HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
1
Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bước sang thiên niên kỷ thứ 3 của loài người, cùng với sự phát triển vượt
bậc về khoa học kỹ thuật và những thành tựu rực rỡ về kinh tế -văn hoá-giáo
dục, thì vẫn còn có tới 2/3 dân số thế giới sống trong cảnh nghèo đói, thiếu
nước sạch, thiếu sự chăm sóc y tế, giáo dục, thiếu những điều kiện sinh hoạt
tối thiểu. Trong một nỗ lực chung, xoá bỏ nghèo đói, và giảm dần quãng cách
về trình độ phát triển giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới, hỗ trợ phát
triển chính thức (ODA) đã có những đóng góp tích cực vì mục tiêu phát triển
toàn cầu.
Chính phủ Việt Nam hiện đang gánh vác trách nhiệm đưa đất nước tiến
lên con đường phát triển, thông qua việc đề cao các mục tiêu phát triển con
người, đã dành được sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng các nhà tài trợ quốc
tế. Tính đến năm 2000, tổng số vốn ODA giải ngân cho Việt Nam đã lên tới
7,6 tỷ USD, thông qua các chương trình, dự án xoá đói giảm nghèo, y tế, giáo
dục đào tạo, giao thông, cấp thoát nước, từng bước đã góp phần cải thiện các
chỉ số xã hội, nâng cao mức sống người dân, thúc đẩy quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, văn minh”.
Trong cả nước, Hà Nội cũng là một trong các tỉnh, thành phố thu hút
được nhiều vốn ODA trong các dự án phát triển kết cấu hạ tầng cơ sở. Nhiều
công trình hạ tầng giao thông, cấp thoát nước được xây dựng bằng nguồn vốn
ODA đã tạo ra những thay đổi khởi sắc trong nếp sống văn minh đô thị. Hiện
nay, chủ trương chung của thành phố là tập trung thu hút, sử dụng vốn ODA
hình thành hệ thống cơ sở hạ tầng cơ sở hiện đại, tạo tiền đề cho phát triển
kinh tế.
Trong bối cảnh nguồn cung cấp ODA không ngừng giảm sút, sự cạnh
Chương III: Một số giải pháp nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn
ODA cho phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật thành phố Hà
Nội
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
3
Chương 1 - vài nét về nguồn hỗ trợ phát triển chính thức và vai trò của
nguồn vốn này đối với đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
1.1 Tổng quan về nguồn vốn ODA
1.1.1 Khái niệm, bản chất và phân loại ODA
Khái niệm
Hỗ trợ phát triển chính thức bao gồm các khoản viện trợ không hoàn
lại, viện trợ có hoàn lại, hoặc tín dụng ưu đãi của chính phủ, các tổ chức phi
chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc, các tổ chức tài chính
quốc tế dành cho nước đang và chậm phát triển.
Nguồn vốn từ bên ngoài đưa vào các nước đang và chậm phát triển
được thực hiện thông qua các hình thức:
- Tài trợ phát triển chính thức (Official Development Finance -ODF) là
nguồn tài trợ chính thức của chính phủ cho mục tiêu phát triển. Nguồn vốn
này bao gồm ODA và các hình thức ODF khác trong đó ODA chiếm tỷ trọng
chủ yếu.
- Tín dụng thương mại từ các ngân hàng (Commercial Credit by Banks)
là nguồn vốn chủ yếu hỗ trợ cho các hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment-FDI) là loại
hình kinh doanh mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn, trực tiếp quản lý quá trình
sử dụng vốn, tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi, cũng như các nghĩa vụ tài chính
khác với cơ quan nhà nước.
- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức phi chính phủ (Non
Governme-
có khả năng trả nợ. Sự phức tạp ở chỗ, ODA không có khả năng đầu tư trực
tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu, xong việc trả nợ lại dựa vào xuất
khẩu để thu ngoại tệ. Theo Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ thế giới
(IMF), xác định một quốc gia có khả năng trả nợ nước ngoài là khi nước này
có thể thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ nợ nước ngoài hiện tại và tương lai mà
không cần dựa vào việc giảm hoặc bố trí lại lịch trả nợ hoặc chồng chất thêm
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
5
nợ, mà không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Nước đó cần phải đạt các
tiêu chí sau:
- Tỷ lệ giữa nợ hiện tại theo thời giá so với xuất khẩu trong khoảng
200-250% (Tỷ lệ nợ tồn đọng).
- Tỷ lệ giữa dịch vụ trả nợ so với tổng giá trị xuất khẩu hàng hoá và dịch
vụ trong khoảng 22-25% (Tỷ lệ thanh toán tiền mặt ).
Nhiều nước nghèo mắc nợ nhiều sẽ không có khả năng đạt tỷ lệ này
trong tương lai. Theo số liệu năm 1999, trong số những nước nợ nhiều nhất
có: Braxin (179 tỷ USD); Mêxicô (157 tỷ); Trung Quốc (129 tỷ USD);
Indonêxia (129 tỷ USD); Achentina (94 tỷ USD); Thái Lan (91 tỷ USD).
Nhiều nước nghèo hơn còn có mức nợ nước ngoài lớn hơn GNP. Chẳng hạn,
trong năm 1996, Nigiêria có GNP 27,6 tỷUSD- Nợ 31,4 tỷ USD; Jordan 7,1
tỷ USD- Nợ 8,1 tỷ USD; Lào 1,9 tỷ USD-Nợ 2,3 tỷ USD; Mozambique 1,5 tỷ
USD-Nợ 5,8tỷ USD.
ODA phải được hiểu là các “khoản vay”, không có nghĩa là “cho
không”, do đó các nước tiếp nhận viện trợ cần phải cân nhắc kỹ lưỡng trước
khi lựa chọn mỗi khoản vay, đồng thời phải quản lý và sử dụng có hiệu quả
nguồn vốn vay này, tạo lực hút để thu hút những nguồn vốn khác (FDI, tín
dụng thương mại quốc tế v.v ), là cơ sở, tiền đề cho quá trình xây dựng và
phát triển đất nước.
Phân loại
+ ODA có thể ràng buộc một phần: Một phần chi ở nước viện trợ, phần
còn lại chi ở bất cứ nơi nào.
Theo hình thức
- Hỗ trợ dự án là hình thức chủ yếu của ODA để thực hiện các dự án
cụ thể. Nó có thể là hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể là cho không
hoặc cho vay ưu đãi.
- Hỗ trợ phi dự án bao gồm các hình thức sau:
+ Hỗ trợ cán cân thanh toán: Thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
7
(Chuyển giao tiền tệ), hoặc hỗ trợ hàng hoá, hoặc hỗ trợ nhập khẩu. Ngoại tệ
hoặc hàng hoá chuyển giao qua hình thức này có thể được sử dụng để hỗ trợ
ngân sách.
+ Hỗ trợ trả nợ
- Viện trợ chương trình: là khoản ODA giành cho một mục đích tổng
quát với thời gian nhất định mà không phải xác định một cách chính xác nó
được sử dụng như thế nào. 1.1.2 Nguồn gốc lịch sử của ODA
ODA được hình thành sau đại chiến thế giới thứ II, các nước công
nghiệp phát triển đã có sự thoả thuận trợ giúp các nước thế giới thứ 3 dưới
dạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi. Ngày 14-2-
1960, tại Paris các nước đã ký thoả thuận thành lập tổ chức hợp tác kinh tế và
phát triển (Organization for Economic and Development-OECD), tổ chức này
bao gồm 20 nước thành viên ban đầu đã đóng góp phần quan trọng nhất trong
việc cung cấp ODA song phương và đa phương. Trong khuôn khổ hợp tác
phát triển, các nước OECD đã lập ra các ủy ban chuyên môn, trong đó có ủy
ban Hỗ trợ Hợp tác Phát triển (Development Assistance Committee-DAC),
mình.
Bảng 1 : Điều kiện cho vay của một số nhà tài trợ lớn
Đối tác
Lãi suất
(%)
Thời hạn
(năm)
Ân hạn
(năm)
Hà Nội vay lại
(%)
Nhật Bản (OECF)
0,75
40
10
0,75-1
WB
0,75
30-40
5-10
6,5
ADB
1
15-20
5-7
6,5
Pháp (ADF)
1-2
15-20
4-6
phí vay từ 0-5% giá trị khoản vay.
- Ngân hàng thế giới (WB): Ngân hàng thế giới gồm 5 tổ chức chính:
+ Ngân hàng tái thiết phát triển (International Bank for Reconstruction
and Development-IBRD). Lãi suất các khoản vay IBRD được điều chỉnh 6
tháng một lần, thời hạn trả nợ 15-20 năm, trong đó thời gian ân hạn là 5 năm.
+ Hiệp hội phát triển quốc tế (International Development Association-
IDA). Vay IDA không có lãi suất chỉ có phí dịch vụ 0,75%/năm, thời hạn vay
40 năm trong đó có thời gian ân hạn 10 năm.
+ Công ty tài chính quốc tế (International Finance Corporation-IFC).
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
10
Vay IFC lãi suất vay tính theo lãi suất trên thị trường vốn quốc tế. Thời gian
vay từ 3-15 năm, thời gian ân hạn 5-8 năm.
+ Cơ quan bảo lãnh đầu tư đa phương (Multilateral Investment
Guarantee Agency-MIGA).
- Ngân hàng phát triển Châu á (Asia Development Bank-ADB) gồm
55 nước thành viên.
+ Vay từ nguồn vốn phát triển Châu á (ADF): Nguồn này dành cho
các nước có thu nhập dưới 851USD/người/năm, không lãi suất, thời gian hoàn
trả 40 năm, thời gian ân hạn 10 năm, phí phục vụ 1%/năm.
+ Vay vốn thường xuyên (OCR) dành cho các nước có thu nhập trên
851USD/người/năm, thời hạn vay 15-20 năm, thời gian ân hạn khoảng 7 năm,
lãi suất 5-7%/năm.
+ Vay vốn hỗ trợ kỹ thuật (IASF) thường là viện trợ không hoàn lại
dưới hình thức hỗ trợ kỹ thuật.
+ Vay vốn Nhật Bản (JSF).
- Tổ chức dầu mỏ OPEC gồm 13 nước thành viên, nguồn vốn của tổ
chức này nhỏ, cung cấp các khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản viện
trợ ưu đãi cho các nước kém phát triển.
trường ra nước ngoài để thúc đẩy sản xuất trong nước. Các nước Châu á, đặc
biệt là khu vực Đông Nam á đã thực sự hấp dẫn Nhật Bản về thị trường tiêu
thụ hàng hoá sản phẩm và thị trường đầu tư. Khu vực này có vị trí địa lý
thuận lợi, nguồn lao động dồi dào và rẻ mạt, tài nguyên thiên nhiên phong
phú, không quá xa Nhật Bản, về văn hoá có nhiều nét tương đồng. Thông qua
bồi thường chiến tranh, Nhật Bản đã bình thường hoá quan hệ ngoại giao với
các nước Đông Nam á. Thời kỳ này, viện trợ của Nhật Bản chủ yếu là hàng
hóa, đây là cách tốt nhất để giới thiệu hàng hoá, dịch vụ của Nhật ra nước
ngoài. Từng bước Nhật Bản đã biến Đông Nam á thành thị trường tiêu thụ sản
phẩm hết sức an toàn cho mình. Đồng thời thông qua ODA và các điều kiện
ràng buộc, các công ty của Nhật có được những hợp đồng béo bở, có được
những cơ hội đầu tư ưu đãi. Trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm
1997, Nhật Bản đã có một quyết định quan trọng trong việc trợ giúp các nước
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
12
Đông Nam á, là nơi chiếm tỷ lệ tương đối về mậu dịch và đầu tư của Nhật.
Nhật Bản đã nhận gánh vác một phần cuộc khủng hoảng kinh tế Châu á bằng
kế hoạch trợ giúp do Bộ trưởng tài chính Nhật Kiichi Miyazawa đề xuất vào
tháng 10 năm 1998. Theo đó, Nhật Bản sẽ dành 15 tỷ USD tiền mặt cho các
nhu cầu vốn ngắn hạn, chủ yếu là lãi suất thấp và tính bằng đồng Yên và dành
15 tỷ USD cho mậu dịch và đầu tư có nhân nhượng trong vòng 3 năm. Tính
đến đầu năm 1999, những nước được Nhật công bố dành cho sự trợ giúp này
gồm có: Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Philipin và Hàn Quốc. Các khoản
viện trợ nói trên được thực hiện vì lợi ích của hai bên, cứu nền kinh tế khu
vực để làm sống lại nền kinh tế Nhật Bản. Các khoản vay này được tính bằng
đồng Yên và gắn với các dự án do Công ty Nhật tham gia.
Như vậy viện trợ của các nước phát triển không chỉ đơn thuần là sự trợ
giúp hữu nghị, mà còn là một công cụ lợi hại để kiếm lời cả về kinh tế và tài
chính cho nước tài trợ. Những nước cấp viện trợ gò ép các nước nhận phải
+ Cung cấp nước và vệ sinh: 6,6%
+ Vận tải, thông tin, năng lượng: 24,5%
+ Nông nghiệp: 9,5%
+ Giảm nợ: 5,7%
+ Cứu trợ khẩn cấp: 5,1%
+ Hỗ trợ chương trình: 4,7%
+ Còn lại là các lĩnh vực khác
1.2.4 Những ưu đãi của ODA
So với hình thức vay vốn và tài trợ khác, ODA mang nhiều tính ưu đãi
hơn. Các khoản vốn ODA thường có thời gian vay (thời gian hoàn trả) dài,
thường từ 20-30 năm trở lên, có thời gian ân hạn dài (thời gian chỉ phải trả lãi
vay chưa phải trả nợ gốc). Thông thường ODA có một phần viện trợ không
hoàn lại (tức là cho không), đây chính là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho
vay thương mại. Yếu tố cho vay được xác định dựa vào thời gian cho vay,
thời gian ân hạn và so sánh giữa mức lãi suất viện trợ và mức lãi suất tín dụng
thương mại trong tập quán quốc tế. Đối với ODA ưu đãi yếu tố không hoàn
lại ít nhất đạt 25% giá trị khoản vay. Nguồn vốn vay của các tổ chức WB,
ADB chỉ có phí phục vụ, thời hạn cho vay dài bao gồm cả thòi kỳ ân hạn, cụ
thể:
Vay IDA không lãi suất, phí phục vụ 0,75%/năm, thời hạn vay 40 năm
bao gồm cả thời kỳ ân hạn 10 năm; Vay ADF không lãi suất, phí phục vụ 1%
thời hạn vay 40 năm bao gồm cả thời kỳ ân hạn 10 năm; Vay của các chính
phủ tuỳ thuộc vào loại đồng tiền cho vay khác nhau thì có mức lãi suất khác
nhau, thời gian vay từ 20-30 năm trong đó thời kỳ ân hạn 5-10 năm.
Tính ưu đãi của ODA còn được thể hiện ở chỗ nó chỉ dành riêng cho
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
14
các quốc gia đang và chậm phát triển và vì mục tiêu phát triển. Thông thường
mỗi nước cung cấp ODA đều có những chính sách riêng tập trung vào những
đơn vị cung cấp, giá cả ), và dự tính các nguồn lao động sử dụng (lao động
địa phương, chuyên gia trong nước, chuyên gia quốc tế ). Trong giai đoạn
thực hiện dự án phải đảm bảo triển khai đúng tiến độ, rút ngắn thời gian thi
công, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, lao động, vật tư. Bên cạnh đó, phải xem
xét khía cạnh hậu dự án: lao động hậu dự án, vật tư, thiết bị hậu dự án Một
số dự án lớn (thuộc lĩnh vực giao thông, cấp, thoát nước ) thu hút hàng ngàn
lao động và vô số máy móc, thiết bị. Sau khi các dự án này hoàn thành cần có
kế hoạch giải quyết việc làm cho số lao động dôi dư và huy động máy móc,
thiết bị sử dụng cho các công trình, dự án khác.
- Thời gian thực hiện các dự án kết cấu hạ tầng kỹ thuật thường kéo
dài.Vì vậy, khâu chuẩn bị dự án phải tốt mới đảm bảo triển khai dự án được
thuận lợi. Phải lập kế hoạch đầu tư theo thời gian và đảm bảo hoàn thành dự
án ở từng khâu, hạng mục đúng tiến độ. Quá trình đầu tư kéo dài, do đó phải
phân kỳ đầu tư chia thành nhiều giai đoạn, hạng mục. Công trình, hạng mục
nào hoàn thành sẽ đưa ngay vào sử dụng phát huy hiệu quả, tạo tiền đề cho
công trình, hạng mục tiếp theo triển khai thực hiện.
- Các dự án kết cấu hạ tầng kỹ thuật chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố
bất định: lạm phát, trượt giá, biến động về tỷ giá Cần phân tích độ nhạy cảm
của dự án, lựa chọn phương án có tính khả thi cao, hiệu quả ngay cả khi xảy
ra biến động. Đồng thời, dự tính trước các biến động (về quy mô, mức độ )
để có kế hoạch đối phó, giải quyết kịp thời.
- Tính chất kỹ thuật của các dự án thường rất phức tạp. Ngay từ khi
lập dự án, phân tích kỹ thuật cần được nghiên cứu với sự trợ giúp, từ vấn của
các chuyên gia kỹ thuật chuyên sâu (trong nước và quốc tế) về từng khía cạnh
của dự án. Quyết định đúng đắn trong phân tích kỹ thuật sẽ loại bỏ các dự án
không khả thi, giảm chi phí, tổn thất, giảm ô nhiễm và kéo dài tuổi thọ công
trình.
- Các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật thường có tuổi thọ kéo dài
5-
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
17
P
AS
Y
AD
1
AD
2 Tăng đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật kéo theo tăng nhu cầu lao
động, vật tư làm tăng cầu đầu tư (D1) dẫn đến làm dịch chuyển đường tổng
cầu từ AD
1
-AD
2
, sản lượng tăng từ Y
1
-Y
2
, mục tiêu tăng trưởng kinh tế đạt
được.
Mặt khác, khi thành quả của công cuộc đầu tư phát huy tác dụng, các
xoá đói giảm nghèo, chương trình nước sạch nông thôn ) thúc đẩy phát triển
kinh tế vùng.
Góp phần duy trì sự phát triển bền vững
Phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển trong đó những quyền lợi
cơ bản của con người được bảo đảm. Sự phát triển phải thoả mãn những yếu
tố sau: Sự xoá bỏ nghèo đói và bóc lột, sự giữ gìn và tăng cường các nguồn
tài nguyên, sự tăng trưởng cả về kinh tế lẫn văn hoá xã hội và sự thống nhất
giữa môi trường sinh thái và kinh tế trong hoạch định chính sách. Đầu tư cho
kết cấu hạ tầng tạo ra sự tăng trưởng bền vững được thể hiện dưới các góc độ
sau:
- Điều tiết tốc độ tăng trưởng giữa các vùng, giảm sự mất cân đối.
- Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập.
- Tạo động lực cho các ngành khác phát triển.
- Xoá đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân.
- Giảm ô nhiễm môi trường , giảm tình trạng quá tải cho hệ thống cơ
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
19
sở hạ tầng hiện có ở các vùng, miền tập trung đông dân cư, những khu đô thị
lớn, nâng cấp và tạo mới những cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại, thúc đẩy quá
trình đô thị hoá.
1.4 Bài học sử dụng ODA trong phát triển hạ tầng kỹ
thuật của các nước
1.4.1 Bài học thành công
Các nước như Bostwana, Chi lê, Hàn Quốc, Malaysia, Srilanka đã sử
dụng có hiệu quả nguồn vốn vay và tài trợ nước ngoài, tạo thế và lực, đẩy
nhanh quá trình phát triển kinh tế. Sự thành công trên bắt nguồn từ những
nguyên nhân sau:
- Có chiến lược, chính sách thu hút vốn ODA rõ ràng. Có sự tổ chức,
điều phối nhịp nhàng giữa các cơ quan thực hiện, đẩy nhanh tốc độ giải ngân
tục các nước cấp đưa ra để lựa chọn ra nguồn tài trợ tối ưu, mà chỉ quan tâm
đến thu hút tối đa nguồn vốn này, do đó nhiều khoản ODA không phát huy
được hiệu quả bởi các chi phí phát sinh (Phải mua hàng của nước cấp, các dự
án phải giao cho công ty của nước cấp thực hiện ).
- Do cơ cấu tổ chức quản lý vốn ODA yếu kém: Chính phủ Tazania
chưa bao giờ hình thành một chiến lược rõ ràng để huy động và quản lý
nguồn vốn nước ngoài. Các chiến lược phát triển của Tazania đều tối đa hoá
nguồn ODA nhưng hoàn toàn không có tiêu chí để sử dụng có hiệu quả nguồn
vốn này.
- Còn sự thất bại trong các dự án cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Ghana là
thiếu sự điều phối giữa các cơ quan thực hiện. Bên cạnh đó, sự điều phối của
nhà tài trợ là quan trọng để hỗ trợ cho công tác điều phối của chính phủ, nhằm
sử dụng các nguồn nội lực một cách có hiệu quả.
- Sự thiếu năng lực trong quá trình sử dụng vốn ODA: Các chương
trình, dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật không phát huy được hiệu
quả do thiếu các nguồn lực về tổ chức và nguồn lực trong nước, cụ thể là
chính phủ không thành công trong việc cung cấp vốn đối ứng và nhân sự. Sự
thiếu chuyên môn thẩm định dự án ODA tại các đơn vị thực hiện là một trong
những nguyên nhân dẫn đến sự chậm trễ trong vấn đề giải ngân vốn.
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
21
- Sự thất bại của các nước SSA (South of Shahara Africa) là do quá phụ
thuộc vào nguồn vốn vay nước ngoài, không có chiến lược phát triển phù hợp
với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của đất nước và chính sách thích hợp với từng
giai đoạn, trên cơ sở phát huy nội lực và tạo vốn từ bên trong, sử dụng có hiệu
quả nguồn vốn ODA tài trợ.
vốn đầu tư cho các công trình hạ tầng lớn, năm 2000 đạt 403 triệu USD,
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
23
chiếm 31% tổng nguồn vốn ODA. Lĩnh vực phát triển con người, phát triển
nông thôn cũng được sự quan tâm chú ý của các nhà tài trợ quốc tế, đứng ở vị
trí thứ 2, 3 lần lượt với mức vốn ODA là 207 triệu USD và 185 triệu USD.
Nhìn chung, vốn ODA phân bổ theo ngành là phù hợp với những dự kiến lớn
của chính phủ đề ra trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm (2001-
2010), cũng như chiến lược cho các ngành trong những thập kỷ tới.
Bảng 2: Vốn ODA giải ngân phân bổ theo ngành trong năm 2000 ở
Việt Nam
Ngành
Vốn ODA
(trUSD)
Tỷ lệ
(%)
1. Cơ sở hạ tầng
- Năng lượng
- Giao thông vận tải
- Nước sạch và vệ sinh môi trường
- Phát triển đô thị
741
401
244
70
19
56
31
19
6. Cứu trợ khẩn cấp
24
2
7. Hỗ trợ giải ngân nhanh (SAC/PRGF)
14
1
Tổng
1.325
100
Nguồn: Báo cáo điều tra ODA của UNDP
2.1.2 ODA phân bổ theo loại hình
- Hỗ trợ dự án đầu tư: 71%
- Hỗ trợ kỹ thuật độc lập: 21%
- Hỗ trợ cán cân thanh toán: 6%
- Hỗ trợ kỹ thuật gắn với đầu tư:1%
- Viện trợ lương thực và cứu trợ khẩn cấp: 1%
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
24
(Nguồn: Báo cáo điều tra ODA của UNDP)
2.1.3 ODA phân bổ theo đối tác tài trợ
Mười nhà tài trợ lớn nhất trong năm 2000 chiếm hơn 90% ODA giải
ngân được thể hiện trong Bảng 3.
Bảng 3: Mười nhà tài trợ ODA lớn nhất trong năm 2000
Nhà tài trợ
Vốn ODA (trUSD)
Tỷ lệ (%)
Nhật Bản
531
100
Nguồn: Báo cáo điều tra ODA của UNDP
Nhật Bản đã củng cố vị trí là nhà tài trợ lớn nhất, với mức giải ngân
trong năm 2002 đạt 531 triệu USD. Đầu tư của Nhật Bản tập trung vào một số
ngành như: năng lượng, giao thông vận tải (xây dựng đường quốc lộ, khôi
phục cầu), xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn và y tế.
ADB có mức giải ngân lớn thứ hai (gần 200 triệu USD), chủ yếu thuộc
các lĩnh vực giao thông vận tải, năng lượng, hỗ trợ cho lĩnh vực thể chế, chính
sách.
Sau khi đạt đỉnh cao năm 1998 (258 triệu USD), mức giải ngân của
WB giảm dần, trong năm 2000 158 triệu USD, chiếm 13% tổng vốn ODA cả
nước. Tài trợ của WB phần lớn tập trung cho ngành năng lượng, giao thông
vận tải, các chương trình cấp nước, vệ sinh môi trường.
Giải ngân của các tổ chức Liên hợp quốc ổn định trong giai đoạn 1998-
2000 ở mức 52-53 triệu USD, thông qua thực hiện các chương trình, dự án
HTTP://SINHVIENNGANHANG.COM
25
của các tổ chức UNDP, UNICEF, WFP, WHO, UNFPA ODA của các tổ
chức thuộc Liên hợp quốc cung cấp chủ yếu dưới hình thức viện trợ không
hoàn lại, thuần tuý để thực hiện các dự án hỗ trợ kỹ thuật thuộc các lĩnh vực:
y tế, (tiêm chủng mở rộng, tăng cường sức khoẻ sinh sản và sức khoẻ bà
mẹ ), phòng chống thiên tai, xây dựng thể chế, giáo dục, phát triển nông
thôn, môi trường.
Trong năm 2000, vốn ODA của Pháp 71 triệu USD chủ yếu tài trợ cho
các lĩnh vực công nghiệp, phát triển con người, thông tin liên lạc và cơ sở hạ
tầng. Đức với 51 triệu USD chủ yếu tập trung vào công nghiệp, y tế, nông
nghiệp. Tài trợ của ôtrâylia 48 triệu, dưới hình thức viện trợ không hoàn lại,
thuần tuý tập trung cho phát triển nguồn nhân lực, giao thông vận tải và y tế.
Năm 2000, vốn ODA của Thụy Điển tăng 25% so với năm trước lên tới 47