Tìm hiểu thực trạng chung và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng liên doanh ở Việt Nam - Pdf 27

1 | P a g e
Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, xu hướng “ toàn cầu hoá” đang từng ngày, từng giờ tác
động đến tất cả các quốc gia trên thế giới. Vì vậy, hoạt động tài chính
quốc tế sẽ là hoạt động chịu ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu rộng nhất của xu
hướng này. Bởi lẽ, sự phát triển các quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh
vực ngân hàng sẽ là khâu đột phá, mở đường cho sự phát triển các quan
hệ hợp tác kinh tế - quốc tế trên mọi lĩnh vực khác, tạo đà cho sự phát
triển kinh tế mỗi nước. Hệ thống ngân hàng các nước ngày càng mở rộng
hoạt động, tích cực cung ứng vốn cho nền kinh tế. Hệ thống ngân hàng
Việt Nam cũng không nằm ngoài sự vận động chung đó.
Hơn nữa, đường lối đổi mới toàn diện của Đại hội Đảng VI (1986)
như luồng gió mát lành đầy sinh khí thổi vào bức tranh kinh tế Việt Nam.
Một trong những nội dung quan trọng của đường lối này là đổi mới nền
kinh tế, thực hiện nền kinh tế mở cửa. Từ kinh nghiệm quốc tế cho thấy,
để thực hiện thành công mở cửa nền kinh tế thì hệ thống tài chính - ngân
hàng là hệ thống hỗ trợ hiệu quả nhất.
Dưới tác động của xu hướng “ toàn cầu hoá”, và nhu cầu phát triển
nền kinh tế trong điều kiện nền kinh tế thị trường, thực hiện nền kinh tế
mở cửa tại Việt Nam; các ngân hàng liên doanh đã từng bước được thiết
lập và phát triển. Các ngân hàng liên doanh với nước ngoài tại Việt Nam
2 | P a g e
đã góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, đẩy nhanh quá trình mở cửa nền
kinh tế. Đồng thời, các ngân hàng liên doanh cũng tạo ra môi trường cạnh
tranh lành mạnh. Các ngân hàng thương mại trong nước sẽ được tiếp cận,
học hỏi công nghệ ngân hàng tiên tiến từ đó cải tiến, nâng cao kỹ thuật
nghiệp vụ ngân hàng đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn dịch vụ ngân hàng và
kinh doanh tiền tệ.
2. Mục đích nghiên cứu
Khái niệm “ liên doanh” hiện nay được hiểu ở hai góc độ: “ liên

5. Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
khoá luận được kết cấu thành ba chương:
Chương 1 đề cập những vấn đề khái quát về Ngân hàng và ngân
hàng liên doanh;
Chương 2, quy chế pháp lý về ngân hàng liên doanh ở Việt Nam;
4 | P a g e
Chương 3, thực tiễn hoạt động của ngân hàng liên doanh và một số
kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng
liên doanh ở Việt Nam.
5 | P a g e
6 | P a g e
Chương 1
Những vấn đề khái quát về ngân hàng và
ngân hàng liên doanh
1.1. Lịch sử ra đời, phát triển của ngân hàng
Hiện nay, các nhà khoa học và các nhà kinh tế đều cho rằng: “Hoạt
động ngân hàng hình thành và phát triển cùng với sự hình thành đời sống
kinh tế và xã hội của loài người”. Ngân hàng đã bước đi từng bước cực
kỳ thô sơ (như hình thức bancus) và dưới những tác động của nhu cầu
phát triển xã hội, nền kinh tế, đã thúc đẩy ngân hàng không ngừng được
hoàn thiện. Xã hội càng phát triển thì hoạt động của ngân hàng càng trở
nên đa dạng hơn.
Giai đoạn lịch sử phát triển đầu tiên của hoạt động ngân hàng được
gọi là “giai đoạn sơ khai của các ngân hàng” xuất hiện vào thời Hy Lạp,
đế quốc La Mã…Điển hình là hoạt động của các nhà đổi tiền Hy Lạp
(Iraperita) nhận tiền của giai cấp quý tộc, người giàu có…và cho các
thương gia vay. Đây là hoạt động mua bán, trao đổi vay tiền sơ khai đầu
tiên. Đồng thời, nó cũng dẫn đến sự ra đời của thuật ngữ “ ngân hàng”
(xuất phát từ chữ Latinh Bancus). Giai đoạn phát triển thứ hai của lịch sử

ngân hàng càng có tầm quan trọng đặc biệt. Vai trò của ngân hàng được
xác định trên cơ sở các chức năng và các nhiệm vụ cụ thể của nó trong
từng giai đoạn. Qua việc nghiên cứu các chức năng của ngân hàng như
chức năng trung gian tín dụng, chức năng làm trung gian thanh toán và
quản lý các phương tiện thanh toán. Ta thấy vai trò của ngân hàng được
thực hiện ở hai mặt là thực thi chính sách tiền tệ đã được hoạch định bởi
Ngân hàng Trung ương và góp phần vào hoạt động điều tiết vĩ mô nền
kinh tế thông qua việc cung cấp các dịch vụ tài chính và dịch vụ ngân
hàng; thực hiện trung gian thanh toán các nguồn vốn cho nền kinh tế thị
trường; thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển; góp phần hình thành và
phát triển thị trường chứng khoán; phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại.
Như vậy, ngân hàng ra đời cùng với quá trình sản xuất kinh doanh,
trực tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh và khi ngân hàng
phát triển nó lại đóng vai trò thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển nhanh.
1.2. Qúa trình ra đời và phát triển của ngân hàng liên doanh

 !"#
Xu hướng hợp tác kinh tế, quốc tế là một nhu cầu tất yếu đối với
phát triển kinh tế trong điều kiện cơ chế thị trường, đặc biệt với các nước
9 | P a g e
đang phát triển. Cách mạng công nghiệp đã cho ra đời một nền công
nghiệp mới và dần thay thế công nghệ truyền thống. Các nước phát triển
đang chuyển tỷ trọng từ công nghiệp truyền thống sang công nghiệp hiện
đại, dựa vào tri thức và thông tin. Nền kinh tế không hướng theo chiều
rộng mà hướng tới phát triển theo chiều sâu. Tình hình đó làm phát sinh
nhu cầu bức thiết là đòi hỏi các nước phải mở rộng quan hệ hợp tác kinh
tế - quốc tế để tiếp nhận công nghệ, khoa học kỹ thuật hiện đại, thúc đẩy
sản xuất, công nghiệp hoá đất nước. Hợp tác kinh tế - quốc tế được mở
rộng trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống trong đó có hợp tác kinh tế -
quốc tế trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Hơn nữa, trong nền kinh tế thị

Từ xu thế phát triển của thế giới, vai trò quan trọng đặc biệt của
ngân hàng trong nền kinh tế; ta nhận thấy phát triển kinh tế trong điều
kiện mở cửa, giao lưu hợp tác kinh tế - quốc tế thì trước hết phải phát
triển hệ thống ngân hàng, mở rộng hoạt động của ngành ngân hàng trong
đó có các hoạt động đối ngoại và sự hợp tác kinh tế - quốc tế của ngành
11 | P a g e
ngân hàng. Sự phát triển và vận động này của ngân hàng đã dẫn đến
những hình thức ngân hàng mới như chi nhánh ngân hàng nước ngoài,
ngân hàng liên doanh…
Vấn đề quan tâm đầu tiên của nhà đầu tư khi thực hiện đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào một nước cụ thể là hệ thống ngân hàng nước đó có
đủ uy tín hay không? Ngân hàng nước họ đã xuất hiện chưa và họ sẽ
được hỗ trợ gì? Chính vì vậy, sự xuất hiện của các ngân hàng nước
ngoài dưới hình thức chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên
doanh giữa ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài, trong giai
đoạn đầu của quá trình mở cửa, là một xu hướng phổ biến, giải quyết
được những khúc mắc của các nhà đầu tư nước ngoài, từ đó thu hút đầu
tư nước ngoài. Hầu hết các nước đang phát triển khi bước vào thời kỳ đầu
của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá; hệ thống ngân hàng còn
chưa đủ mạnh, chưa đáp ứng được nhu cầu vốn cho sự phát triển kinh tế.
Vì thế, cần phải thực hiện hiệu quả việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Ngân hàng liên doanh được thành lập nhằm tạo ra một ngân hàng có sức
mạnh tổng hợp trên cơ sở khắc phục những yếu kém của ngân hàng trong
nước, phát huy thế mạnh của ngân hàng nước ngoài, góp phần cải thiện
môi trường đầu tư và tạo điều kiện cho việc đổi mới hệ thống ngân hàng
tại các nước này.
Ngân hàng liên doanh là một loại hình ngân hàng mà trong đó có
sự tham gia hợp tác liên doanh giữa ngân hàng thương mại trong nước
12 | P a g e
với ngân hàng nước ngoài trên cơ sở góp vốn để hình thành nên một ngân

quyết các nhu cầu đòi hỏi của quá trình phát triển kinh tế đất nước là vốn,
khoa học công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến…đều có thể
đạt được trong ngân hàng liên doanh. Ngoài ra, ngân hàng liên doanh còn
là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự hình thành, phát triển
thị trường tiền tệ và thị trường tài chính tại các nước đang phát triển.
Như vậy, sự ra đời của các ngân hàng liên doanh mang tính tất yếu
khách quan, phù hợp với tình hình lịch sử và điều kiện kinh tế của các
nước đang phát triển. Ngân hàng liên doanh đã đóng góp những nhân tố
tích cực cho sự phát triển kinh tế tại các nước này.
$%&"#'()%*
Ngân hàng liên doanh giữa ngân hàng trong nước với ngân hàng
nước ngoài xuất hiện lần đầu tiên trên thế giới vào những năm 50 tại khu
vực Châu Á. Ở Inđônêxia, ngân hàng liên doanh với nước ngoài được
thành lập đầu tiên vào những năm 1953 là ngân hàng PT Bank Perdania.
14 | P a g e
Thời kỳ đầu, từ những năm 1953 khi bắt đầu cho phép thành lập các ngân
hàng liên doanh với nước ngoài cho đến cuối những năm 60 và đầu
những năm 70. Trong giai đoạn này, do mới giành được độc lập, hệ thống
ngân hàng Inđônêxia còn yếu kém. Để thu hút vốn từ bên ngoài, Chính
phủ Inđônêxia đã cho phép các ngân hàng nước ngoài vào hoạt động dưới
một hình thức duy nhất là ngân hàng liên doanh trên cơ sở cùng góp vốn
liên doanh giữa các ngân hàng nước ngoài và ngân hàng thương mại
trong nước với tỷ lệ góp vốn khá chênh lệch bên ngân hàng thương mại
Inđônêxia 20% còn bên ngân hàng nước ngoài vào khoảng 80%. Do vậy,
các ngân hàng liên doanh với nước ngoài tại Inđônêxia được thành lập
hầu hết vào giai đoạn này. Từ cuối những năm 60 đầu những năm 70 cho
đến cuối những năm 80 và đến nay, nền kinh tế đã phát triển, các ngân
hàng thương mại nội địa Inđônênxia dần lớn mạnh, đáp ứng được nhu cầu
dịch vụ ngân hàng của nền kinh tế, Chính phủ Inđônêxia thực hiện chính
sách hạn chế sự có mặt của các ngân hàng liên doanh. Nhìn chung, sự

điều chỉnh của pháp luật đối với ngân hàng liên doanh mỗi nước là khác
nhau.
1.3. Sự hình thành của ngân hàng liên doanh và vai trò của nó trong
nền kinh tế thị trường tại Việt Nam
+,"#'-.(
Sau Đại hội Đảng lần thứ VI, nước ta bắt đầu đổi mới cơ chế kinh
tế, trong đó quan hệ thị trường dần được củng cố và phát triển. Trên cơ sở
đổi mới trong quan hệ kinh tế đối ngoại, cuối năm 1987 Luật đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam ra đời đánh dấu sự chuyển biến quan trọng của đời
sống kinh tế đất nước. Sự ra đời của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
nhằm khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng đất nước (về tài nguyên và lao
động) để tăng tích luỹ, tăng nguồn hàng về xuất khẩu, giải quyết tình
trạng thiếu công ăn việc làm và phát triển ngoại thương, mở rộng hợp tác
quốc tế qua đó phát triển nền kinh tế cho theo kịp thời đại. Nó đã tạo ra
một kênh thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
trong tất cả các lĩnh vực: kinh tế, tài chính…Lĩnh vực tài chính - ngân
hàng không nằm ngoài dòng đầu tư đó.
Trong báo cáo của Uỷ ban nhà nước về hợp tác và đầu tư (SCCI)
1990 đã nhận xét: “ Để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, cần giải quyết tốt
khâu ngân hàng vì không một dự án nào không liên quan đến việc giải
quyết vốn và tín dụng, giám sát và điều tiết thông qua hệ thống tiền tệ,
những nhược điểm hiện nay của ngân hàng nước ta cũng như sự vắng mặt
17 | P a g e
của các ngân hàng nước ngoài đã trở thành cản trở đối với nhiều dự án”.
Trước yêu cầu đó, Hội đồng nhà nước đã ban hành Pháp lệnh Ngân hàng
Nhà nước và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài
chính tháng 5 năm 1990. Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và
công ty tài chính 1990 (sau đây gọi là Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990) đã
đưa ra mục tiêu cải cách hệ thống ngân hàng, định hướng rõ chính sách
và cơ chế nghiệp vụ cũng như về cơ cấu tổ chức của hệ thống ngân hàng,

nhiên, sau khi ban hành Nghị định 189/HĐBT ngày 15/6/1991 và thực
hiện theo Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 thì ngân hàng liên doanh IVB
đã được Ngân hàng Nhà nước cấp lại giấy phép hoạt động số 08/NH-GP
ngày 29/10/1992. Đây là ngân hàng liên doanh giữa hai bên trong đó
phần vốn góp của mỗi bên ngân hàng là 50% trong tổng số 10 triệu USD
vốn điều lệ của ngân hàng liên doanh. Các đối tác tham gia ngân hàng
liên doanh:
19 | P a g e
- Bên ngân hàng Việt Nam là ngân hàng Công thương Việt Nam -
một trong những ngân hàng thương mại quốc doanh lớn nhất và giữ vị trí
quan trọng trơng hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
- Bên đối tác nước ngoài là ngân hàng Summa của Inđônêxia, là
ngân hàng thuộc tập đoàn Soeryadjaya đăng ký kinh doanh tại Đức, có
trung tâm quản lý tại Inđônêxia và văn phòng đại diện tại nhiều nước trên
thế giới như Mỹ, Hồng Kông. Sau nhiều biến động của tình hình kinh
doanh tháng 8/1993, ngân hàng IVB thay đổi đối tác mới là ngân hàng
Dagang Natinonal. Đến ngày 14/6/2000 Ngân hàng thương mại Thế Hoa,
một trong ba ngân hàng thương mại lớn nhất Đài Loan đã tham gia liên
doanh trong ngân hàng IVB thay thế ngân hàng Dagang Natinonal.
Từ đó đến nay, ở nước ta đã có 5 ngân hàng liên doanh giữa Việt
Nam với nước ngoài được thành lập: ngân hàng liên doanh
Shinhanvinabank (đầu tiên là ngân hàng liên doanh First Vina); ngân
hàng liên doanh Indovinabank, ngân hàng liên doanh Vidpublicbank,
ngân hàng liên doanh Vinasiam (Việt - Thái), ngân hàng liên doanh Việt
Nga.
Ngân hàng liên doanh Việt - Nga là ngân hàng liên doanh được
thành lập mới nhất trong gần 10 năm trở lại đây. Ngân hàng liên doanh
Việt - Nga là ngân hàng liên doanh giữa ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam và ngân hàng Ngoại thương của Nga với số vốn điều lệ là 10
triệu USD, trong đó ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đóng góp

việc tại các ngân hàng liên doanh, được học hỏi tác phong, nghiệp vụ của
bên nước ngoài.
Ngân hàng liên doanh còn tăng cường đáp ứng các dịch vụ ngân
hàng với nhiều loại hình dịch vụ ngân hàng mới, góp phần cải thiện hoạt
động dịch vụ ngân hàng, tạo ra nhiều kênh để thu hút vốn cho sự phát
triển kinh tế.
Ngân hàng liên doanh thành lập tại nước sở tại với tư cách là một
loại hình tổ chức tín dụng trong hệ thống ngân hàng nước sở tại. Hơn
nữa, ngân hàng thương mại trong nước không còn được sự bảo hộ như
trước, qua đó thúc đẩy cạnh tranh, trao đổi kinh nghiệm hoạt động ngân
hàng, tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, cải thiện môi trường
dịch vụ ngân hàng nước sở tại.
Có thể nói với ngân hàng liên doanh, các mục tiêu cơ bản đối với
các nước đặc biệt là các nước đang phát triển đặt ra về vốn, kỹ thuật,
công nghệ và kinh nghiệm quản lý kinh doanh ngân hàng tiên tiến, đào
22 | P a g e
tạo sử dụng cán bộ ngân hàng đều có thể đạt được nhất là trong việc tiếp
cận công nghệ mới.
23 | P a g e
Chương 2
Quy chế pháp lý của ngân hàng liên doanh
ở Việt Nam
2.1. Khái niệm về ngân hàng liên doanh
1("#
Trước khi có Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990, pháp luật nước ta
chưa có quy định về ngân hàng liên doanh. Pháp lệnh Ngân hàng năm
1990 đã đánh dấu một nấc thang pháp lý mới trong đổi mới hệ thống
ngân hàng nước ta và sự ra đời của ngân hàng liên doanh. Trong Pháp
lệnh Ngân hàng năm 1990, khái niệm ngân hàng liên doanh được hiểu là
ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của Bên ngân hàng Việt Nam và

chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100%
vốn nước ngoài, văn phòng đại diện tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt
Nam thay thế Nghị định 13 nói trên, quy định chi tiết về ngân hàng liên
doanh tại chương III. Nghị định 22/2006/ NĐ-CP đã có những bổ sung
chi tiết hơn thay thế Nghị định 13 về khái niệm ngân hàng liên doanh tại
khoản 5 Điều 7: “Ngân hàng liên doanh là ngân hàng được thành lập tại
Việt Nam, bằng vốn góp của Bên Việt Nam (gồm một hoặc nhiều ngân
hàng Việt Nam) và Bên nước ngoài (gồm một hoặc nhiều ngân hàng nước
ngoài) trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Ngân hàng liên doanh được thành
lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, là pháp nhân Việt Nam,
có trụ sở chính tại Việt Nam”.
Qua khái niệm nêu trên ta thấy, ngân hàng liên doanh có một số
đặc điểm như sau:
Cơ sở pháp lý để hình thành ngân hàng liên doanh là hợp đồng liên
doanh. Một hoặc nhiều ngân hàng Việt Nam hợp tác kinh doanh với một
hoặc nhiều ngân hàng nước ngoài. Bên nước ngoài bỏ vốn đầu tư vào
Việt Nam để hoạt động ngân hàng là các tổ chức tín dụng nước ngoài chứ
không phải bất kỳ tổ chức, cá nhân nước ngoài nào.
Vốn pháp định của ngân hàng liên doanh; ngân hàng liên doanh
được thành lập bằng vốn góp của bên ngân hàng nước ngoài và bên ngân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status