NGHIÊN CỨU NGUYÊN NHÂN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP XỬ LÝ XÓI LỞ NỀN CỐNG VÀ VAI CỐNG-SAU SỰ CỐ CỐNG TẮC GIANG - Pdf 27

1
MỞ DẦU
I. Tính cấp thiết của Đề tài
Cống qua đê là một hạng mục qua trọng trên hệ thống đê, hiện nay có 1102 cống
lớn nhỏ nằm trên các tuyến đê [3]. Lịch sử xây dựng cống qua đê gắn liền với quá
trình nâng cấp đê phục vụ phát triển và bảo vệ sản xuất, tính mạng tài sản của nhà
nước và nhân dân. Các cống được xây dựng ở nhiều thời kỳ khác nhau nên kết cấu
khác nhau, khẩu độ khác nhau. Đặc điểm làm việc của cống qua đê là: Cột nước
công tác thấp, chế độ tiêu năng sau cống thường phức tạp đặc biệt là cống vùng
triều, nền và vai cống thường là loại đất yếu, thấm nước; hạ lưu cống dễ bị xói lở;
những ẩn khuyết tại nền cống và hai bên vai cống thường khó phát hiện; khi thi
công cống phải đào hố móng làm mái nghiêng sau đó đắp đất bù hai bên vai cống
nên chỉ tiêu cơ lý của các lớp đất thường không đồng đều; công tác quan trắc, kiểm
tra đánh giá trong quá trình vận hành cống chưa được quan tâm thường xuyên. Do
đó khi cống làm việc nhất là trong mùa lũ cột nước công tác biến động nhiều, dòng
thấm từ thượng lưu về hạ lưu có thể gây ra các sự cố ở cống như: Giảm lưu lượng
nước qua cống; gây áp lực thấm làm mất ổn định cống; gây xói ngầm, trôi đất nền
và vai cống; gây ngập úng ở hạ lưu cống. Từ thực tế của sự cố cụm công trình đầu
mối cống Tắc Giang Hà Nam ngày 01/08/2012 xảy ra hiện tượng nước thấm qua
thân đê, nền cống và hai bên vai cống, gây sụt lún nhiều vùng phía chân đê, hạ lưu
cống đã có nhiều vị trí có cát đùn sủi với khối lượng khá lớn, nhà lắp đặt tủ điện vận
hành cống bị sụt hoàn toàn xuống hố xói. Như vậy việc đảm bảo cống làm việc bình
thường nhất là cống qua đê trong mùa lũ là hết sức cần thiết. Vì vậy đề tài “
NGHIÊN CỨU NGUYÊN NHÂN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP XỬ LÝ XÓI LỞ
NỀN CỐNG VÀ VAI CỐNG-SAU SỰ CỐ CỐNG TẮC GIANG’’ với mục tiêu
phân tích xác định nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp khắc xử lý sự cố của
cống qua đê nói chung, nhằm giảm tối đa thiệt hại do sự cố xói lở nền và vai cống là
hết sức quan trọng, có ý nghĩa kinh tế, khoa học và thực tiễn trong quản lý, vận
hành công trình thủy lợi thường gặp.

2

3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ CỐNG QUA ĐÊ
1.1. Nhiệm vụ, phân loại, cấu tạo và đặc điểm làm việc của cống
1.1.1. Nhiệm vụ và phân loại cống
1.1.1.1. Nhiệm vụ của cống
Cống là công trình thủy lợi được xây dựng dưới đập, đê, trên các hệ thống tưới,
tiêu, phân lũ, ngăn triều, để khống chế mực nước và điều tiết lưu lượng với nhiệm
vụ như: Lấy nước, tiêu nước, phân lũ, giao thông, điều tiết, tháo cát.
1.1.1.2. Phân loại cống
1. Theo vị trí và mục đích sử dụng
- Cống lấy nước: Lấy nước từ sông, kênh hoặc từ hồ chứa phục vụ các yêu cầu lấy
nước;
- Cống điều tiết: Xây dựng trên sông, kênh để dâng cao mực nước, đảm bảo yêu cầu
lấy nước và giao thông thủy ở thượng lưu; chống úng cho hạ lưu bằng cách đóng
một phần hoặc hoàn toàn cửa van;
- Cống tiêu: Tháo nước, chống úng cho một vùng nhất định trên một hệ thống;
- Cống phân lũ: Tháo một phần lưu lượng về mùa lũ của một con sông sang hướng
khác, hoặc vào một vùng nhất định để hạ thấp đỉnh lũ ở sông chính;
- Cống ngăn triều: Xây dựng ở vùng ven biển, chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy
triều. Ở một thời kỳ nhất định, khi thủy triều dâng cống mở để lấy nước ngọt vào
đồng; khi triều rút vào mùa lũ, lợi dụng chân triều thấp cống mở tháo nước từ đồng
ra, thay đổi nước trong đồng để thau chua rửa mặn; vào mùa khô cống đóng để ngăn
triều giữ ngọt;
- Cống tháo cát: Để xói rửa bùn cát lắng đọng phía trước các công trình dâng và
điều tiết nước;
- Cống đa chức năng: Cống kết hợp nhiều mục đích sử dụng khác nhau như: Tưới,
tiêu, ngăn mặn, giao thông thủy….

m=1.5
+5.4
(MNTLmax)
+4.20
m=1.5
m=3
m=2
BTCT M200 dy 60 cm
BT lót M150 dy 10 cm
+6.50
+7.75
+5.50
+10.0
275
200
450
95
80
đất đắp đầm nện chặt
+5.00
(+4.50)
60
+4.08
+4.02 (MNKC)
m=1.5
m=1.5
+5.00
PHA kênh tới trạm bơm hữu bị
i=10%
BT lút M100 dy 10cm

50
50
40
40
50
6050
20
20
70
Cọc tre L=3m
25 cọc /m2
820
1400
1500
500
Cừ BTCT dài 5m
55
30
20
60
75
75
50
25
25
30
+1.50
50
10010
Khớp nối ngang

25 cọc /m2
BTCT M200 đổ tại chỗ dày 10cm
BT lót M100 dày 5cm
BTCT M200 đổ tại chỗ dày 10cm
BT lót M100 dày 5cm
5
- Các bộ phận chính: Tường cánh thượng lưu (5): Có hình thức kết cấu như: Tường
sườn, tường trọng lực, tường hộp, tường neo…; vật liệu bằng gạch xây, đá xây, bê
tông, bê tông cốt thép. Sân trước (3, 4): Làm bằng vật liệu ít thấm như: Đất thịt, đất
sét, tấm bê tông cốt thép…, kết cấu liền khối hoặc tách rời bản đáy cống. Có thể có
kênh dẫn thượng lưu: Đáy kênh (1), mái kênh (2).
1.1.2.2. Bộ phận thân cống
- Tác dụng: Điều tiết, khống chế lưu lượng và mực nước, liên kết thân cống với bờ
hoặc các công trình khác bên cạnh, giữ ổn định cống, chống thấm, chống xói cho
nền;
- Các bộ phận chính:
+ Bản đáy (6): Tác dụng truyền và phân bố lực các bộ phận thân cống lên nền đồng
thời tạo lực ma sát với nền; giữ ổn định thân cống; chống thấm và chống xói cho
nền;
+ Trụ pin( mố giữa) (7), trụ bên ( tường bên, mố bên), trần cống (8)(cống ngầm);
khe van (9), cửa van, khe phai (10), cầu công tác (11), cầu thả phai. Cầu giao thông
(cống lộ thiên); tường ngực để giảm chiều cao cửa van, tăng ổn định ngang cho các
mố;
+ Khi cống có nhiều đoạn hoặc bản đáy cống với sân trước, sân sau tách rời, cần
phải bố trí khớp nối ngang ( 13) để liên kết các đoạn thân cống với nhau hoặc liên
kết bản đáy với sân trước, sân sau đồng thời làm nhiệm vụ chống thấm và tránh hiện
tượng nứt khi nền cống lún không đều. Khi thân cống với tường cánh thượng lưu
hoặc tường cánh hạ lưu tách rời, cần bố trí khớp nối đứng (14) để liên kết thân cống
với tường cánh thượng lưu hoặc tường cánh đồng thời làm nhiệm vụ chống thấm và
tránh hiện tượng nứt khi nền cống lún không đều;

+ Cấp của cống thường theo cấp của đê: Cấp của cống được xác định theo cấp công
trình tưới, tiêu và cấp của đê theo tiêu chuẩn phân cấp đê hiện hành. Nên chọn cấp
PhÝa ®ª
Lßng cèng
Têng thîng lu
Têng h¹ lu
Têng gi÷a th©n cèng
7
công trình công trình bằng hoặc cao hơn một cấp để đảm bảo an toàn công trình.
Đối với các tuyến đê đã phân cấp, cấp của cống là cấp đê;
+ Việc khảo sát, thi công phải đảm bảo an toàn đê nhất là trong mùa lũ. Thi công
cống cần tuân thủ đầy đủ các kỹ thuật của thiết kế đề ra và chấp hành nghiêm chỉnh
pháp lệnh về đê điều do Nhà nước ban hành. Cần tổ chức thi công cống trong mùa
khô, nếu không xong trong một mùa cần có giải pháp đảm bảo an toàn trong mùa lũ.
Thi công phần đất tận dụng tối đa thi công bằng cơ giới. Căn cứ vào tài liệu địa
chất, thủy văn công trình để tính toán để tính toán và bố trí hệ thống tiêu nước hố
móng, cần chú ý thiết kế biện pháp tiêu nước hố móng hợp lý khi xây dựng ở vùng
cát chảy;
+ Do thân cống đặt sâu dưới thân đê nên vấn đề ổn định trượt của cống thường đảm
bảo nhưng nếu cống hư hỏng việc sữa chữa khó khăn hơn cống hở. Hệ số ổn định
cho phép của cống lấy bằng hệ số ổn định cho phép của đê có cấp tương đương (
nếu cấp của đê cao hơn cấp công trình tưới tiêu). Trị số ổn định tính toán không
được vượt quá hệ số ổn định cho phép 20%;
+ Việc quản lý vận hành cống qua đê phải tuân thủ chặt chẽ các quy định về phòng
chống bão lụt và phải kịp thời xử lý khi có sự cố khẩn cấp;
+ Đối với cống qua đê cho khu vực Bắc bộ thời đoạn thi công cống từ 15 tháng 10
năm trước đến 30 tháng 4 năm sau năm sau, nếu quá thời hạn trên phải được Bộ
nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho phép.
1.2. Các sự cố thường gặp và nguyên nhân chủ yếu của từng sự cố ở cống qua
đê

Lún, nứt, chuyển vị tường cánh thượng,
hạ lưu
40/132 (30,3)
40/240 (16,66)
3
Xói, bồi bể sau tiêu năng
41/132 (31,06)
41/240 (17,08)
4
Thấm qua nền, vai cống
30/132 (22,73)
30/240 (12,5)
5
Hỏng cửa van
24/132 (18,18)
24/240 (12,66)
6
Sạt mái bảo vệ thượng, hạ lưu
23/132 (17,42)
23/240 (9,58)
7
Cống ngắn cần nối dài
14/132 (10,6)
14/240 (5,83)
8
Hỏng khớp nối
11/132 (8,33)
11/240 (4,56)
1.2.1. Lún, nứt, chuyển vị tường, thân trần cống
- Hiện tượng: Xuất hiện các vết nứt trên thân cống, cao trình đỉnh cống không đảm

nhiên với các cống xây dựng qua đê vùng đồng bằng sông Hồng, có thể đưa ra một
số nhận định như sau:
- Các cống qua đê đều xây dựng trên nền cát chảy, đặc trưng địa chất nền nhạy cảm
về thấm chạy dọc từ Hà Nội xuống Hà Nam và Nam Định [4];
- Các cống đều xử lý đóng cọc bê tông cốt thép, một số cống có đóng cừ chống
thấm [4];
- Quan sát các hiện trạng các cống bị sự cố cho thấy dòng thấm mang theo một
lượng cát nền trôi xuống hạ lưu. Ví dụ như: Cống Đập Phúc đã phải bơm 360m
3

vữa ( cát + xi măng), Vĩnh Mộ ( 150m
3
), Tắc Giang ( 600m
3
)…có những cống nền
rỗng trên 3m, cống hầu như đứng trên đầu cọc [4];
Thấm qua nền cống: Hiện tượng trong mùa lũ cửa cống đóng nhưng ở sân tiêu
năng hay ở đoạn kênh nối tiếp sau sân tiêu năng phát sinh hiện tượng mạnh sủi, lỗ
phụt;

Hình 1.7. Thấm qua nền cống
Thấm qua vai cống: Hiện tượng khi mực nước sông dâng cao, quan sát ở vai cống
phía đồng thấy nước rịn ra mái đê chỗ tiếp giáp giữa đê và cống, có khi nước chảy
ra thành vòi;

Hình 1.8. Thấm qua vai cống
Nguyên nhân:
- Do khảo sát: Tài liệu khảo sát không đầy đủ; khi khảo sát địa chất không tuân thủ
chặt chẽ các quy định Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8477:2010 “Công trình thủy lợi
- yêu cầu về thành phần khối lượng khảo sát địa chất trong giai đoạn lập dự án thiết

12
+ Hiện nay công tác quản lý vận hành mới chú trọng hiệu ích của cống, còn xem
nhẹ việc quan trắc ( thấm, mực nước, lún, chuyển vị) và kiểm tra thường xuyên đặc
biệt là với các cống nhỏ;
- Do những nguyên nhân khác:
+ Các thiết bị chống thấm: Cừ, khớp nối lâu ngày bị hỏng làm giảm đường viền
thấm gây mất ổn định thấm;
+ Nước lũ, bão, động đất… vượt tần suất thiết kế; sinh vật chuột, mối…làm tổ hai
bên vai cống;
+ Mực nước ngầm thay đổi: Khi mực nước ngầm dâng lên làm ướt và mềm hóa đất
đá, làm giảm cường độ nền, tăng tính nén lún. Khi mực nước ngầm hạ xuống dẫn
đến ứng suất hiệu quả trong đất nền tăng lên, móng sinh ra lún bổ sung. Nếu mực
nước ngầm hạ xuống không đều đặn hoặc đột ngột sẽ làm cho công trình nghiêng
nứt, thậm chí hư hỏng.
1.2.5. Cánh cửa van bị kênh; nước rò rỉ qua cửa van, khe van
- Hiện tượng: Cống đã đóng nhưng nước vẫn chảy nhiều qua hèm, đỉnh và ngưỡng
cống; nước rò rỉ qua cửa van, khe van;
- Nguyên nhân:
+ Cánh cửa cống bị kênh: Do hèm cửa hoặc sân trước cống bị chèn, cản vướng bởi
các vật cứng như gạch, đá, sắt vụn, cành cây,…; bản lề, cửa cống bị mòn, bị hỏng;
kỹ thuật gia công cánh cửa cống không đảm bảo thiết kế, không đủ độ cứng nên bị
cong vênh, zoăng cao su bị hỏng;
+ Nước rò rỉ qua cửa van, khe van: Do cánh cửa không khít với hèm cửa; vật chắn
nước bị hỏng; khe van bị sứt mẻ; thi công không chính xác.
1.2.6. Cánh cửa cống hay tấm phai bị gẫy
- Hiện tượng: Trong mùa lũ khi quan sát thấy nước trong cống chảy ra phía đồng
nhiều và mạnh trên mặt trước ở phía trước cống xuất hiện nước xoáy hút mạnh vào
cửa cống, thì có thể đã xảy ra sự cố gẫy trôi tấm phai hoặc thủng một bộ phận cửa
van;
13

- Làm tầng lọc ngược ở mái hạ lưu, bắc máng dẫn nước ra xa ngoài chân đê; thả bao
tải cát hoặc đá ở xuống khu vực sạt lở để giữ chân đê.
2. Dòng thấm gây mạch sủi, lỗ phụt ở trong lòng cống hoặc ở hạ lưu cống
- Nếu nước trong cống và trên kênh không sâu thì làm tầng lọc ngược trực tiếp tại
mạch sủi, lỗ phụt để dẫn nước ra ngoài;
- Nếu nước trong cống và trên kênh sâu không thể làm tầng lọc ngược trực tiếp nơi
mạch sủi, lỗ phụt thì nâng cao mực nước hạ lưu để giảm áp lực thấm bằng cách:
+ Nếu trên kênh phía đồng có công trình điều tiết ở gần cống thì cho đóng ngay cửa
cống điều tiết để nâng cao mực nước;
+ Nếu không có công trình điều tiết thì đắp một đập dâng nước ngang kênh phía
đồng. Vị trí đập dâng cách xa sân sau và xa nơi có mạch sủi, lỗ phụt khoảng 50m ở
trên kênh, để đề phòng phát sinh mạch sủi mới ngay ở hạ lưu đập dâng. Nếu bờ
kênh từ cống đến đập dâng còn thấp thì phải tôn cao bằng đỉnh đập. Cao trình đỉnh
đập dâng phải cao hơn mực nước cần dâng từ 0,5-0,8m;
- Khi mạch sủi chỉ ở trong lòng cống thì chỉ cần đóng bớt số tấm phai phía đồng.
Nếu thấy mạch sủi còn mạnh thì cho đóng cửa đập điều tiết hay làm đập dâng trên
kênh phía đồng như trường hợp trên.

Hình 1.10. Xử lý mạch sủi ở hạ lưu cống
- Nếu dòng thấm mạnh có thể gây sập cống phải cấp tốc hoành triệt cống ngay bằng
bao tải đất, đất, rọ đá…hoặc đắp đê quai phía thượng lưu để chặn dòng thấm, đồng
thời cho đóng cửa điều tiết hoặc làm đập dâng phía hạ lưu để hỗ trợ cho công tác
hoành triệt cống.
15
1.3.1.3. Cánh cửa van bị kênh; nước rò rỉ qua cửa van, khe van
1. Cánh cửa van bị kênh đóng không kín van
- Nếu là loại cửa van phẳng thì quay ty van hoặc tìm cách kích, nâng cửa lên
khoảng 10-20cm để nước chảy trôi vật cứng sau đó hạ cửa đóng kín lại. Nếu loại
cửa van tự động, thì dùng tời hỗ trợ, sào tre để bẩy cửa ra phía ngoài để nước chảy
làm trôi vật cứng, nếu thấy không nguy hiểm có thể dùng thợ lặn xuống nhặt đi vật

đồng, đồng thời dùng các cây gỗ dựa vào đỉnh cống hoặc dùng thép tròn hàn thành
khung lao xuống trước cửa cống, thả các bó rơm đường kính 0,4-0,6 m xuống, tiếp
theo là thả các bao tải đất lấp bịt dần dòng chảy. Sau đó đắp đất hoành triệt cửa
cống, đất đắp cao hơn tường đầu ít nhất 2 m, mái m = 2, rộng 3-5 m, đắp ra xa phía
tường cánh gà mỗi bên 4-5m.

Hình 1.12. Xử lý tấm phai bị gẫy

Hình 1.13. Hoành triệt cống khi cánh cửa
cống bị gẫy
1.3.1.5. Cống bị hỏng khớp nối
- Khớp nối bị hỏng trong mùa lũ đều không sữa chữa được mà chỉ xử lý tạm thời
đảm bảo an toàn cho cống, sau mùa lũ làm lại khớp nối;
- Cách xử lý: Thả phai sữa chữa phía đồng hoặc đóng cửa đập điều tiết ( nếu có) hay
đắp đập dâng trên kênh phía đồng để nâng cao mực nước trong cống hạn chế tốc độ
dòng chảy qua khớp nối không cho kéo theo đất, cát làm hư hỏng nền cống tránh
17
nguy cơ bị sập. Phai phía đồng chỉ thả đến độ cao nhất định sao cho nước chảy ở
khớp nối ra trong lòng cống không mang theo bùn cát.
1.3.2. Giải pháp xử lý lâu dài sự cố thấm ở cống qua đê
1.3.2.1. Các giải pháp xử lý chống thấm truyền thống
1. Làm sân trước chống thấm
- Bố trí phía thượng lưu tiếp giáp với bản đáy, để giảm lưu lượng thấm, giảm áp lực
thấm lên bản đáy công trình; chỗ tiếp giáp giữa sân trước và bản đáy cần đảm bảo
chống thấm tốt; trên mặt sân trước làm bằng vật liệu dẻo cần rải một lớp cát sỏi dày
(10-15) cm để bảo vệ chống nứt nẻ sân và chống xói;
- Vật liệu: đất sét, đất pha sét, vải chống thấm, bê tông át phan, bê tông thường, bê
tông cốt thép, bi tum….Kích thước của sân trước được chọn theo yêu cầu chống
thấm, thi công, cấu tạo và kinh tế;


chữa.

Hình 1.15. Bố trí cừ chống thấm dưới bản đáy cống
3. Làm tường chống thấm vòng quanh bờ
Tường thượng lưu cắm vào bờ có tác dụng tiêu hao cột nước thấm để chống thấm
vòng quanh bờ; tường hạ lưu cắm sâu vào bờ có tác dụng giảm gradien thấm tại cửa
ra nhưng cần chú ý vì khi đó cột nước thấm sau lưng tường sẽ tăng lên. Tùy theo
nhiệm vụ của cống có thể bố trí tường chống phía thượng lưu, hạ lưu, hay thân
cống. Với cống làm việc hai chiều do đó để đảm bảo an toàn ta bố trí tường cả
thượng và hạ lưu để đề phòng cống mất ổn định về thấm khi làm việc theo chiều
ngược lại.
19

Hình 1.16. Làm tường chống thấm vòng quanh bờ
4. Các giải pháp chống biến hình thấm
- Làm lỗ thoát nước và tầng lọc ngược tại nơi có dòng thấm thoát ra có tác dụng
chống xói ngầm; tầng lọc ngược được tạo thành từ một số vật liệu không dính ( cát,
đá dăm, cuội sỏi), chiều dày mỗi lớp khoảng (15-30)cm; các hạt trong mỗi lớp
không được di động, các hạt đất được bảo vệ không lọt vào tầng lọc ngược, tầng lọc
ngược không bị tắc;

Hình 1.17. Làm lỗ thoát nước và tầng lọc ngược ở cửa ra
- Làm tầng gia trọng tại nơi có dòng thấm thoát ra để chống đẩy trồi đất.
5. Khoan phụt truyền thống
- Khoan phụt dung dịch sét, xi măng, theo phương áp truyền thống (còn gọi là
khoan phụt áp lực thấp ) lấp đầy những khoảng trống, khe nứt để chống thấm và
tăng độ chặt cho đất vai và nền cống;
- Phạm vi ứng dụng: Áp dụng khoan phụt nền đá nứt nẻ, quy trình thi công và kiểm
tra đã khá hoàn chỉnh. Tuy nhiên với đất cát mịn hoặc đất bùn yếu, mực nước ngầm
cao hoặc nước có áp thì không kiểm soát được dòng vữa sẽ đi theo hướng nào.

Hình 1.18. Xử lý cống Tiêu D10- Phủ Lý- Hà Nam
+ Nguyên nhân gây mạch sủi: Do lớp đất 4 là lớp cát bụi, lớp này bắt đầu từ cao
trình -4,48m. Thiết kế đã đóng cọc tre đến cao trình -4,0m, tức là gần như xuyên hết
lớp 3 có khả năng chống thấm tương đối tốt. Do chênh lệch mực nước khi lũ ngoài
sông cao, tạo ra dòng chảy ngầm trong lớp 4, lớp cát bụi này rất dễ bị xói ngầm, các
hạt nhỏ theo dòng thấm đi về hạ lưu và tạo ra mạch đùn phía đồng;
+ Phương án sữa chữa: Sử dụng công nghệ Jet-grouting tạo một tường hào chống
thấm cắt qua lớp 4 là lớp cát bụi, cắm vào lớp 5 là lớp sét nhẹ màu nâu xám. Qua
21
theo dõi đợt lũ lớn năm 2005 và các trận lũ nhỏ cho thấy không còn hiện tượng đùn
sủi như trước, việc sửa chữa đã thành công;

Hình 1.19. Tường chống thấm trên cắt dọc và chính diện thượng lưu cống Tiêu D10
+ Cống Cầu Bùng thuộc huyện Diễn Châu-tỉnh Nghệ An: Nhiệm vụ: Cấp nước,
tiêu nước phục vụ nuôi trồng thủy sản, ngăn mặn và giữ ngọt;

+ Sự cố: Cống bị thấm dưới nền, hai bên vai
cống và đoạn đê tiếp giáp với cống, ảnh hưởng
đến khả năng làm việc của cống và gây mất an
toàn cho công trình;

Hình 1.20. Hiện trạng cống Cầu Bùng trước khi sữa chữa
+ Phương án sữa chữa: Thi công tường chống thấm bằng cọc xi măng-đất theo công
nghệ Jet-grouting dưới đáy, hai bên vai cống và đoạn đê bị thấm;

+ Kết quả đạt được: Sau khi thi công xong
không còn hiện tượng thấm từ thượng lưu về
hạ lưu nữa, cống làm việc bình thường;
Hình 1.21. Cống Cầu Bùng sau khi sữa chữa


“ Nghiên cứu đặc tính biến dạng thấm của nền đê sông Hồng” [10]:
Tác giả kiến nghị sử dụng tường chống thấm bằng xi măng-đất để giảm áp lực thấm
hạ lưu. Kết quả nghiên cứu của Luận án: Gradien cho phép xói ngầm với nền cát
mịn nhạy cảm với thấm: [J]= 0,38.
1.4.1.3. Luận án Tiến sĩ của Bùi Xuân Trường năm 2009 tại trường Đại học Mỏ-Địa
chất “ Nghiên cứu biến dạng thấm nền hạ du sông Hồng địa phận tỉnh Thái Bình và
đánh giá thực nghiệm một số giải pháp xử lý” [8]:
23
- Tác giả đề xuất một số giải pháp chống thấm mới như: Giếng khoan giảm áp, làm
tường xi măng-đất, cắm cừ bản nhựa, rải màn chống thấm sân phủ thượng lưu. Tác
giả kiến nghị giải pháp cắm cừ nhựa;
- Kết quả nghiên cứu của Luận án cho giá trị giới hạn như sau:
+ Giới hạn xói ngầm:
[J] = 0,476~0,433 ( cát hạt bụi )
[J] = 0,51~0,453 ( cát hạt nhỏ )
+ Giới hạn cát chảy:
[J] = 0,735~0,742 ( cát hạt bụi )
[J] = 0,27~0,709 ( cát hạt nhỏ )
1.4.2. Kết luận
- Giải pháp công nghệ Jet-grouting có hiệu quả trong việc sữa chữa nền, chống thấm
cho cống qua đê. Tuy nhiên đây là công nghệ mới ở nước ta, các kết quả đạt được
mới chỉ là bước đầu, chưa có phòng thí nghiệm, tiêu chuẩn thiết kế và nghiệm thu
cọc xi măng-đất. Hiện nay mới chỉ có Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 9403:2012 “ gia
cố nền đất yếu-phương pháp trụ đất xi măng” do đó việc áp dụng công nghệ này
vào điều kiện thực tế cần phải được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện;
- Kết quả nghiên cứu về ổn định thấm nền đê và cống qua đê của các Tác giả cho
thấy mỗi giải pháp chống thấm đều có ưu, nhược điểm, phạm vi ứng dụng khác
nhau nên việc lựa chọn giải pháp chống thấm phù hợp với điều kiện cụ thể của từng
công trình là hết sức quan trọng.
1.5. Kết luận chương

vào sông Đáy (còn gọi sông Châu cụt);
- Sông Duy Tiên: Là sông nội đồng tách ra từ sông Nhuệ, chảy qua huyện Duy Tiên
gặp sông Châu tại Bảy Cửa;
- Sông Nhuệ: Là một phân lưu của sông Hồng, đây là con sông chính của hệ thống
thuỷ nông Sông Nhuệ nhận nước ngọt trực tiếp từ sông Hồng vào hệ thống qua
cống Liên Mạc. Sau khi qua lưu vực sông Nhuệ, sông đổ vào sông Đáy tại Phủ Lý;
- Sông Đáy: Là một phân lưu lớn củu sông Hồng, từ Đập Đáy ra cửa Đáy với chiều
dài tổng cộng hơn 200 Km. Sông chảy qua khu vực phía Tây tỉnh Hà Nam và là trục
sông cấp nước, tiêu nước quan trọng cho khu vực phía Tây tỉnh Hà Nam và một số
địa phương khác thuộc hai tỉnh Nam Định và Ninh Bình;
25
- Sông Đào Nam Định: Là con sông nối giữa sông Hồng và sông Đáy nằm ở phía
Nam tỉnh Hà Nam. Gặp sông Đáy ở Độc Bộ, sông Đào hàng năm chuyển một lượng
nước lớn từ sông Hồng sang sông Đáy nhưng chỉ có tác dụng cung cấp nước cho 2
tỉnh Nam Định và Ninh Bình ở vùng hạ du sông Đáy;
- Sông Hoàng Long là một nhập lưu của sông Đáy, nhập vào sông Đáy tại Gián
Khẩu;
- Sông Sắt: Là sông nội đồng thuộc khu vực 6 trạm bơm lớn Bắc Nam Hà, sông tách
từ sông Châu Giang, qua cống An Bài chảy qua huyện Bình Lục, gặp sông Đáy tại
Vĩnh Trị;
Các sông này đều có đê bao bọc, ngoài nhiệm vụ cấp nước tưới ruộng còn tiêu nước
và thoát nước thông qua hoạt động của hệ thống trạm bơm.

Hình 2.1. Bản đồ khu vực cống Tắc Giang
2.1.2. Vị trí và nhiệm vụ cống Tắc Giang [2]
2.1.2.1. Vị trí: Cống Tắc Giang được xây dựng tại vị trí Km129+530 trên đê Hữu
sông Hồng tại xã Chuyên Ngoại, xã Nguyên Lý giữa hai huyện Duy Tiên và huyện
Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

Trích đoạn Cỏc phương ỏn và tớnh toỏn từng phương ỏn xử lý sự cố cống Tắc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status