LỜI CẢM ƠN
Trong cuộc sống này, mỗi con người đều thông qua sự ham mê, tìm hiểu,
nhận thức để có kiến thức. Mỗi con người cần học tập, lao động để định hướng và
thực hiện một công việc cụ thể có ích cho bản thân, gia đình và xã hội.
Để hoàn thành luận văn Thạc sĩ này, ngoài sự nỗ lực học tập, rèn luyện của
bản thân, tôi cũng đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô, gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp. Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn tới:
Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo Đại học và Sau đại học, Bộ môn Công nghệ
và Quản lý xây dựng trường Đại học Thủy lợi Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
GS-TS.Vũ Thanh Te, người thầy kính mến đã luôn động viên giúp đỡ và tạo
mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Cảm ơn vợ,con, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp của tôi đã luôn ở bên cạnh
động viên và giúp đỡ tôi học tập, rèn luyện, làm việc và đã hoàn thành luận văn này.
Xin trân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thạc Kiên
LỜI CAM ĐOAN
1.3.3. Sự cố chất lượng công trình xây dựng 12
Kết luận chương 1 22
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT
LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG GIAI ĐOẠN THI CÔNG 23
2.1. Công tác đấu thầu xây dựng 23
2.1.1. Quy định chung 23
2.1.2. Các hình thức lựa chọn nhà thầu 23
2.1.3. Phương thức lựa chọn nhà thầu 24
2.1.4. Kế hoạch và quy trình lựa chọn nhà thầu 26
2.1.5. Phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất, xét duyệt trúng thầu. 27
2.2. Cơ sở pháp lý trong công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng 30
2.2.1. Phân định trách nhiệm quản lý chất lượng công trình xây dựng giữa Chủ đầu
tư với Ban quản lý dự án hoặc Tư vấn quản lý dự án 30
2.2.2. Chỉ dẫn kỹ thuật 30
2.2.3. Phân cấp các loại công trình xây dựng 31
2.2.4. Nội dung quản lý chất lượng thi công xây dựng, phân cấp sự cố công trình
trong quá trình thi công xây dựng và khai thác sử dụng công trình. 31
2.2.5. Sự cố công trình trong thi công và khai thác sử dụng 33
2.3. Khống chế chất lượng trong giám sát thi công 33
2.3.1. Chất lượng và chất lượng thi công công trình 33
2.3.2. Hệ thống đảm bảo chất lượng thi công 34
2.3.3. Khống chế chất lượng giai đoạn chuẩn bị thi công 36
2.3.4. Khống chế chất lượng vật liệu, cấu kiện 40
2.3.5. Khống chế chất lượng quá trình thi công 40
2.3.6. Đánh giá chất lượng nghiệm thu hoàn công 44
2.3.7. Xử lý khuyết tật chất lượng công trình giai đoạn bảo hành 47
Kết luận chương 2 48
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG XÂY
DỰNG TRONG GIAI ĐOẠN THI CÔNG CHO DỰ ÁN DI CHUYỂN, NÂNG
chuẩn, quy chuẩn áp dụng còn chậm đổi mới gây khó khăn cho công tác quản lý, về
năng lực của các đơn vị tham gia dự án còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến chất
lượng của dự án khi hoàn thành.
Trong giai đoạn thi công xây dựng công tác quản lý dự án cần đặc biệt quan
tâm đến chất lượng công trình. Vai trò của các chủ thể tham gia dự án như: chủ đầu
tư, cơ quan cấp phát vốn, nhà thầu thi công, đơn vị thiết kế, đơn vị giám sát, đơn vị
sử dụng và giám sát nhân dân là rất quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng và
hiệu quả của dự án.
Để các dự án xây dựng công trình đảm bảo chất lượng, đặc biệt là ở giai đoạn
thi công xây dựng, rất cần nghiên cứu về quản lý chất lượng xây dựng công trình.
Xuất phát từ các vấn đề khoa học và thực tiễn đặt ra học viên đã chọn đề tài: Đề
xuất một số giải pháp tăng cường công tác quản lý chất lượng công trình xây
dựng giai đoạn thi công cho dự án Di chuyển, nâng cấp trạm bơm Đan Hoài.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề xuất một số giải pháp tăng công tác quản lý chất lượng công trình xây
dựng giai đoạn thi công cho dự án: Di chuyển, nâng cấp trạm bơm Đan Hoài, từ đó
áp dụng các giải pháp quản lý chất lượng cho các dự án có quy mô tương tự.
3. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu sử dụng như: phương pháp quan sát khoa học,
phương pháp điều tra, phương pháp phân tích và tổng hợp kinh nghiệm, phương
pháp kết hợp để nghiên cứu và giải quyết các vấn đề được đặt ra.
2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý dự án xây dựng công
trình thủy lợi. Trong đó, chú trọng đến công tác quản lý chất lượng công trình xây
dựng trong giai đoạn thi công.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là dự án: Di chuyển, nâng cấp trạm bơm Đan Hoài,
hoàn thành đúng thời gian, trong phạm vi ngân sách đã được duyệt, đảm bảo chất
lượng, đạt được mục tiêu cụ thể của dự án và các mục đích đề ra.
1.1.2. Vai trò của quản lý dự án xây dựng
Quản lý dự án giúp chủ đầu tư hoạch định, theo dõi và kiểm soát tất cả
những khía cạnh của dự án và khuyến thích mọi thành phần tham gia vào dự án đó
nhằm đạt được những mục tiêu của dự án đúng thời hạn với chi phí, chất lượng và
thời gian như mong muốn ban đầu.
1.1.3. Nội dung quản lý dự án xây dựng
1. Quản lý kế hoạch (tổng thể) dự án.
2. Quản lý chi phí và nguồn lực.
3.Quản lý thời gian và tiến độ.
4. Quản lý hợp đồng.
5.Quản lý thi công xây lắp.
6. Quản lý rủi ro của dự án.
7. Quản lý vận hành dự án.
1.1.4. Quy trình quản lý dự án xây dựng
1.2. Tình hình quản lý dự án xây dựng ở nước ta hiện nay
1.2.1. Quản lý nhà nước trong hoạt động xây dựng
1.2.1.1. Hệ thống văn bản Luật:
Hoạch
định
Lập kế
hoạch
Tổ chức
thực
hiện
1.2.1.2. Hệ thống văn bản dưới Luật:
1. Nghị định 12/2009/NĐ-CP:
Nghị định số12/2009/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình đã
thực hiện phân cấp mạnh hơn về thẩm quyền quyết định đầu tư cho cấp huyện, xã
thì việc quản lý và giám sát lại thiếu chặt chẽ. Mặt khác, sau khi phân bổ vốn, Chủ
đầu tư có quyền thực hiện các công đoạn chuẩn bị đầu tư, phê duyệt dự án, bản vẽ,
phê duyệt đấu thầu, mời thầu nên thường xảy ra tình trạng thông đồng để đấu thầu
thành công.
5
2. Nghị định số 48/2010/NĐ-CP:
Nghị định số 48/2010/NĐ-CP về hoạt động xây dựng có nhiều nội dung chưa
phù hợp. Đó là việc chỉ áp dụng đối với các hợp đồng thuộc dự án sử dụng 30% vốn
nhà nước trở lên; quy định giá hợp đồng trọn gói không được điều chỉnh gây khó
khăn cho quá trình thực hiện; quy định về việc điều chỉnh giá hợp đồng theo đơn giá
cố định và theo thời gian còn chưa phù hợp; quá trình thực hiện các loại hợp đồng
theo đơn giá điều chỉnh việc kiểm tra, xác định giá vật tư, nguyên, nhiên vật liệu
theo giá thị trường gặp nhiều khó khăn.
3. Nghị định số 112/2009/NĐ-CP:
Nghị định số 112/2009/NĐ-CP về quản lý chí phí đầu tư xây dựng công trình
quy định chỉ được điều chỉnh tổng mức đầu tư khi điều chỉnh dự án là chưa phù
hợp. Hệ thống định mức được công bố chưa đồng bộ, thiếu nhiều định mức công tác
đặc thù, công nghệ ít được đổi mới gây vướng mắc trong thanh toán hoặc tranh
chấp giữa chủ đầu tư với nhà thầu hoặc cơ quan thanh tra, kiểm tra; một số định
mức chi phí tỷ lệ % quy định chưa phù hợp, đặc biệt trong lĩnh vực tư vấn đầu tư
xây dựng và quản lý dự án.
4. Nghị định số 15/2013/NĐ-CP:
Nghị định số 15/2013/NĐ-CP về Quản lý chất lượng công trình xây dựng
thay thế Nghị định 209/2005/NĐ-CP là hợp lý với tình hình của ngành xây dựng
hiện tại. Một số nội dung mới, có tính chất đi sâu hơn về chất lượng công trình,
đơn vị tư vấn chất lượng vẫn còn nhiều đơn vị tư vấn năng lực hạn chế, chậm đổi
mới, tính cạnh tranh thấp, dẫn đến chất lượng tư vấn đầu tư thấp. Các nhà thầu và
nhà đầu tư chịu rủi ro cao.
1.2.2.3. Giai đoạn nghiên cứu khả thi
Giai đoạn này cần kiểm tra lại các những căn cứ, sự cần thiết đầu tư, hình
thức đầu tư, phương án địa điểm, phương án giải phóng mặt bằng, giải pháp xây
dựng, vốn, khả năng tài chính, tổng mức đầu tư, tiến độ dự án. Nhiều dự án chủ đầu
tư chưa chú trọng đến tổng mức đầu tư, tổng tiến độ, phương án giải phóng mặt
bằng, kế hoạch vốn dẫn đến dự án chậm tiến độ, tổng mức đầu tư phải điều chỉnh.
7
1.2.2.4. Giai đoạn thiết kế
Giai đoạn này là giai đoạn đưa ý tưởng dự án thành hiện thực, cần chú trọng
trong khâu khảo sát, thiết kế. Nhiều Tư vấn không đủ năng lực vẫn nhận được hợp
đồng dẫn đến các công trình thiết kế mắc lỗi như: khảo sát không kỹ càng, thiếu số
liệu thống kê, thiết kế thiếu kinh nghiệm, không tuân thủ các tiêu chuẩn quy chuẩn,
làm sai sót trong hồ sơ, thông đồng với chủ đầu tư gây thất thoát tiền của nhà nước,
khó khăn trong quá trình thi công và quyết toán công trình.
1.2.2.5. Giai đoạn đấu thầu
Trong khâu lựa chọn nhà thầu, chủ đầu tư không đủ thông tin để đánh giá
năng lực, kinh nghiệm nhà thầu. Các nhà thầu đua nhau đưa ra giá dự thầu thấp.
Nhiều nhà thầu năng lực yếu kém, không đáp úng được yêu cầu vẫn thắng thầu dẫn
đến quá trình thực hiện cắt giảm nhiều chi phí, thay đổi biện pháp thi công, bớt xén
nhiều công đoạn, không thực hiện đúng quy trình kỹ thuật, buông lỏng trong quản
lý chất lượng và bằng mọi cách để hạ giá thành sản phẩm tăng lợi nhuận bất chấp sự
an toàn của người lao động.
1.2.2.6. Giai đoạn thi công
Ở giai đoạn này, vấn đề đảm bảo chất lượng xây dựng phải luôn gắn liền với
đảm bảo an toàn trong quá trình thi công. Ở nước ta, vấn đề này chưa coi trọng, đặc
biệt là trong quản lý nhà nước, công tác thanh kiểm tra của cơ quan nhà nước còn
- Nhược điểm: vai trò của Nhà nước trong công tác quản lý bị hạn chế.
2. Tại Anh: Tư vấn quản lý chi phí (Quantity Surveyor) đóng vai trò vô cùng
quan trọng. Bởi vì, Tư vấn quản lý chi phí chịu trách nhiệm quản lý chi phí xây
dựng từ khởi đầu đến khi dự án được hoàn thành. Tư vấn quản lý chi phí chịu trách
nhiệm kiểm soát chi phí từ ngân sách đến thanh toán cuối cùng. Quy trình quản lý
chi phí bao gồm dự toán, đấu thầu, hợp đồng, thanh toán, thay đổi và khiếu nại rất
rõ ràng. Quy trình này được thiết lập bởi tổ chức chuyên nghiệp về quản lý chi phí
Royal lnstitute of Charteređ Surveyor.
- Ưu điểm: kiểm soát được mọi chi phí, hiệu quả của dự án.
- Nhược điểm: ít quan tâm đến yêu cầu của khách hàng.
9
3. Tại Mỹ: Mô hình quản lý ba bên để quản lý chất lượng xây dựng gồm: bên
thứ nhất là Nhà thầu, người sản xuất phải tự chứng nhận chất lượng sản phẩm của
mình; bên thứ hai là sự chứng nhận của khách hàng về chất lượng sản phẩm phù
hợp với tiêu chuẩn; bên thứ ba là sự đánh giá độc lập của một tổ chức nhằm xác
định chính xác tiêu chuẩn về chất lượng. Sau nhiều thất bại khi các doanh nghiệp áp
dụng ISO 9000 để quản lý chất lượng, hiện nay Mỹ đã áp dụng hệ thống quản lý
chất lượng toàn diện (TQM).
- Ưu điểm: chất lượng toàn diện, đảm bảo sự hài lòng của khách hàng.
- Nhược điểm: quản lý quá trình có sự tham gia của nhiều thành phần.
4. Tại Pháp: Quản lý chất lượng các công trình dựa trên việc bảo hiểm bắt
buộc. Các hãng bảo hiểm sẽ từ chối bảo hiểm khi công trình không có đánh giá về
chất lượng. Bên cạnh đó công tác kiểm tra ngăn ngừa rủi ro với các tiêu chí như
mức độ bền vững của công trình, an toàn lao động và phòng chống cháy nổ, tiện
nghi cho người sử dụng.
- Ưu điểm: ngăn ngừa được rủi ro, nâng cao chất lượng, tuổi thọ công trình.
- Nhược điểm: chi phí công trình lớn do phải đóng bảo hiểm công trình.
5. Tại Singapore: Chính quyền quản lý rất chặt chẽ việc thực hiện các dự án
xây dựng. Ngay từ khi lập dự án phải đảm bảo yêu cầu về quy hoạch tổng thể, về an
có đủ năng lực
hoạt động tương ứng,
chỉ huy trưởng công trường có năng lực hành nghề phù hợp,
có thiết bị thi công đáp ứng yêu cầu. Hiện nay, không ít nhà thầu thi công năng lực
kém, thi công đa ngành, chỉ huy trưởng thiếu kinh nghiệm, máy móc thiết bị cũ lạc
hậu, lao động tay nghề cao không đáp ứng yêu cầu như trong hồ sơ dự thầu, quá
trình thi công ảnh hưởng đến chất lượng công trình.
1.3.1.3. Điều kiện năng lực của Ban quản lý dự án
Điều kiện năng lực của ban quản lý dự án là: năng lực giám đốc ban, năng lực của bộ
máy ban quản lý được quy định rõ ràng. Hiện nay, có rất nhiều Ban quản lý dự án được thành
lập, trong khi công việc quản lý dự án thường phức tạp, phân tán, dàn trải, nhân lực quản lý dự
án chưa đáp ứng được yêu cầu, dẫn đến quá trình quản lý dự án thường chưa đáp ứng mục tiêu
và yêu cầu đề ra.
11
1.3.1.4. Sự tham gia của giám sát cộng đồng
Sự tham gia của giám sát cộng đồng trong việc đảm bảo an toàn công trình, phòng
chống cháy nổ, an toàn vệ sinh môi trường còn hạn chế. Sau khi khởi công công trình Nhà
thầu triển khai thi công môi trường ảnh hưởng đến người dân trong khu vực như: tiếng ồn;
khói, bụi ô nhiễm, vệ sinh; an toàn an ninh; an toàn lao động; an toàn giao thông nhưng nhiều
người dân và chính quyền địa phương không lên tiếng, sợ “đụng chạm” quyền lợi, trách
nhiệm.
1.3.2. Công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng
1.3.2.1. Giai đoạn đấu thầu và chuẩn bị ký kết hợp đồng
Đấu thầu là một quá trình chủ đầu tư lựa chọn được một nhà thầu đáp ứng
các yêu cầu của mình theo quy định của luật pháp. Mục tiêu của người mua là có
được hàng hóa và dịch vụ đáp ứng yêu cầu của mình về kỹ thuật, chất lượng và chi
phí thấp nhất. Mục đích của nhà thầu là giành được quyền cung cấp hàng hóa dịch
vụ đó và đảm bảo mức lợi nhuận cao nhất có thể. Nếu trúng thầu sẽ tiến hành đàm phán,
ký kết hợp đồng xây dựng.
đập bị vỡ hoàn toàn. Bề mặt đập (khu vực không bị vỡ) xuất hiện nhiều vết nứt lớn,
không có dấu hiệu nước tràn qua. Sự cố vỡ đập không gây thiệt hại về người nhưng
làm hư hại một diện tích lớn cây cao su của công ty TNHH Cao su 72, Binh đoàn
15, Bộ Quốc phòng và nương rẫy, hoa màu của người dân.
2. Tổ chức thực hiện và đánh giá nguyên nhân sự cố:
Sau khi nhận được công văn số 6175/VPCP-KTN ngày 13/8/2013 của Văn
phòng Chính phủ, Bộ xây dựng đã có Quyết định số 881/QĐ-BXD ngày 18/9/2013
về việc thành lập tổ công tác kiểm tra, đánh giá sự cố vỡ đập Thủy điện Lakrel 2
(Tổ công tác) gồm đại diện Cục giám định nhà nước về chất lượng công trình xây
dựng (Cục giám định), đại diện Sở Công thương Gia Lai và một số chuyên gia về
địa chất, thủy lợi, thủy điện.
Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra hiện trường công trình, họp với chủ đầu tư,
tư vấn thiết kế và các bên liên quan. Trên cơ sở yêu cầu công việc và căn cứ vào
điều kiện năng lực của các tổ chức tư vấn, Tổ công tác đã quyết định lựa chọn đơn
vị tư vấn độc lập Công ty Cổ phần Tư vấn xây dựng điện 1(PECC1) là đơn vị đầu
ngành về thiết kế và giám sát công trình thủy điện ở Việt Nam để kiểm định hạng
13
mục đập đất và cống dẫn dòng phục vụ đánh giá nguyên nhân sự cố vỡ đập; giao
trách nhiệm cho các thành viên việc giám sát quá trình thực hiện thí nghiệm, kiểm
định của PECC1 tại hiện trường; kiểm tra hồ sơ quản lý chất lượng, quản lý đầu tư
xây dựng và hợp đồng giữa các bên để xác định trách nhiệm của các chủ thể tham
gia xây dựng công trình.
Trên cơ sở nhiệm vụ và nội dung công việc được giao PECC1 đã lập đề
cương kiểm tra, kiểm định đánh giá đập dâng và cống dẫn dòng. Ngày 1/10/2013,
Tổ công tác đã có công văn số 347/GĐ-GD2 phê duyệt đề cương kiểm định do
PECC1 lập làm cơ sở cho việc triển khai, thực hiện kiểm định.
PECC1 đã thực hiện việc thẩm tra lại hồ sơ khảo sát, hồ sơ thiết kế để đánh
giá sự phù hợp so với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được áp dụng cho dự án, đánh
giá sự hợp lý của số liệu đầu vào gồm: số liệu địa chất, khí tượng thủy văn, chỉ tiêu
khoảng cách bố trí cũng như chiều dày lớp bê tông bảo vệ cốt thép. Cụ thể là:
- Về cốt thép thiết kế yêu cầu là cốt thép Φ14AII a=20 (cả 2 phương dọc,
phương ngang) nhưng thực tế thi công là Φ14 và Φ12 xen kẽ, khoảng cách giữa các
thanh trong lưới a=17-20cm.
- Về lớp bê tông bảo vệ cốt thép theo hồ sơ thiết kế quy định là a=3cm tương
ứng chiều cao tiết diện chịu lực h
0
=40-3-1,4/2=36,3cm. Thực tế chiều dày biến đổi
từ 2-10cm, trung bình điểm đo a=6,5cm, chiều cao tiết diện chịu lực h
0
=26,01-
35,51cm, trung bình 31cm.
Một số chi tiết khác thay đổi so với thiết kế đã được phát hiện gồm: không
thi công kết cấu bê tông cốt thép mố khóa đầu cống, không thi công các cừ tai
chống thấm, không thi công lớp đất sét luyện dày 1,0m bọc quanh thành cống như
trong bản vẽ thiết kế quy định để chống xói ngầm tiếp xúc trực tiếp với thành cống,
đã thi công tấm chắn nước tại khớp nối bằng tấm inox phẳng thay cho khớp nối
đồng Ômêga mà hồ sơ thiết kế yêu cầu.
Kết quả đánh giá hiện trạng cho thấy ngoại trừ bản đáy cống không bị phá
hoại, kết cấu thành cống và trần cống bị phá hoại không thể khắc phục được. Bộ
15
phận công trình còn lại bao gồm phân đoạn đập đất vai phải dài 71m, phân đoạn đập
vai trái dài 116m).
4. Nguyên nhân sự cố:
a) Nguyên nhân trực tiếp:
Kết quả thí nghiệm, kiểm tra cho thấy, do Chủ đầu tư, đơn vị thi công, đơn vị
Tư vấn giám sát đã cho thả phai đầu cống dẫn dòng chặn dòng để thi công hoàn
thiện hai tường cánh hạ lưu tại thời điểm tháng 6/2013 là thời điểm xảy ra mưa sớm
đầu vụ thượng nguồn làm mực nước hồ dâng nhanh (đến +200m) gây ra tải trọng
Tải trọng đất đắp gia tăng, áp lực nước tăng lên dẫn đến cống vượt quá khả
năng chịu lực, kết cấu cống bị phá hoại gây ra sự cố vỡ đập.
b) Một số nguyên nhân khác:
- Công trình còn đang thi công dang dở (đập chưa hoàn thiện, đập tràn còn
đang thi công đào đá dốc nước), chưa tiến hành nghiệm thu hoàn thành hạng mục
đập dâng, đập đất, đập tràn, chưa có văn bản chấp thuận của cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền về an toàn vận hành theo quy định, chưa đủ điều kiện kỹ thuật
cho phép chặn dòng tích nước nhưng chủ đầu tư, đơn vị thi công, đơn vị tư vấn
giám sát đã cho thả phai đầu cống dẫn dòng chặn dòng chảy để thi công hoàn thiện
2 tường cánh hạ lưu là chưa tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về quản lý đầu tư
xây dựng và quản lý chất lượng công trình.
- Theo báo cáo của chủ đầu tư, khảng đầu năm 2010, khi hạng mục cống dẫn
dòng thực hiện được một phần, thì đê quây và cống dẫn dòng đã nối hai bờ đập lại
với nhau, nó vô tình trở thành con đường giao thông tự phát của những người dân
khai thác gỗ qua lại ngày đêm. Như vậy, không loại trừ trường hợp tải trọng của các
loại phương tiện giao thông đã gây ra ảnh hưởng cục bộ nhất định đến kết cấu thân
cống.
1.3.3.2. Sự cố công trình sạt lở công trình đầu mối Tắc Giang
1. Thông tin về công trình:
Cụm công trình đầu mối Tắc Giang là một trong những hạng mục thuộc dự
án thủy lợi lưu vực Sông Hồng giai đoạn 2. Công trình được xây dựng nhằm điều
tiết nước sông Châu, lấy nước từ sông Hồng tưới tiêu cho các huyện trong tỉnh Hà
Nam và phục vụ giao thông đường thuỷ. Công trình được khởi công xây dựng từ
tháng 6 năm 2007, hoàn thành và đưa vào sử dựng tháng 4 năm 2010. Đơn vị chủ
quản đầu tư là Bộ NN &PTNT, chủ đầu tư là Ban Quản lý đầu tư và xây dựng thủy
lợi I; nhà thầu thi công là Tổng Công ty An Bình - Nghệ An.
2. Mô tả sự cố công trình:
17
Tại hiện trường vụ sụt lún, nhà điều hành nằm nghiêng về một phía, một số
1.3.3.3. Sự cố công trình trong quá trình thi công
1. Sự cố cát chảy:
a) Khái niệm:
Cát chảy là hiện tượng đất mềm rời bão hòa nước chảy vào công trình đào
cắt qua nó như một dịch thể dẻo nhớt. Trong thành phần của đất cát chảy có nhiều
chất hữu cơ, hạt keo và hạt phân tán nhỏ.
b) Nguyên nhân:
Do áp lực thủy tĩnh và áp lực thủy động của dòng nước gây lên.
c) Phân loại:
- Cát chảy thật: còn gọi là chảy xúc biến, có lẫn chất hữu cơ, hạt keo và hạt
phân tán nhỏ (hồ, đầm lầy, ). Khi ngừng bơm nước thì cát có hiện tượng dẫn chảy,
nước chảy vào công trình là đục. Chảy tựa dịch thể dẻo nhớt, sau khi nước tách ra,
hình dạng như cái bánh đa. Khi bị hong khô, tạo thành đất dính khá cứng, sáng màu
hơn ban đầu, tạo các tấm giòn dễ vỡ.
- Cát chảy giả: đặc điểm là rất dễ thoát nước, nước thoát ra là trong. Khi
ngừng bơm nước thì cát không chảy vào công trình, nốt chân in trên cát bị xoá,
nước thoát ra, đụn cát có dạng hình nón.
2. Sự cố trượt mái dốc:
a) Khái niệm:
Khối trượt là khối đất đá đã hoặc đang trườn về phía dưới sườn mái do ảnh
hưởng của trọng lực, áp lực thủy động, lực địa chấn và các yếu tố khác. Sự hình
thành một khối trượt là kết quả của quá trình địa chất, được biểu hiện ở sự dịch
chuyển ngang những khối đất đá khi đã mất ổn định.
b) Hình dạng:
Trượt phẳng, trượt gãy khúc, trượt cung tròn, trượt xoắn.
c) Nguyên nhân:
Tăng cao độ dốc của mái dốc khi cắt xén, khi đào hoặc xói lở; làm giảm độ
bền của đất đá do biến đổi trạng thái vật lý khi ẩm ướt, trương nở, giảm độ chặt,
phong hoá, phá hủy kết cấu tự nhiên,
; tác dụng của áp lực thủy tĩnh và thủy động
C±3 và độ ẩm 90%); quản lý mẫu kém; đúc mẫu khuôn không đúng
quy định.
5. Sự cố công trình cốt thép:
20
Nguyên nhân do chất lượng cốt thép không đạt tiêu chuẩn vật liệu hoặc yêu
cầu thiết kế; do đặt sai hoặc đặt thiếu cốt thép; do sai lệch vị trí cốt thép tương đối
lớn; do cốt thép đứt gãy; do cốt thép bị ăn mòn.
6. Sự cố lỗ rỗng, lộ cốt thép trong bê tông:
- Nguyên nhân sự cố lỗ rỗng: do độ sụt của bê tông quá nhỏ, thậm chí đã sơ
ninh; do dùng bê tông phân ly dễ đổ hoặc phương pháp đổ không phù hợp; dùng
sai phụ gia; đầm không kỹ những vùng có nhiều cốt thép; khi đổ bê tông khối lớn
phân theo lớp nghiêng
- Nguyên nhân sự cố lộ cốt thép: đặt sót, thiếu tấm đệm thép, tấm đệm bị
chuyển vị; cục bộ nơi cốt thép dày đặc cốt liệu cát đá không đi qua được; bê tông
bị phân ly, thiếu vữa, độ sụt quá nhỏ, ván khuôn rò rỉ nghiêm trọng, đầm dùi va
vào làm dịch chuyển cốt thép, bê tông không đặc chắc hoặc tháo ván khuôn quá
sớm.
- Nguyên nhân sự cố hở kẹp lớp cặn: do ở khe thi công chưa dọn sạch, hoặc
thao tác không theo quy định của quy phạm thi công; khi phân lớp đổ bê tông,
thời gian ngừng giữa lớp trên và lớp dưới quá lâu, hoặc có tạp chất rơi vào.
1.3.3.4. Nguyên nhân chủ yếu của sự cố chất lượng công trình
1. Vi phạm trình tự xây dựng: không triển khai nghiên cứu khả thi, không có
chứng chỉ thiết kế hoặc thiết kế vượt cấp, thi công không đúng bản vẽ thiết kế,
nhắm mắt làm liều.
2. Có vấn đề trong khảo sát thiết kế: tiến hành khảo sát không cẩn thận, xác
định tùy tiện sức chịu tải của nền, khoảng cách lỗ khoan khảo sát quá lớn, chiều sâu
khảo sát không đủ, chưa làm rõ các hiện tượng địa chất, báo cáo địa chất không tỉ
mỉ, không chính xác.
3. Có vấn đề trong tính toán thiết kế: phương án kết cấu không chính xác, sơ