kết và giao tiếp với hàng loạt các đối tác kinh doanh như: các nhà
cung ứng, các nhà phân phối, khách hàng, các nhà đầu tư, cổ đông, người lao
động trực thuộc, chính quyền, giới báo chí, giới phân tích … mà vào từng giai
đoạn kinh doanh khác nhau, một đối tác nào đó lại có vai trò quan trọng hơn
đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Đó cũng là quá trình giúp doanh
nghiệp thiết lập nên các mối quan hệ (relationships), xác lập các quyền
(rights) được thụ hưởng, quản lý các công việc đang tiến triển (going
concerns), phát triển các tài sản trí tuệ và tạo dựng nên lợi thế hình ảnh
(corporate goodwill) cho doanh nghiệp. Năm thành tố vừa liệt kê cấu thành
phần tài sản vô hình của doanh nghiệp, kết hợp cùng nguồn vốn tiền tệ và các
tài sản hữu hình khác xác lập và củng cố giá trị của thương hiệu trên trường
kinh doanh, phản ánh qua một trong những thước đo chủ yếu là giá trị cổ
phiếu của doanh nghiệp một khi đã được tung vào sàn giao dịch chứng khoán.
Do vậy, việc chuyển nhượng tên thương mại hoặc thương hiệu bao giờ cũng
phải đi kèm cùng toàn bộ cơ sở kinh doanh liên quan.
Lớp Kinh tế đầu tư I
20
Kinh tế đầu tư
3.1.3. Đặc điểm TSVH
+ Gắn liền với chủ thể nhất định
+ Mang lợi ích của chủ thể đó
+ Không có hình thức vật chất cụ thể
 Không dễ dàng trong việc đánh giá tài sản
3.2. Các hình thức đầu tư vào TSVH

thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của
nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát
triển kinh tế và đời sống người dân trong một xã hội nhất định. Chất lượng
nguồn nhân lực ảnh hưởng mạnh đến năng suất lao động, đến sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp, nguồn nhân lực có vị trí quan trọng. Đó là yếu tố
duy nhất đưa lại lợi ích kinh tế, làm tăng của cải cho doanh nghiệp. Trong quá
trình sản xuất kinh doanh phải có 3 yếu tố cơ bản là: tư liệu lao động, đối
tượng lao động và lao động; nếu không có con người thì yếu tố tư liệu lao
động và đối tượng lao động chỉ là vật chết, chính yếu tố lao động mới làm
sống lại tư liệu sản xuất thông qua việc đưa chúng tham gia vào quá trình sản
xuất. Người lao động là yếu tố cách mạng nhất của quá trình sản xuất. Mặt
khác, nguồn nhân lực có chất lượng cao góp phần làm tăng năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp, tăng thu hút đầu tư. Do vậy cần phải đầu tư phát triển
nguồn nhân lực.
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực là hoạt động đầu tư nâng cao chất
lượng nguồn lực con người, đó là quá trình trang bị kiến thức nhất định về
chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động, để họ có thể đảm nhận được một
công việc nhất định; đó cũng là quá trinh cải thiện, nâng cao chất lượng điều
kiện làm việc của người lao động.
Lớp Kinh tế đầu tư I
22
Kinh tế đầu tư
Như vậy, nội dung đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm:
- Đầu tư cho hoạt động đào tạo đội ngũ nguồn nhân lực
- Đầu tư cho công tác chăm sóc sức khoẻ, y tế
- Cải thiện môi trường, điều kiện làm việc
- Trả lương đúng và đủ cho người lao động.
• Đầu tư cho hoạt động đào tạo đội ngũ lao động
Hoạt động đào tạo: chính quy, dài hạn, ngắn hạn, bồi dưỡng nghiệp

nhận thức đúng đắn công việc và vai trị của mình trong doanh nghiệp.
Trước đây người ta coi tiền lương là một khoản chi phí của doanh
nghiệp và vì thế người ta tìm mọi cách để giảm thiểu khoản chi trả lương.
Ngày nay các doanh nghiệp cũng đã nhìn thấy những vai trò nhất định của
hoạt động thanh toán lương cho người lao động đối với sự phát triển của
doanh nghiệp. Lương phù hợp với khả năng khiến người lao động vững tâm
và phấn đấu hơn trong công việc. Họ đóng góp, cống hiến nhiều hơn, năng
suất lao động cao hơn… góp phần thúc đẩy hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp. Do vậy xu hướng chung hiện nay là nhìn nhận việc trả lương dưới góc
độ đầu tư phát triển và xem nó như là một hoạt động đầu tư.
Các hoạt động trên có tác động hỗ trợ nhau, bổ sung cho nhau trong
việc cải thiện chất lượng nguồn nhân lực.
3.2.2. Đầu tư nghiên cứu và triển khai khoa học công nghệ
Khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng để tăng trưởng và phát
triển kinh tế. Khoa học và công nghệ được coi là “chiếc đũa thần mầu nhiệm”
để tăng năng suất lao động, phát triển lực lượng sản xuất. Nhờ ứng dụng
những thành tựu khoa học và công nghệ đã làm cho chi phí về lao động, vốn
tài nguyên trên một đơn vị sản phẩm giảm xuống hay nói một cách khác, hiệu
qủa sử dụng của các yếu tố này tăng lên.
Lớp Kinh tế đầu tư I
24
Kinh tế đầu tư
Sự phát triển khoa học và công nghệ cho phép tăng trưởng và tái sản
xuất mở rộng theo chiều sâu, làm xuất hiện những ngành kinh tế có hàm
lượng khoa học cao như: công nghệ điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ
sinh học… đang là cơ hội và thách thức đối với các quốc gia hướng tới nền
kinh tế tri thức. Như vậy, khoa học và công nghệ là một yếu tố đóng vai trị
đặc biệt quan trọng đối với sự tăng trưởng nhanh và bền vững. Vì vậy, nghiên
cứu và triển khai khoa học công nghệ cần phải được quan tâm và chú trọng
bằng cách đầu tư cho nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status