Một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 - Pdf 27


LỜI CẢM ƠN

Đề tài nghiên cứu "Một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao cho tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020", được hoàn thành với sự hướng
dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp, đồng thời với sự
ủng hộ, hỗ trợ, tham gia nhiệt tình của các cơ quan, đoàn thể thuộc tỉnh Quảng Ninh.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo -
Tiến sĩ Nguyễn Thế Hoà, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong bộ môn Quản lý xây dựng,
Khoa Kinh tế và quản lý, Phòng Đào tạo Đại học và sau đại học, Trường Đại học
Thuỷ lợi đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành
luận văn.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè và người thân, những người đã động
viên, khích lệ tôi rất nhiều trong thời gian vừa qua.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Người thực hiện
Đào Thị Hương Giang

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc
lập. Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Đào Thị Hương Giang

DANH MỤC HÌNH VẼ


Bảng 2.14 Cơ cấu LLLĐ và trình độ CMKT chia theo tình trạng lao động 54
Bảng 2.15 Cơ cấu LLLĐ và tình trạng lao động chia theo trình độ CMKT 54
Bảng 2.16 Cơ cấu LLLĐ theo trình độ CMKT và tình trạng việc làm 55
Bảng 2.17 Lao động có việc làm theo ngành kinh tế quốc dân 56
Bảng 2.18 Chỉ số phát triể
n lao động Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản 56

DANH MỤC VIẾT TẮT

BLĐTBXH Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
CĐ, ĐH Cao đẳng, đại học
CMKT Chuyên môn kỹ thuật
CNH Công nghiệp hóa
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
HĐH Hiện đại hóa
KH&CN Khoa học và công nghệ
LĐ Lao động
LLLĐ Lực lượng lao động
NNL Nguồn nhân lực
THCN Trung học chuyên nghiệp
VN Việt Nam
WHO Tổ chức Y t
ế Thế giới

MỤC LỤC CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở ĐỊA PHƯƠNG 1
1.1 Khái niệm nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển nguồn

1.6 Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở TỈNH QUẢNG NINH NHỮNG
NĂM QUA 35
2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh 35
2.1.1 Nhữ
ng đặc điểm về tự nhiên 35
2.1.2 Những đặc điểm kinh tế 36
2.1.3 Đặc điểm về văn hóa - xã hội 40
2.2 Thực trạng đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực ở Quảng Ninh những năm qua 41
2.2.1 Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao 41
2.2.2 Thực trạng phân bổ và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao 49
2.3 Những vấn
đề đặt ra trong công tác phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở
tỉnh Quảng Ninh 56
2.3.1 Về đào tạo nguồn nhân lực 56
2.3.2 Về sử dụng nguồn nhân lực 58
2.3.3 Về thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao ngoài Tỉnh để sử dụng 59
2.4. Đánh giá chung về thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở tỉnh
Quảng Ninh 60
2.4.1 Những điểm mạnh, thuận lợi 60
2.4.2 Những điểm hạn chế 61
2.4.3 Các nguyên nhân 62
2.4.4 Cơ hội cho Quảng Ninh về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 65
2.4.5 Những khó khăn, thách thức của Quảng Ninh trong bối cảnh hiện tại 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta đều khẳng định: Con người luôn ở vị
trí trung tâm trong toàn bộ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, lấy việc phát huy
nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Tri
thức con người là một nguồn lực không bao giờ cạn và luôn được tái sinh với chất
lượng ngày càng cao hơn bất cứ
một nguồn lực nào khác. Lịch sử phát triển nhân
loại đã kiểm nghiệm và đi đến kết luận: Nguồn lực con người là lâu bền nhất, chủ
yếu nhất trong sự phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp tiến bộ của nhân loại.
Sự phát triển của nền kinh tế thế giới đang bước sang trang mới với những
thành tựu có tính chất đột phá trên các lĩ
nh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã
hội, đặc biệt trên lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh tế, trong đó nhân tố đóng vai
trò quyết định sự biến đổi về chất dẫn tới sự ra đời của kinh tế tri thức, chính là
nguồn nhân lực (NNL) chất lượng cao.
Trước đây, các nhân tố sản xuất truyền thống như số lượng đất đai, lao động,
v
ốn được coi là quan trọng nhất, song ngày nay đã có sự thay đổi thứ tự ưu tiên.
Chính nguồn nhân lực có chất lượng cao mới là yếu tố cơ bản nhất của mọi quá
trình, bởi lẽ những yếu tố khác người ta vẫn có thể có được nếu có trí thức, song tri
thức chỉ xuất hiện thông qua quá trình giáo dục, đào tạo và hoạt động thực tế trong
đời sống kinh tế - xã hội; từ chính quá trình s
ản xuất ra sản phẩm để nuôi sống con
người và làm giàu cho xã hội. Vì vậy, để có được tốc độ phát triển cao, các quốc gia
trên thế giới đều rất quan tâm tới việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Ngày

được đào tạo thành thạo về kỹ
năng nghề nghiệp, về năng lực sản xuất kinh doanh, về điều hành vĩ mô nền kinh tế
và toàn xã hội, có trình độ khoa học - kỹ thuật cao. Đó phải là nguồn nhân lực của
một nền văn hóa công nghiệp hiện đại. Hơn nữa, trong xu hướng phát triển nền kinh
tế tri thức và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, nguồ
n nhân lực có chất lượng cao
được coi là điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu và tăng trưởng nhanh. Nhìn
chung nguồn nhân lực của Tỉnh Quảng Ninh hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu
của sự nghiệp phát triển đất nước, chưa thực sự là động lực để phát triển kinh tế - xã
hội của tỉnh. Vì vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ
tỉnh lần thứ XIII đã xác định tầm
quan trọng của việc "phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là
nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế". Tỉnh uỷ, HĐND và UBND tỉnh Quảng Ninh đã tập trung lãnh

đạo, chỉ đạo có trọng tâm, trọng điểm; điều hành linh hoạt, sáng tạo, có nhiều giải
pháp tích cưck để thực hiện nhiệm vụ, trong đó, giải pháp nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng, quyết định hoàn thành thắng lợi các
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Theo Chiến lược phát triển kinh tế xã hội
tỉnh Quảng Ninh tới nă
m 2020, tỉnh chú trọng tới việc phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao, ưu tiên tập trung cho các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ, sản
xuất nông, lâm, ngư nghiệp với hàm lượng khoa học công nghệ cao trong sản phẩm,
những ngành kinh tế biển có lợi thế. Cho nên việc nghiên cứu lý luận và phân tích
thực trạng nguồn nhân lực để có những giải pháp nhằm tạo ra một sự chuyển biến về
chất, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã
hội của Tỉnh Quảng Ninh trở thành nhiệm vụ cấp thiết.
Với ý nghĩa trên, tác giả chọn đề tài "Một số giải pháp nhằm phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao cho tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020" để làm luận
văn thạc sĩ Kinh tế.

chất lượng cao ở Quảng Ninh trong những năm qua.
- Đề xuất được những giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực chất
lượ
ng cao cho tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020.
6. Nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, nội dung chính của Luận văn được
được cấu trúc làm 3 chương nội dung chính:
Chương 1. Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Chương 2. Thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao ở tỉnh Quảng Ninh trong
những nă
m qua.
Chương 3. Một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho
tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2014 – 2020. 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở ĐỊA PHƯƠNG

1.1 Khái niệm nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao
1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực
Theo giáo trình kinh tế lao động, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con
người, là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế xã
hội. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác (nguồn lực tài chính, nguồn lực
vật chấ
t, nguồn lực công nghệ…) ở chỗ: trong quá trình vận động, NNL chịu tác
động của yếu tố tự nhiên (sinh, chết…) và yếu tố xã hội (việc làm, thất nghiệp ).
Theo Thuyết lao động xã hội, nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Với
nghĩa rộng, NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tác giả Đoàn Khải cho rằng: Nguồn lực con
người là khái niệm chỉ số dân, cơ cấu dân số và nhất là chất lượng con người với tất
cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong s
ự phát triển xã hội”.
Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế cũng chỉ ra, NNL chính là nguồn lực chủ
yếu tạo động lực cho sự phát triển. Vì vậy việc cung ứng đầy đủ và kịp thời NNL
theo yêu cầu của nền kinh tế là yếu tố đóng vai trò quyết định đảm bảo tốc độ tăng
trưởng kinh tế - xã hội. Do đó, bất cứ hiện tượng thiếu hoặc thừa sức lao động đều
gây ra những khó khăn cho sản xuất xã hội và ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ tăng
trưởng kinh tế. Đây là đối tượng của môn Kinh tế phát triển.
Theo quan điểm của một số nhà khoa học khác, nguồn nhân lực được xem là
số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất, tinh thần, sức khỏe và trí tuệ,

ng lực phẩm chất, thái độ và phong cách lao động.
Nhưng nhìn chung các khái niệm đều thống nhất về nội dung cơ bản là: NNL
là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất,
giữ vai trò quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia.
Như vậy, khi nói tới nguồn nhân lực trước hết phải hiểu đó là toàn bộ những
người lao động đang có khả năng tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế - xã
hội và các thế hệ những người lao động tiếp tục tham gia vào các quá trình phát
triển kinh tế xã hội, con người đóng vai trò là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ
quá trình đó, hướng nó tới mục tiêu đã được chọn. Cho nên NNL còn bao gồm một
tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, thái độ và phong cách làm
việc- đó chính là các y
ếu tố thuộc về chất lượng nguồn nhân lực. Ngoài ra cũng phải
nói tới cơ cấu của lao động, bao gồm cả cơ cấu đào tạo và cơ cấu ngành nghề; đồng 3
thời cần nhấn mạnh sự phát triển trí tuệ, thể lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ

chính quy nhưng có trình độ tay nghề rất cao, thậm chí họ còn làm được những
công việc mà ít người có thể làm được (ví dụ như các nghệ nhân) lại không được
coi là nhân lực chất lượng cao. Trong thực tế, lực lượng này có sự đóng góp rất
quan trọng và không thể
thay thế trong thị trường lao động chất lượng cao. 4
Thứ hai, cũng dựa vào định nghĩa trên, bất kỳ lao động nào qua đào tạo cũng
được coi là nhân lực chất lượng cao. Trên thực tế, có những lao động qua đào tạo,
nhưng không đáp ứng được yêu cầu của công việc tương ứng với trình độ đào tạo,
vì vậy không thể coi bộ phận lao động đó là nhân lực chất lượng cao.
Những phân tích về hạn chế của hai
định nghĩa nêu trên đã cho thấy cần phải
đưa ra một định nghĩa chính xác, khoa học, vừa mang tính định tính, vừa mang tính
định lượng về nguồn nhân lực chất lượng cao.
Theo tôi, nguồn nhân lực chất lượng cao bao gồm những lao động qua đào
tạo, được cấp bằng, chứng chỉ của các bậc đào tạo và có khả năng đáp ứng những
yêu cầu phức tạp của công việ
c tương ứng với trình độ được đào tạo (trừ một số
trường hợp đặc biệt không qua đào tạo); từ đó tạo ra năng suất và hiệu quả cao
trong công việc, có những đóng góp đáng kể cho sự tăng trưởng và phát triển của
mỗi đơn vị nói riêng và toàn xã hội nói chung.
Định nghĩa trên là cách trả lời tương đối phù hợp cho những câu hỏi đã nêu
về
nguồn nhân lực chất lượng cao. Tuy nhiên để làm rõ hơn khái niệm “nguồn nhân
lực chất lượng cao”, cũng như để dễ dàng hơn trong việc thống kê, phân tích và
đánh giá lực lượng lao động này, cần thiết phải xây dựng những tiêu chí xác định
ngưồn nhân lực chất lượng cao ở mức độ cụ thể hơn. Có thể bước đầu nêu ra các
tiêu chí xác định nguồn nhân lực chất lượng cao như sau:

Phát triển NNL và NNL chất lượ
ng cao phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất
nước là một trong những khâu đột phá quan trọng được Đảng ta đề ra tại Nghị quyết
Đại hội Đảng XI. Trong đó, NNL chất lượng cao là nhân tố giữ vai trò trung tâm; là
khâu quan trọng nhất chi phối việc thực hiện các đột phá khác. Phát triển NNL chất
lượng cao là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, diễn ra trên mọi lĩnh vực kinh tế,
xã hội; được b
ảo đảm thông qua thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó vai trò
của ngành giáo dục và đào tạo là trọng tâm, hệ thống các trường đại học, cao đẳng,
các trung tâm, cơ sở đào tạo nguồn nhân lực là then chốt. Nghị quyết Đại hội XI
của Đảng chỉ rõ: “Phải đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân theo
hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hộ
i nhập quốc tế, trong
đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý
là khâu then chốt”. Đây chính là yếu tố căn bản, cốt lõi để nền giáo dục thực hiện
tốt vai trò trung tâm trong xây dựng, phát triển nguồn nhân lực quốc gia.
1.2 Các tiêu thức xác định nguồn nhân lực chất lượng cao
1.2.1 Năng lực về thể chất (thể lực) của nguồ
n nhân lực
Nói đến thể lực là nói đến tình trạng sức khỏe của NNL, sức khỏe là sự phát
triển hài hòa của con người về cả thể chất lẫn tinh thần. Trong hiến chương của tổ
chức y tế thế giới đã nêu: "Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thỏa mái về thể

1
Tony Buzan: Bản đồ tư duy trong công việc, NXB Lao động – Xã hội, HN 2006, trang 29. 6
chất, tâm thần và xã hội”. Quan niệm về chất lượng NNL mà đề tài phân tích là
năng lực tinh thần và năng lực thể chất của NNL, tức là nói tới sức mạnh và tính

7
Các chỉ tiêu cơ bản về y tế, bệnh tật tác động đến các yếu tố cấu thành chất
lượng dân số; các yếu tố này ảnh hưởng đến sự phát triển nguồn nhân lực trong
tương lai của một quốc gia, vùng địa phương vì tái sản xuất của dân số là cơ sở của
sự hình thành của nguồn nhân lực, quá trình này được biểu hiện mang tính lâu dài.
- Chỉ tiêu cơ bản phả
n ánh về chăm sóc y tế, bệnh tật của nguồn nhân lực:
• Tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi;
• Tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi;
• Tỷ lệ trẻ em sinh ra sống thấp cân;
• Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng;
• Tỷ lệ tử vong mẹ liên quan đến sinh sản;
• Tỷ lệ sản phụ
được chăm sóc tại các cơ sở y tế;
• Tỷ suất dân số mắc bệnh truyền nhiễm;
• Chỉ tiêu bệnh tật của người lao động.
Ngoài ra, tùy theo mục đích nghiên cứu, người ta còn tính một số chỉ tiêu sau
đây: Tỷ suất dân số trong tuổi mắc bệnh có tiêm chủng, tỷ suất dân số trong tuổi bị
nhiễm HIV/AIDS, tỷ suất dân số trong tuổi mắc các bệnh xã hộ
i. Các tỷ suất dân số
trong tuổi mắc bệnh có tiêm chủng, dân số trong tuổi bị nhiễm HIV/AIDS, dân số
trong tuổi mắc các bệnh xã hội.
Vì thế, thể chất của NNL phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội,
phân phối thu nhập, cũng như chính sách xã hội trước mắt và lâu dài của mỗi quốc
gia, nếu các vấn đề liên quan đến sức khỏe, dinh dưỡng không được giải quyết tốt
s
ẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng nguồn nhân lực cả về thể lực lẫn trí tuệ;
Tình trạng thể lực chung của người Việt Nam đã được cải thiện đáng kể, tuy nhiên,
tầm vóc và thể lực người Việt Nam hiện còn nhiều hạn chế. Tỷ trọng người lớn có
chỉ số cơ thể (BMI) bình thường chỉ chiếm khoảng 48% trong tổng s

thời đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa chiều cao và trọng lượng cơ thể, tăng cường
trạng thái sức khỏe chung, đặc biệt là sự phát triển hài hòa về tố chất thể lực cần thiết
(sức bền, sức mạnh, sức nhanh, mềm dẻo, khéo léo…) cho người lao động, học tậ
p,
sáng tạo và các hoạt động bình thường khác của mỗi người.
Bảng 1.2 Các mục tiêu cụ thể cần đạt được
2000 2005 2010 2013 2020
Tuổi thọ 67,8 70 71 72,8 75
Tỷ lệ chết ở trẻ em dưới 5 tuổi
(0/00)
42 37 32 28 20
Chiều cao của thanh niên (m) - - 1.6 1.63 1.65
Nguồn: Chiến lược tăng trưởng toàn diện và xóa đói giảm nghèo; Nghị quyết 37/CP của Chính phủ về định
hướng chiến lược công tác chăm sóc và sức khỏe nhân dân giai đoạn 1996-2000 và 2020.
1.2.2 Năng lực tinh thần (trí lực) của nguồn nhân lực
Chất lượng NNL được phản ánh chủ yếu thông qua sức mạnh trí tuệ, đây là
yếu tố quan trọng nhất quyết định chất lượng NNL. Trí lực của NNL biểu hiện ở
năng lực sáng tạo, khả năng thích nghi và kỹ năng lao động nghề nghiệp của người
lao động thông qua các chỉ số: trình độ văn hóa, dân trí, học v
ấn trung bình của
người dân; số lao động qua đào tạo, trình độ và chất lượng đào tạo; mức độ lành 9
nghề (kỹ năng, kỹ xảo…) của lao động; trình độ tổ chức quản lý sản xuất kinh
doanh; năng suất, chất lượng hiệu quả của lao động…
- Chỉ tiêu trình độ văn hóa của nguồn nhân lực.
Trình độ văn hóa của nguồn nhân lực là trạng thái hiểu biết cao hay thấp của
người lao động đối với những kiến thức phổ thông về tự nhiên và xã hộ
i. Trình độ văn

10
bản, thực hiện những việc đơn giản để duy trì cuộc sống. Trình độ học vấn của NNL
được đánh giá qua các chỉ tiêu sau:
Thứ nhất: Tỷ lệ người biết chữ trong tổng dân số từ 15 tuổi trở lên hoạt động
kinh tế.
Là số % những người từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế có thể đọc, viết và
hiểu những câu đơn gi
ản của tiếng mẹ đẻ hoặc tiếng nước ngoài so với tổng số dân
số 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế. Chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá trình độ
văn hóa ở mức tối thiểu của nguồn nhân lực. Các thống kê lao động và việc làm
trong nước sử dụng chỉ tiêu này.
Thứ hai: Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế có trình độ văn hóa
tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông
Là số % dân số từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế có trình độ văn hóa tốt
nghiệp tiểu học (trung học cơ sở, trung học phổ thông) so với dân số từ 15 tuổi trở
lên hoạt động kinh tế. Chỉ tiêu này đánh giá một cách đầy đủ trình độ văn hóa của
nguồn nhân lực.
Thứ
ba: Số năm đi học trung bình của dân số từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế
Là số năm trung bình một người từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế dành cho
học tập. Đây là một trong những chỉ tiêu được liên hiệp quốc sử dụng để đánh giá
chất lượng NNL của các quốc gia.
Thứ tư: Tỷ lệ dân số đi học các cấp Tiểu học, THCS, THPT
Là số % trẻ em đi học cấp tiểu học (trung học cơ sở, trung học phổ thông) đủ
độ tuổi của các em này có thuộc độ tuổi cấp tiểu học (trung học cơ sở, trung học
phổ thông) hay không trong tổng dân số ở độ tuổi cấp tiểu học từ 6-10 tuổi, cấp
trung học cơ sở từ 11 - 14 tuổi; cấp trung học phổ thông từ 15-17 tuổi). Chỉ tiêu này
dùng để đánh giá trình độ phát triển giáo dục ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân
lực của các quốc gia.
Thứ năm: Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi cấp tiểu học, THCS, THPT

và kỹ năng cần thiết để đảm đương các chức vụ trong quản lý, kinh doanh và các
hoạt động nghề nghiệp. Lao động có chuyên môn kỹ thuật bao gồm những công
nhân từ bậc 3 trở lên (có bằng hoặc không có bằng) cho tới những người có trình độ
trên đại h
ọc. Họ được đào tạo ở các Trường kỹ thuật, được trang bị kỹ năng thực
hành về công việc nào đó và được thể hiện thông qua các chỉ tiêu so sánh sau:
Thứ nhất: Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo so với lực lượng lao động đang làm việc
là % số lao động đã qua đào tạo (từ sơ cấp, công nhân kỹ thuật đến sau đại học) so vớ
i 12
lực lượng lao động đang làm việc. Chỉ tiêu này dùng để đánh giá khái quát trình độ
chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực.
Bảng 1.4 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động tại Việt Nam
Đơn vị tính: %

1999 2002 2004 2005 2012 2013
Tổng số lao động (triệu người) 37,78 40,69 50,3 44,38 51,93 53,86
Lao động không có chuyên môn (%) 86,13 80,38 77,5 75,2 82,7 81,6
Lao động có chuyên môn kỹ thuật (%) 13,87 19,62 22,5 24,8 17,3 18,4
Nguồn: Báo cáo điều tra lao động, việc làm, Tổng cục thống kê - Bộ Kế hoạch đầu tư năm 2013
Thứ hai: trình độ chuyên môn kỹ thuật được thể hiện thông qua tỷ lệ lao động
được đào tạo theo cấp bậc so với tổng số lao động đang làm việc của cả nước, từng
vùng, từng ngành. Chỉ tiêu này đánh giá một cách cụ thể nhất về trình độ CMKT
của nguồn nhân lực. Như vậy đến nay, vẫn còn bộ phận nguồn nhân lực chưa qua
đào tạo. Một lực lượng lao động như vậy, khó có thể đáp ứng yêu cầu “đi tắt, đón
đầu” tiến vào nền kinh tế tri thức.
Thứ ba: là cơ cấu các loại lao động đã qua đào tạo theo trình độ chuyên môn
kỹ thuật và cấp bậc đào tạo thể hiện cơ cấu số lao động có trình độ ĐH,CĐ/số lao

năng lực hoạt động chuyên môn của người lao động.
- Năng lực sáng tạo:
Tiếp tục phát triển và nâng cao trí lực và năng lực hoạt động thể hiện bằng
trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, tầm hiểu biết, phổ kiến thức, kỹ

năng quản lý, tính năng động, năng lực thích nghi và sáng tạo của nguồn nhân lực.
Trong thời đại ngày nay, việc trang bị những kiến thức học vấn phổ thông và kỹ
năng nghề nghiệp là chưa đủ, cần phải tạo lập cho mỗi con người Việt Nam có tư
duy năng động, sáng tạo, dám mạo hiểm, sẵn sàng thích ứng và thích ứng cao trong
một thế giới đầy biến độ
ng và cạnh tranh khốc liệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế
và khu vực. Cho nên trí lực còn được biểu hiện ở óc sáng tạo, tính linh hoạt, nhanh
nhẹn, sắc bộn trong phát hiện thông tin mới và khả năng thích ứng nhanh để học
tập, áp dụng, làm chủ các phương tiện khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại
cũng như năng lực hoạch định các giải pháp kinh tế và thực hiện phát tri
ển kinh tế.
Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực trí tuệ trong quá trình CNH, HĐH
rót ngắn, tiếp cận kinh tế tri thức hiện nay.
1.2.3 Chỉ số phát triển nhân lực HDI (
Human Development Index)
Nếu quan niệm NNL là tổng thể năng lực lao động trong nền kinh tế của một
quốc gia, tức là lực lượng lao động của đất nước đó, thì khi xét chất lượng NNL, tức
là bộ phận trực tiếp hoạt động và sáng tạo ra của cải vật chất cho xã hội không thể

Trích đoạn Sự tác động của các chính sách vĩ mô của Nhà nước tới chất lượng nguồn Đào tạo phát triển NNL chất lượng cao Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Những đặc điểm kinh tế Thực trạng phân bổ và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status