luận văn kinh tế phát triển Đề án Tác động của du lịch tới phát triển kinh tế Malaysia - Pdf 27

MỤC LỤC
Tiêu đề Trang
Mục lục
Tên biểu đồ
I. Sơ lược về đất nước và ngành du lịch Malaysia
1. Giới thiệu khái quát về đất nước Malaysia
2. Giới thiệu khái quát về ngành du lịch Malaysia
2.1. Quá trình phát triển của ngành du lịch
2.2. Đặc điểm du lịch Malaysia
2.3. Chính sách của chính phủ Malaysia
2.4. Lợi thế và khó khăn của ngành du lịch Malaysia
II. Du lịch tác động đến phát triển kinh tế của Malaysia
1. Du lịch tác động đến tăng trưởng kinh tế Malaysia
2. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
3. Tác động của du lịch đến xã hội
III. Hướng phát triển của du lịch Malaysia trong tương lai và liên hệ Việt
Nam
1. Hướng phát triển của du lịch Malaysia
2. Liên hệ với du lịch Việt Nam
Danh mục tài liệu tham khảo
3
4
5
5
6
6
9
12
13
17
17

Lan, Singapore và eo biển Malacca. Phía Đông có 2 bang Sabah và Sarawak rộng
198.720 km2 giáp với Indonesia và Brunei. Ngoài ra còn có 2 khu vực hành chính đặc
biệt là Thủ đô Kuala Lumpur và Labuan được gọi là "lãnh thổ liên bang" thuộc chỉ đạo
trực tiếp của liên bang.
- Khí hậu: Nhiệt đới gió mùa với độ ẩm cao.
- Dân số: 24,386 triệu người (số liệu tháng 7/2006)
- Dân tộc: Malaysia là nước đa chủng tộc, khoảng 50,4% là người Malaysia; 23,7% là
người Hoa; người bản địa 11%, 7,1% là người Ấn, còn lại 7,8% là các dân tộc khác.
- Tôn giáo: Đạo Hồi là quốc đạo, chiếm 53% dân số. Ngoài ra có các tôn giáo khác như
Thiên Chúa giáo (8,6%), đạo Phật (17,3%), Hindu (7%), đạo Khổng (11,6%). Còn lại là
các đạo khác.
- Kinh tế chung: Sau khi giành được độc lập (1957), Malaysia chỉ sở hữu một nền nông
nghiệp yếu kém, nghèo nàn. Nền kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào Anh và thu nhập chủ yếu
từ sản xuất thiếc và cao su. Từ 1970, Chính phủ Malaysia xác định mục tiêu xoá nghèo
đói và cơ cấu lại nền kinh tế lên trên hết. Từ 1983, Chính phủ đưa ra chính sách tự do hoá
kinh tế, đưa ra luật lệ phù hợp hơn với tình hình đầu tư quốc tế đang tăng mạnh, bên cạnh
đó khu vực tư nhân được tự do, khuyến khích phát triển đầu tư, mở rông kinh doanh.
Theo tiến trình đó đến cuối thập kỷ 80, Malaysia chuyển sang nền kinh tế trong đó khu
vực tư nhân nắm vai trò quan trọng. Kế hoạch 5 năm lần thứ 7 (1996 - 2000) và lần thứ 8
(2001-2005) bắt đầu được thực hiện trong khuôn khổ kế hoạch dài hạn 30 năm (1990-
2020) gọi là "Chương trình phát triển mới" hay "Tầm nhìn 2020" với mục tiêu đưa
Malaysia trở thành một nước phát triển vào năm 2020.
Trong 2 năm 1997 và 1998, kinh tế nhiều nước Châu Á rơi vào tình trạng khủng hoảng
và Malaysia không nằm ngoài quy luật đó. Năm 1998, đồng tiền ringgit mất giá 65%.
Nhờ những biện pháp khắc phục khủng hoảng đúng đắn trong đó có việc ấn định tỷ giá
và kiểm soát vốn, nền kinh tế Malaysia từ đầu năm 1999 đến nay đang phục hồi khá
nhanh. Tăng trưởng GDP năm 1999 đạt 5,8%; năm 2000 đạt 8,5%, năm 2001 đạt 2,4%
do tình hình kinh tế toàn cầu giảm sút. Tuy nhiên, từ năm 2002 kinh tế Malaysia từng
bước phục hồi với mức tăng trưởng kinh tế (GDP) năm 2002 là 4,2%, năm 2003 đạt
5,2%, năm 2004 là 7,1%, năm 2005 là 5,3% và năm 2006 là 5,5%. Hiện nay, GDP bình

ngành du lịch Malaysia còn được tăng cường, khi một bộ riêng biệt về văn hóa và du lịch
được thành lập. Vào giữa những năm 80, thời điểm giá cả hàng hóa bị sụt giảm, nền kinh
tế thế giới lâm vào khủng hoảng, Malaysia cũng không tránh khỏi bị ảnh hưởng. Nhưng
không lâu sau đó, với những chiến dịch quảng bá rầm rộ, du lịch Malaysia vẫn phát triển
và đưa đến những thành công nhất định. Số lượt khách đã đến Malaysia đã tăng 33,7%,
khoảng 4,8 triệu lượt khách vào năm 1989, từ 3,6 triệu năm 1988(Cockerell, 1994).
Đi theo sự thành công của “Visit Thailand Year 1987” ở Thái Lan, Malaysia cũng có
"Visit Malaysia Year 1990" (VMY’90) vào năm 1990. Số lượt khách và tiêu dùng ở
Malaysia trong năm 1990 đã vượt quá sự mong đợi của TDC. Tổng số lượt du khách đến
với Malaysia đã tăng 53,7%, vào khoảng 7,5 triệu lượt so với cùng kỳ trước đó, mức tiêu
dùng tăng tới 60,6%, vượt năm 1989 tới 1.667 triệu USD, một con số khổng lồ.
(Cockerell, 1994). 6 năm sau đó, từ 1991 đến 1995, mục đích là phát triển mở rộng và
tăng cường chất lượng cho ngành công nghiệp du lịch. Tuy nhiên, chiến tranh vùng Vịnh
vào năm 1991 đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển này, nó đã phá vỡ nhiều kế
hoạnh của các khách du lịch tiềm năng. Ngoài ra, sự suy thoái nền kinh tế toàn cầu đầu
những năm 90 cũng cản trở nhiều du khách và các doanh nghiệp tài chính vào đầu tư ở
đây. Và trải qua “Visit Malaysia Year 1990”, du lịch Malaysia đã giúp nền kinh tế dần
hồi phục, đến năm 1993, kinh tế Malaysia đã đạt mức tăng trưởng 9% so với năm 1992.
Giai đoạn 3: Sự phát triển trong những năm cuối thế kỉ 20, đầu thế kỉ 21. Dựa vào thành
công của VMY’90, tiếp theo TDC, Ủy ban phát triển du lịch Malaysia (MTPB), đã thực
hiện VMY lần thứ 2 vào năm 1994 (VMY’94). VMY’94 bắt đầu từ tháng 8 năm 1992,
MTPB tin rằng, quãng thời gian 17 tháng từ tháng 8-1992 đến tháng 1-1994 sẽ quảng bá
được hình ảnh của Malaysia một cách thành công để là tiền đề cho sự phát triển sau này.
Một trong những mục tiêu của VMY’94 là tăng vốn đầu tư nước ngoài vào Malaysia.
MTPB tổ chức và chỉ đạo những cuộc hội thảo và tọa đàm với hơn 15 nước trong khu
vực và trên thế giới về lợi ích của việc đầu tư vào du lịch Malaysia. Họ còn làm việc với
các nhân viên du lịch, điều hành viên du lịch, những phương tiện truyền thông của nước
ngoài nhằm quảng bá thương hiệu của du lịch Malaysia. Sự tin tưởng của MTPB vào
VMY’94 được đền đáp bằng những thành công ngoài mong đợi, 7 triệu lượt khách đã
ghé thăm Malaysia, du lịch đã thu về được 2,3 triệu USD, một con số khổng lồ vào thời

đặc trưng chung như: tính nhạy cảm, tính tổng hợp cao, tính đa ngành, tính đa thành
phần, tính chi phí, tính liên vùng và tính thời vụ….
+ Tính nhạy cảm: Nó gồm nhiều bộ phận tạo thành trong quá trình cung cấp dịch vụ đối
với du khách. Trong một khâu nào đó không tuân thủ quá trình thì có thể gây ra hàng loạt
phản ứng dây chuyền ảnh hưởng đến việc cung cấp các dịch vụ du lịch. Mặt khác, các
yếu tố như thiên nhiên, chính trị, kinh tế và xã hội đều có ảnh hưởng đến ngành kinh tế
du lịch. Thảm hoạ chiến tranh, động đất, khủng hoảng kinh tế, đại dịch…đều gây ảnh
hưởng đến sự phát triển của du lịch. Đại dịch SAR đã xảy ra và ảnh hưởng rất lớn đến du
lịch của Malaysia, lượng du khách giảm xuống đáng kể. Đây chính là một biến cố gây ra
rất nhiều khó khăn trong các khâu của hoạt động du lịch.
+ Tính tổng hợp cao: Phạm vi hoạt động của ngành kinh tế du lịch bao gồm khách sạn du
lịch, giao thông vận tải, nhà hàng, dịch vụ bán đồ lưu niệm. Ngoài ra còn một số bộ phận
sản xuất tư liệu phi vật chất (văn hoá, giáo dục, tôn giáo, khoa học kỹ thuật, hải quan, tài
chính, bưu điện). Ở Malaysia, dân số không nhiều nhưng hệ thống khách sạn, bệnh viện,
nhà hàng, ngân hàng dày đặc như để phục vụ khách du lịch. Số lượng khách sạn tăng lên
để phục vụ nhu cầu ngày càng tăng của khách du lịch: năm 2000 có 1.776 khách sạn, năm
2001 tăng lên là 1.878, năm 2002 là 1.989 và năm 2004 có 2.224 khách sạn.
6
+ Tính đa ngành: Nó được thể hiện ở đối tượng khai thác phục vụ hoạt động du lịch như
cảnh quan tự nhiên, các giá trị lịch sử, văn hoá, cơ sở hạ tầng và các dịch vụ kèm theo. Ở
bất kỳ nền kinh tế du lịch nào cũng vậy, du lịch sẽ không phát triển nếu không có sự trợ
giúp của các ngành kinh tế - xã hội khác như bảo hiểm, y tế, giao thông vận tải, công an
và môi trường.
+ Tính đa thành phần: thành phần tham gia trong hoạt động kinh doanh, du lịch gồm
khách du lịch, những người quản lý và phục vụ du lịch, cộng đồng dân cư, các tổ chức xã
hội… Cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch Malaysia là Bộ du lịch. Nhiệm vụ là: tạo nên
một quốc gia Malaysia đồng nhất bởi chính sách du lịch quốc gia và thiết lập đất nước
Malaysia như một điểm đến nổi bật. Cơ cấu tổ chức:
Cơ cấu tổ chức của ngành du lịch Malaysia
(Nguồn: )

những ứng dụng đó ở khắp nơi và rất “đời thường”, từ ứng dụng trong khách sạn đến các
siêu thị, từ ngân hàng điện tử đến các dịch vụ công cộng điện tử, nó phục vụ khiến du
khách cảm thấy tiện lợi, an toàn, thoải mái khi du lịch ở đây.
►Nền du lịch Malaysia với những sự kiện lớn:
Hàng năm, rất nhiều sự kiện mang tầm cỡ quốc tế đã thu hút rất nhiều du khách đến thăm
Malaysia. Bằng đủ mọi cách cung cấp cho những nhà tổ chức các sự kiện và cùng mang
lại những nguồn cần thiết từ nhiều tổ chức, nền du lịch Malaysia đã giúp đảm bảo tính
quần chúng liên tục của những sự kiện quốc tế này. Ví dụ như: Giải vô địch thế giới về
chơi Golf không chuyên, Sắc màu Malaysia, được tổ chức khắp đất nước trong vòng một
tháng với các hoạt động văn hoá đa dạng.
8Quần đảo cát trắng Langkawi (Nguồn: congdongdulich.com)
►Chính phủ Malaysia tạo điều kiện để phát triển du lịch, thu hút du khách:
Chính phủ tiếp tục khuyến khích các công dân Malaysia sáng tạo các tác phẩm nghệ
thuật, và thấm nhuần các giá trị thẩm mỹ to lớn đặc biệt biết hiểu rõ giá trị và biết gìn giữ
nghệ thuật, văn hoá và di sản. Để làm giàu thêm văn hoá Malaysia, năm 1996 chính phủ
đã chi một khoản tiền là 73.71 triệu RM cho việc làm phong phú và thúc đẩy nghệ thuật
và phát triển văn hoá ở Malaysia. Chính việc làm này của chính phủ đã góp phần tạo nền
văn hoá đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc của Malaysia và đã thu hút được nhiều du
khách đến đây. Ngoài ra, chính phủ còn áp dụng các chính sách như giảm thuế, giảm giá
cho khách du lịch.
9
Cung điện Sultan bằng gỗ tếch cho ta biết rất nhiều về văn hoá Malaysia. (svenbugarski.de)
2.3. Chính sách của chính phủ Malaysia
Malaysia luôn chú trọng đến vấn đề an ninh để luôn đảm bảo sự an toàn, thoải mái cho du
lịch quốc gia này. Chính phủ Malaysia yêu cầu tất cả các đại lý kinh doanh lữ hành du
lịch phải được cấp giấy phép và quan tâm đến vấn đề bảo hiểm cho khách hàng. Biện
pháp này nhằm bảo vệ tất cả khách du lịch bao gồm cả khách quốc tế và nội địa. Đồng

Vị trí địa lí: Malaysia được chia làm 2 phần Malaysia bán đảo (gọi là bán đảo Malaysia),
phía Bắc giáp Thái Lan, phía Đông giáp eo biển Malacca. Malaysia hải đảo gồm 2 bang
Sabah và Sarawalk ở phía bắc đảo Borneo, giáp Bruni và Indonesia. Các eo biển của
Malaysia đã tạo nên vị trí giao thông quan trọng có ý nghĩa quốc tế nối liền từ Ấn Độ
Dương sang Thái Bình Dương đi qua eo biển Malaca và Johor thậm chí qua biển Đông.
Cảnh quan thiên nhiên: Bán đảo Malaysia có nhiều cảnh quan do thiên nhiên ban tặng.
Malaysia từng được mệnh danh là "đảo giấu vàng". Langkawi là một trong những quần
đảo như thế, gồm 104 đảo ở phía Bắc bán đảo Malaysia, nơi đây nổi tiéng với hàng trăm
bãi biển cát trắng nguyên sơ. Bên cạnh đó là những khu vực rừng cổ thụ lâu năm, xen kẽ
nhau giữa các tâng thực vật cũng là điểm nhấn thu hút du khách quốc tế và tạo điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển của du lịch.
Nền móng kinh tế vững chắc và hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ chuyên nghiệp
Tăng trưởng GDP là 5,8% (1999), đến năm 2004 vẫn ở mức tương đối khả quan là 5,3%,
đạt mức bền vững so với nhiều quốc gia trong khu vực cũng như trên thế giới. Kinh tế
Malaysia phát triển do có nền tảng vững chắc khác như hệ thống ngân hàng tài chính
mạnh, tỷ lệ thất nghiệp thấp, dự trữ ngoại tệ cao, cán cân thanh toán hợp lý và thặng dư
thương mại luôn được duy trì. Các thị trường Mỹ, Asean, Nhật bản, Trung quốc chiếm
tới 79,6% tổng lượng hàng xuất khẩu của Malaysia.
Ngoài ra, con số hơn 15 triệu khách du lịch đến Malaysia trong một năm chính là do cơ
sở hạ tầng ở nước này hoàn hảo và thuận tiện, hệ thống khách sạn, siêu thị, nhà hàng hiện
đại, các địa danh tham quan, mua sắm và vui chơi kì thú và hấp dẫn. Malaysia có mạng
lưới đường rộng lớn nối tất cả các thành phố và thị trấn chính ở bờ biển phía Tây bán đảo
Malaysia. Tổng chiều dài mạng lưới cao tốc Malaysia là 1192 km, nối toàn bộ các thành
phố lớn và khu đô thị như thung lũng Klang và Penang với nhau. Dịch vụ chuyên nghiệp
thể hiện ở dịch vụ viễn thông quốc tế được cung cấp qua các đường cáp quang biển và vệ
tinh. Dịch vụ khách sạn với số lượng liên tục tăng từ 1776 khách sạn (2001) lên 2224
khách sạn năm 2004, số buồng tương ứng tăng từ 130757 (2001) đến 151135 năm 2004.
11
Một số hình ảnh của thủ đô Kuala Lumpur (nguồn: congdongdulich.com)
Về văn hóa

cường quốc du lịch số một trong tương lai. Du khách đến với Malaysia chủ yếu từ các
nước láng giềng trong khu vực, số du khách từ châu Âu, châu Mỹ còn hạn chế.
13
Sự quá tải với hệ thống cơ sở hạ tầng:
Không thể phủ nhận được rằng lượng khách du lịch tăng dần qua các năm đang khiến du
lịch Malaysia rơi vào tình trạng quá tải đối với một số hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thông
vận tải. Một số khu vực lưu trú không đạt tiêu chuẩn đối với du khách quốc tế hay tình
trạng một lượng lớn phương tiện giao thông đi lại trong giờ cao điểm gây tắc nghẽn trên
những trục đường chính đang khiến giới quan chức Malaysia phải đau đầu tìm phương án
giải quyết. Việc đánh phí giao thông và quy hoạch vĩ mô từ đầu theo tiêu chuẩn quốc tế
đối với những thành phố lớn đang là chủ trương được đưa ra và bàn bạc.
II. Du lịch tác động đến phát triển kinh tế của Malaysia
Tăng trưởng và phát triển kinh tế là vấn đề được quan tâm hàng đầu của các quốc gia
đang phát triển cũng như Malaysia. Hai vấn đề này không đồng nhất với nhau nhưng có
mối quan hệ với nhau. Đánh giá sự phát triển kinh tế được thực hiện theo 3 khía cạnh:
tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và các yếu tố xã hội. Du lịch của
Malaysia đang là một ngành kinh tế đóng góp rất lớn vào sự tăng trưởng, phát triển kinh
tế của Malaysia. Các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng được sử dụng bao gồm: tổng sản
phẩm quốc nội (GDP), tổng thu nhập quốc dân, thu nhập bình quân đầu người…Còn cơ
cấu kinh tế là dấu hiệu phản ánh sợ biến đổi về mặt chất của nền kinh tế, các chỉ số xã hội
là thước đo mục tiêu cuối cùng của sự phát triển.
1. Du lịch tác động đến tăng trưởng kinh tế Malaysia
Du lịch Malaysia mang lại các hiệu quả kinh tế thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Tăng ngân
sách cho quốc gia và khu vực phát triển du lịch thúc đẩy tăng trưởng GDP. Những năm
đầu của thế kỉ 21, nền du lịch Malaysia bước vào giai đoạn phát triển bền vững và toàn
diện về nhiều mặt, xu hướng của du lịch Malaysia là thu hút du khách và tăng thu nhập
đơn thuần cho ngành du lịch. Con đường Malaysia đã vạch ra từ nay cho đến năm 2010,
nâng du lịch lên thành khu vực có vai trò đặc biệt quan trọng trên hành trình xây dựng
Malaysia thành trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại số 1 Đông Nam Á. Theo Giáo sư
Ma-ha-ni A-bi-đin cho biết, bốn trụ cột chủ chốt trong ngành dịch vụ nước này là dịch vụ

2000 343.216 3,80 100
2005 494.544 3,78 109
(Nguồn: Quỹ tiền tệ quốc tế)

15
Biểu đồ 2: GDP qua các năm của Malaysia
(Nguồn: Quỹ tiền tệ quốc tế)
So với các nước thành viên ASEAN khác, giá trị GDP của Malaysia cũng rất cao, lên tới
130,7 tỉ USD trong năm 2005, trong đó, giá trị lĩnh vực chế tạo lên tới 40 tỉ USD, chiếm
30,6% GDP, dịch vụ 60,5 tỷ USD (46,3 %). Giá trị lĩnh vực dịch vụ chiếm tỷ lệ cao do
bao gồm cả giá trị bán buôn, bán lẻ, khách sạn và nhà hàng lên tới 17,2 tỷ USD; dịch vụ
công cộng 9,1 tỷ USD; vận tải, liên lạc và kho tàng 8,5 tỷ USD cùng với khí đốt, điện,
nước đạt 3,8 tỷ USD. Và đến nay GDP của quốc gia này đang đứng ở vị trí thứ 3 trong
khu vực Đông Nam Á sau Indonesia và Thái Lan. Xếp hạng thứ 11 ở khu vực Châu Á và
thứ 37 trên Thế giới về tổng sản phẩm quốc nội. Năm 2006, GDP của Malaysia là
127,942 tỷ USD trong đó của toàn Châu Á là 11246,7 tỷ USD, của toàn thế giới là
44168,157 tỷ USD.
16
Biểu đồ 3: GDp một số nước Asian năm 2006.
(Nguồn: IMF công bố trong World Economic Outlook tháng 4 năm 2006)
► Du lịch là ngành đóng góp rất lớn cho nền kinh tế Malaysia trong năm 2003 đóng góp
của ngành trong GDP toàn quốc là 5,6% và năm 2004 với mức tăng trưởng 14,7% doanh
thu khoảng 6-7 tỷ USD, đóng góp 5,1% trong GDP. Thu nhập từ du lịch của Malaysia
qua các năm cũng tăng đáng kể, đóng góp vào tổng sản phẩm quốc nội rất lớn, làm tăng
ngân sách quốc gia hay tại địa điểm du lịch đó làm phát triển kinh tế vùng
17
Biểu đồ 4: Lượng khách quốc tế và doanh thu đạt được qua các năm từ
du lịch của Malaysia
(Nguồn: Sở du lịch năm 2006)
► Ngoài ra nó còn là ngành kinh tế mang lại nguồn thu ngoại tệ chủ yếu, vì du lịch của

(Nguồn : IMF, World Economic Outlook 2006)
Bảng: chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế của một số nước năm 2003
Nước
GDP GNI GNI theo PPP
tỷ đô la
% tăng TB
hàng năm
1990-2003 tỷ đô la
đô la trên
đầu người tỷ đô la
đô la trên
đầu người
Singapore 91 6,3 90 21230 103 24180
Hồng
Kông 158 3,7 173 25430 196 28810
Hàn
Quốc 605 5,5 576 12020 859 17930
Thái Lan 143 3,7 136 2190 462 7450
Inđônêsia 208 3,5 173 810 689 3210
Malaysia 103 5,9 94 3780 222 8940
Philipin 80 3,5 88 1080 379 4940
Việt nam 40 7,5 39 480 202 2490
(Nguồn: Báo cáo phát triển thế giới 2005)
2. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
20

Giai đoạn đầu sau khi giành độc lập Malaysia gặp rất nhiều khó khăn do tình trạng đói
nghèo, sản phẩm xuất khẩu chỉ đơn thuần là sản phẩm là sản phẩm thô nông nghiệp,
nhưng từ những năm 1970 đến những năm 1990 kinh tế Malaysia là nền kinh tế đa
ngành. Tăng trưởng kinh tế chủ yếu từ việc xuất khẩu các sản phẩm điện tử, cơ khí. Kinh

Với sự đóng góp to lớn vào nền kinh tế, du lịch là ngành đứng thứ hai trong việc thu
ngoại tệ cho Malaysia, chỉ sau công nghiệp chế tạo máy. Năm 2004, ngành du lịch với
mức tăng trưởng 14.7% và doanh thu khoảng 6 - 7 tỷ USD đóng góp 2.15% vào GDP,
cung cấp nửa triệu công ăn việc làm cho người dân trên tổng số 1.3 triệu việc làm mới
được tạo ra. Như vậy phát triển du lịch không chỉ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
tăng tỷ trọng công nghiệp, đóng góp vào GDP mà còn thu hút lượng lớn lao động, giải
quyết vấn đề việc làm, thúc đẩy ngành dịch vụ phát triển.
+ Ngành nông nghiệp:
Nông nghiệp được đánh giá là động cơ phát triển thứ ba của nền kinh tế Malaysia, đóng
góp 12% vào GDP, thu hút 16% lao động. Trước đây khi còn là thuộc địa của Anh,
Malaysia được biết đến vì xuất khẩu các sản phẩm dầu cọ, cao su, ca cao,…Trong hai
thập kỷ gần đây, xuất khẩu dầu cọ, cao su,…có tỷ trọng đóng góp vào nguồn thu ngoại tệ
giảm nhưng chúng vẫn chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế: năm 1999 Malaysia sản
xuất được 10,55 tấn dầu cọ - một trong những quốc gia sản xuất lớn nhất của thế giới, và
85% được xuất khẩu ra nước ngoài; năm 2000 sản xuất 29,44 triệu m
3
gỗ và thu về 450
triệu USD.
+ Ngành dịch vụ :
Dịch vụ và công nghiệp là hai ngành chủ đạo của nền kinh tế Malaysia, năm 2006 xuất
khẩu dịch vụ thu về 77.6 tỷ RM (đơn vị tiền tệ của Malaysia) tăng 5.2% so với năm
2005. Du lịch và chế tạo máy là hai ngành thu ngoại tệ lớn nhất, trong đó đứng đầu là
ngành công nghiệp chế tạo máy, tỷ trọng của ngành chế tạo máy tăng từ 20% GDP trong
những năm đầu của 1980 lên 31,5% GDP trong những năm cuối 1990. Năm 1999 sản
xuất chế tạo máy đóng góp 85% tổng nguồn thu ngoại tệ.
Nền công nghiệp Du lịch của Malaysia chính thức hình thành dưới cái tên : Tourism
Development Comporation (TDC) vào năm 1972. TDC có nhiệm vụ vạch kế hoạch và
phat triển CN Du lịch non trẻ của Malaysia. Trong khoảng vài năm kế tiếp từ khi chính
phủ Malaysia nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển du lịch, hơn 30 năm du lịch
Malaysia đã phát triển mạnh mẽ và ngang tầm với những quốc gia trong khu vực như

lập, Malaysia vẫn là một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, nền kinh tế phụ thuộc chủ
yếu vào Anh. Một di sản để lại của chế độ thực dân Anh cho đất nước này đó là sự phân
chia Malaysia thành 3 nhóm theo dân tộc. Người Mã lai sống tập trung trong các ngôi
làng truyền thống, sống chủ yếu bằng nghề nông còn người Hoa thì chiếm lĩnh vực
thương mại, những người Ấn Độ có học vấn thì làm các công việc chuyên nghiệp như
luật sư, bác sỹ, còn những người kém giàu có hơn thì làm việc ở những đồn điền. Tuy
nhiên, trong giai đoạn này, chủ yếu người dân Malaysia sống bằng nghề nông nghiệp.
* Giai đoạn từ 1970 đến 1990: Giai đoạn này Chính phủ đã có những chính sách mới về
kinh tế nhằm xóa đói, giảm nghèo và cơ cấu lại nền kinh tế. Năm 1983, chính sách tự do
hóa nền kinh tế được đưa ra, nới lỏng luật lệ và cải tiến các chính sách về đầu tư. Trong
giai đoạn này, khu vực tư nhân được khuyến khích tham gia phát triển kinh tế, việc chi
tiêu của khu vực kinh tế nhà nước được quản lý chặt chẽ. Cũng ở giai đoạn này cơ cấu
lao động cũng có sự dịch chuyển dần từ nông nghiệp sang công nghiệp và các ngành dịch
vụ khác. Tuy nhiên đây mới chỉ là bước đầu và sự dịch chuyển này cũng chưa có những
biểu hiện thực sự rõ rệt. Nó tạo ra một nền tảng vững chắc cho sự phát triển tiếp lên của
nền kinh tế trong các giai đoạn sau.
23
*Giai đoạn từ năm 1990 đến nay: Malaysia đã phát triển và áp dụng nhiều chính sách
mới nhằm thu hút đầu tư cũng như nguồn nhân lực cho các ngành kinh tế mũi nhọn, phấn
đấu trở thành Silicon của Châu Á, đuổi kịp và vượt Singapore trong những năm tới. Cơ
cấu kinh tế có những chuyển dịch đáng kể và kéo theo đó là sự chuyển dịch của cơ cấu
lao động giữa các ngành này.
Theo thống kê năm 2004, lực lượng lao động của Malaysia có tới 10,26 triệu người trên
tổng số hơn 26 triệu dân của đất nước. Tỷ lệ thất nghiệp chỉ chiếm 3,5%. Vì vậy nguồn
lao động của Malaysia là rất dồi dào. Hiện nay, lao động chủ yếu tập trung ở ngành công
nghiệp chế tạo đặc biệt là chế tạo máy. Ngay sau đó, ngành du lịch cũng ngày càng phát
triển và thu hút một lượng lớn lao động. Chỉ tính đến năm 1999, tỷ lệ lao động trong
ngành du lịch đã chiếm tới 17% lực lượng lao động của Malaysia.
Biểu đồ 9: Cơ cấu lao động năm 1999 của Malaysia theo khu vực kinh tế
(Nguồn: Thống kê năm 1999)

% 58,6 57,9 53,3 60,8
(Nguồn: Bộ du lịch 2005)
Cùng với số lượng khách du lịch ngày càng đông thì các khách sạn, nhà hàng cũng thi
nhau mọc lên thu hút được nhiều lao động với các công việc như dọn dẹp, lễ tân, nấu
nướng. Để thu hút khách du lịch, Malaysia cũng cho xây dựng hàng loạt khu mua sắm
25

Trích đoạn Liên hệ với du lịch Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status