ĐỀ TÀI
Phân tích ưu – nhược điểm của các học thuyết quản trị học và cho biết
các Doanh nghiệp nước ta hiện nay thường áp dụng học thuyết nào?
• Sơ lược lịch sử phát triển quản trị kinh doanh.
Kinh doanh ra đời cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, lúc
đầu nó chưa phải là một ngành khoa học độc lập mà chỉ là một lĩnh vực kiến
thức mang tính ước lệ, kinh nghiệm của các nhà kinh doanh và đến cuối thế kỷ
19, đầu thế kỷ 20 mới tách thành một ngành khoa học mang tính độc lập với
nhiều bước tiến khác nhau và nhiều trường phái khác nhau.
Nhiều khái niệm và thực tiễn quản trị hiện nay bắt nguồn từ
những lý thuyết quản trị từ hàng ngàn năm trước đây. Khi quá trình
lao động và sản xuất ngày càng mang tính xã hội hóa cao, sự ra đời
của các lý thuyết quản trị ngày càng cần thiết nhằm giải quyết
những công việc quản trị do nhu cầu phát triển sản xuất đặt ra.
Hầu hết các nhà quản lý ngày nay đều nhận ra tầm quan trọng của lịch
sử và lý thuyết về công việc của họ. Lý thuyết đơn giản là một khung khái
niệm để sắp xếp các kiến thức và cung cấp kếhoạch chi tiết cho một hành
động. Mặc dù có một vài lý thuyết khá trừu tượng, nhưng nhìn chung các lý
thuyết đều đơn giản và có tính ứng dụng thực tiễn. Phần lớn các lý thuyết về
quản lý được dùng để xây dựng các tổ chức và hướng dẫn các tổ chức xây
dựng các mục tiêu của họcó cơ sở vững chắc trong thực tế. Và hầu hết các nhà
quản lý phát triển và làm tinh tế hơn các lý thuyết của họ để làm thế nào có thể
quản trị tổ chức thông qua việc sửdụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn lực
hạn chế của tổ chức, ra quyết định, phối hợp các nguồn lực và quản trị các
nhân viên của họ tốt nhất.Bên cạnh đó, hiểu biết về lịch sử của quản trị sẽ giúp các nhà quản trị
cảm nhận được giá trị tinh hoa do lịch sử quản trị để lại và từ đó giúp họ có thể
tìm ra cách thức tốt nhất để quản lý tốt một tổ chức. Do đó, việc nghiên cứu
quá trình phát triển của tư tưởng quản trị có vai trò quan trọng đối với các nhà
thời gian từ 1890 đến 1930.
Những nguyên tắc cơ bản trong học thuyết của Taylor là:
-Xây dựng các phương pháp khoa học để thực hiện công việc, nhiệm vụ của
từng công nhân
-Lựa chọn công nhân một cách khoa học và huấn luyện họ phương pháp khoa
học để thực hiện công việc
-Tổ chức giáo dục và giám sát công nhân để đảm bảo họ thực hiện theo đúng
phương pháp
-Xây dựng và củng cố quan hệ giữa người lao động và nhà lãnh đạo, quản trị
Biện pháp thực hiện: Ðể thực hiện những nguyên tắc của mình, Taylor đã tiến
hành:
-Nghiên cứu các loại thời gian làm việc của công nhân theo từng công việc.
-Phân chia công việc của từng công nhân thành những công việc bộ phận nhỏ
để cải tiến và tối ưu hóa.
-Xây dựng hệ thống khuyến khích người lao động làm việc, thực hiện trả công
theo lao động.
Những kết quả qua áp dụng lý thuyết của Taylor là năng suất lao động tăng lên
rất nhanh và khối lượng sản phẩm tăng nhiều. Tuy nhiên, lý thuyết của Taylor
nghiêng về "kỹ thuật hóa, máy móc hóa" con người, sức lao động bị khai thác
kiệt quệ làm cho công nhân đấu tranh chống lại các chính sách về lãnh đạo,
quản trị.
Herny L. Gantt: Là kỹ sư chuyên về hệ thống kiểm soát trong nhà máy. Trên
cơ sở các lý thuyết của Taylor, Gantt đã phát triển và đưa ra lý thuyết của
mình, trong đó chủ yếu tập trung vào mở rộng hệ thống khuyến khích vật chất
cho người lao động với các biện pháp như :
-Khuyến khích công nhân sau một ngày làm việc nếu họ làm việc tốt.
-Khuyến khích cho đốc công, quản đốc dựa vào kết quả làm việc của công
nhân dưới sự giám sát trực tiếp của họ nhằm động viên họ trong công việc lãnh
đạo, quản trị.
-Phân công lao động trong quá trình làm việc một cách chặt chẽ
-Phải xác định rõ mối quan hệ quyền hành và trách nhiệm.
-Phải xây dựng và áp dụng chế độ kỷ luật nghiêm ngặt trong quá trình làm việc
.
-Thống nhất trong các mệnh lệnh điều khiển, chỉ huy
-Lãnh đạo tập trung
-Lợi ích cá nhân phải gắn liền và phục vụ cho lợi ích của tập thể , lợi ích
chung.
-Xây dựng chế độ trả công một cách xứng đáng theo kết quả lao động
-Lãnh đạo, quản trị thống nhất
-Phân quyền và định rõ cơ cấu lãnh đạo, quản trị trong tổ chức
-Trật tự
-Công bằng: tạo quan hệ bình đẳng trong công việc
-Công việc của mỗi người phải được ổn định trong tổ chức
-Khuyến khích sự sáng tạo trong quá trình làm việc
-Khuyến khích phát triển các giá trị chung trong quá trình làm việc của một tổ
chức.
Max Weber (1864 - 1920): Nhà xã hội học ngời Ðức, tác giả đã phát triển một
tổ chức quan liêu bàn giấy. Khái niệm quan liêu bàn giấy được định nghĩa: là
hệ thổng chức vụ và nhiệm vụ được xác định rõ ràng, phân công phân nhiệm
chính xác, hệ thống quyền hành có tôn ti trật tự. Theo Weber, hệ thống tổ chức
kinh doanh phải được:
-Xây dựng một cơ cấu tổ chức chặt chẽ.
-Ðịnh rõ các quy định, các luật lệ, chính sách trong hoạt động lãnh đạo, quản
trị.
-Ðịnh rõ quyền lực và thừa hành trong lãnh đạo, quản trị.
Chester Barnard (1886 - 1961): Tác giả cho rằng một tổ chức là một hệ thống
hợp pháp của nhiều người với ba yếu tố cơ bản:
Ðồng thời tác giả cũng nhấn mạnh, hiệu quả của lãnh đạo, quản trị phụ thuộc
vào việc giải quyết các mối quan hệ này.
* Những quan điểm về hành vi con người: các tác giả trong trường phái này
cho rằng hoạt động của con người phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tâm lý xã
hội. Chính các yếu tố này tạo nên các quan hệ tốt đẹp trong quá trình lao động,
từ đó mà có thể đạt hiệu quả cao trong quá trình làm việc.
Ðiển hình trong quan điểm này là các nghiên cứu về các tác động tâm lý vào
quá trình lao động tạiWestern Electric’s Hawthorne Plant. Công trình nghiên
cứu này gọi là những nghiên cứu Hawthorne. Trong nghiên cứu đó, các tác giả
đã sử dụng các biện pháp tạo cho công nhân cảm giác tâm lý là họ đang được
các nhà lãnh đạo, quản trị chú ý đến như:
- Thay đổi chế độ sáng (tăng và giảm độ sáng).
- Thay đổi về tiền lương.
- Thay đổi thời gian làm việc.
Sự thay đổi này đã dẫn đến các tác động tâm lý làm tăng năng suất lao động.
Tiếp cận các động cơ về hành vi của con người: các tác giả đã tập trung nghiên
cứu vào các yếu tố tác động vào hành vi của con người trong quá trình làm
việc với tư cách là động cơ làm việc của họ.
Abraham Moslow (1908 - 1970): nhà tâm lý học, tác giả đã xây dựng lý
thuyết về nhu cầu của con người, bao gồm 5 cấp độ được xếp từ cấp thấp đến
cấp cao :
- Nhu cầu thiết yếu
- Nhu cầu an toàn
- Nhu cầu được hoà nhập
- Nhu cầu được nhận biết và tôn trọng
- Nhu cầu tự hoàn thiện
Một nhu cầu đã tương đối được thỏa mãn thì nó không còn là xung động mạnh
để thôi thúc nữa. Một nhu cầu đã tương đối được thỏa mãn, tác phong con
người sẽ bị chi phối bởi nhu cầu khác cao hơn.Như vậy, muốn lãnh đạo, quản
quản trị, giúp các nhà lãnh đạo, quản trị hiểu rõ hơn về sự động viên con
người, về ảnh hưởng của tập thể đối với tác phong cũng như các vấn đề tâm lý
lãnh đạo, quản trị.
Làm cơ sở nền tảng có các khái niệm nền tảng sao này về: văn hóa Doanh
nghiệp, phong cách lãnh đạo, quan hệ nhân sự, các lý thuyết động viên, v.v…
Một trường phái quản lý mới xuất hiện, gọi là trường phái quan hệ con người,
hoặc trường phái tác phong. Những người mở đường là Hugo Munsterbeg với
tác phẩm “Tâm lý học và hiệu quả công nghiệp” (1913); Mary Parker Follet
với các tác phẩm “Nhà nước mới” (1920), “Kinh nghiệm sáng tạo” ; Elton
Mayor với ý niệm “con người xã hội” thay vì “con người thuần lý kinh tế”;
Abraham Maslow với lý thuyết về 5 cấp nhu cầu của người lao động (gồm:
nhu cầu vật chất – sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn
trọng và nhu cầu tự hoàn thiện bản thân); Herbert Simon với thuyết hành vi
trong quản lý
Tư tưởng quản lý của trường phái này dựa trên những thành quả của tâm lý
học, coi trọng yếu tố con người và quan hệ xã hội; đưa ra quan niệm “quản lý
là hoàn thành công việc thông qua các người khác”; với các khái niệm “công
nhân tham gia quản lý”, “người lao động coi doanh nghiệp như là nhà của
mình”, “ đồng thuận và dân chủ giữa chủ và thợ”, “hài hòa lợi ích”, v.v
Doanh nghiệp được coi là một hệ thống xã hội; động lực lao động không chỉ là
lợi ích vật chất mà còn là tâm lý xã hội và ảnh hưởng của tập thể lao động;
quản lý không chỉ bằng quyền lực của tổ chức mà còn bằng tác phong điều
hành. Đó là một bước tiến về chất trong quản lý. Tuy nhiên, nó chưa thay thế
hẳn tiền đề “con người thuần lý kinh tế”; con người vẫn bị khép kín hướng nội
trong hệ thống mà chưa quan tâm đến yếu tố ngoại lai, do đó chưa lý giải được
đầy đủ nhiều hiện tượng trong thực tiễn quản lý.
3 – Nhóm học thuyết định lượng trong lãnh đạo, quản trị
Trường phái này ra đời vào thời kỳ đầu của Ðại chiến thế giới II, xuất phát từ
Theo Abraham Maslow, nhu cầu của con người phù hợp với sự phân cấp từ
nhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao nhất. Khi một nhóm các nhu cầu được thỏa
mãn thì loại nhu cầu này không còn là động cơ thúc đẩy nữa.
Nhu cầu sinh lý (Vật Chất): Là những nhu cầu cơ bản để có thể duy trì bản
thân cuộc sống con người (Thức ăn, đồ mặc, nước uống, nhà ở…). A.Maslow
quan niệm rằng khi nhu cầu này chưa được thỏa mãn tới mức độ cần thiết để
có thể duy trì cuộc sống thì nhu cầu khác sẽ không thúc đẩy được mọi người.
Nhu cầu về an toàn: Là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về thân thể và sự đe
dọa mất việc, mất tài sản…
Nhu cầu xã hội (về liên kết và chấp nhận): Do con người là thành viên của xã
hội nên họ cần được những người khác chấp nhận. Con người luôn có nhu cầu
yêu thương gắn bó. Cấp độ nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầu giao
tiếp để phát triển
Nhu cầu được tôn trọng: Theo A.Maslow, khi con người bắt đầu thỏa mãn nhu
cầu được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì họ có xu thế tự trọng và
muốn được người khác tôn trọng. Nhu cầu loại này dẫn tới sự thỏa mãn như:
quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tự tin.
Đây là mong muốn của con người nhận được sự chú ý, quan tâm và tôn trọng
từ những người xung quanh và mong muốn bản thân là một “mắt xích” không
thể thiếu trong hệ thống phân công lao động xã hội. Việc họ được tôn trọng cho
thấy bản thân từng cá nhân đều mong muốn trở thành người hữu dụng theo
một điều giản đơn là “xã hội chuộng của chuộng công”. Vì thế, con người
thường có mong muốn có địa vị cao để được nhiều người tôn vọng và kính nể.
Nhu cầu tự hoàn thiện: A.Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách
phân cấp của ông. Đó là sự mong muốn để đạt tới chỗ mà một con người có
thể đạt tới. Tức là làm cho tiềm năng của một người đạt tới mức tối đa và hoàn
thành
được một mục tiêu nào đó.
Đây là khát vọng và nỗ lực để đạt được mong muốn. Con người tự nhận thấy
người.
4. Nhóm học thuyết lãnh đạo, hội nhập trong quản trị hiện đại
a. Trường phái tiếp cận theo hệ thống
Chuyển Đổi
Đầu Ra
(Sản phẩm có GTGT)
Quản lý là một quá trình
Hoạch Định
Tổ Chức
Điều Khiển
Kiểm Soát
Phản Hồi
Trường phái lý thuyết này quan niệm rằng một tổ chức được coi như một hệ
thống trực tiếp thống nhất của các bộ phận có quan hệ hữu cơ với nhau. Các bộ
phận tác động qua lại lẫn nhau trong hoạt động sẽ tạo ra sức mạnh chung,
mang lại hiệu quả cao hơn nhiều so với các bộ phận hoạt động độc lập.
b. Khảo hướng ngẫu nhiên
Theo lý luận này, cách thức để đạt được các mục tiêu của một tổ chức có thể
rất khác nhau, tùy thuộc vào từng điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Do đó, trong
từng môi trường khác nhau, các phương pháp và kỹ thuật lãnh đạo, quản trị
khác nhau, không thể có lý thuyết chung áp dụng trong mọi điều kiện, hoàn
cảnh, bởi vì mỗi vấn đề là riêng biệt, độc đáo.
c. Khảo hướng quá trình
Quy mô, tính chất và tốc độ của môi trường kinh doanh đang thay đổi hết sức
nhanh chóng đòi hỏi các nhà lãnh đạo phải đổi mới tư duy. Trong lãnh đạo,
quản trị cần vận dụng linh hoạt các lý thuyết cần thiết vào từng tình huống cụ
thể và lãnh đạo, quản trị phải luôn luôn gắn với các yếu tố :
- Các yếu tố môi trường kinh doanh.
Tầm quan trọng tương đối của ba kỹ năng này phụ thuộc theo cấp trách nhiệm
điều hành. Tại những cấp thấp hơn, kỹ năng kỹ thuật và kỹ năng con người là
những yếu tố cần thiết nhất.Tại những cấp cao hơn, tính hiệu quả của hoạt
động điều hành phần lớn phụ thuộc vào kỹ năng con người và kỹ năng nhận
thức.Ở cấp cao nhất, kỹ năng nhận thức trở thành yếu tố quan trọng nhất trong
tất cả những hoạt động quản lý thành công.
Phương pháp ba kỹ năng nhấn mạnh rằng những nhà quản lý giỏi không nhất
thiết phải là bẩm sinh; năng lực của họ có thể được phát triển qua thực tiễn .Nó
vượt qua sự cần thiết phải xác định những điểm đặc thù bằng cách cố gắng đưa
ra một phương pháp xem xét quá trình điều hành một cách hữu ích hơn.Bằng
cách giúp cho người ta xác định được những kỹ năng cần thiết nhất tại những
cấp trách nhiệm khác nhau, phương pháp này đã chứng minh sự hữu ích trong
việc lựa chọn, đào tạo và đề bạt các cán bộ điều hành.
• Quan điểm
Lịch sử quá trình phát triển của các lý thuyết và thực tiễn quản trị được
minh chứng qua những ví dụ thực tiễn và các nghiên cứu của các kỹ sư và nhà
khoa học. Ngày nay, trong điều kiện môi trường thay đổi nhanh chóng, phương
pháp quản trị tổ chức bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố:
Chúng ta đã nghiên cứu một số các trường phái quản trị khác nhau.
Mỗi một trường phái quản trị đều hướng tới việc giải quyết các vấn đề do thực
tế quản trị đề ra. Các lý thuyết ra đời sau đều là sự kế thừa, bổ sung và hoàn
thiện những lý thuyết ra đời trước.
• Lý thuyết quản trị cổ điển tập trung sự chú ý vào năng suất và hiệu quả của tổ
chức với sựđóng góp quan trọng của Taylor với 14 nguyên tắc quản trị cơ bản.
Henry Fayol thì đề cập đến các chức năng quản trị và phương pháp áp dụng
chúng.Weber thì đề cao các nguyên tắc, chính sách và tính hợp lý của tổ chức
nhờ đó có thể thiết lập một cơ cấu tổ chức hợp lý và hiệu quả. Lý thuyết quản
trị cổ điển tập trung vào nhà quản trị và các công việc của họ: lập kếhoạch, tổ
chức, lãnh đạo và kiểm tra.
• Trường phái quản trị hành vi ra đời là sự tiếp nối của trường phái quản trị cổ
phương tiện một cách có tổ chức để theo đuổi những cơ hội tạo ra giá trị và
tăng trưởng bằng cách đáp ứng các mong muốn và nhu cầu thông qua sự sáng
tạo và độc đáo.
• Quản trị trong thời đại Kinh doanh điện tử (E-Business) E-business
(electronic business)
Mô tả cách thức tổ chức thực hiện công việc của mình bằng việc sửdụng các
liên kết điện tử (dựa trên internet) với các thành viên quan trọng để đạt được
các mục tiêu của mình một cách hiệu năng và hiệu quả.
Thương mại điện tử (electronic commerce) là một hình thức trao đổi hoặc giao
dịch kinh doanh mà trong đó các đối tác liên hệ với nhau qua mạng
internet.
E-business nâng cao tổ chức - sử dụng Internet để hỗ trợ (không thay
thế) các thức kinh doanh truyền thống của các tổ chức.
E-business tạo khả năng cho tổ chức - Internet giúp cho các thành
viên của tổ chức có khả năng làm việc hiệu năng và hiệu quả hơn.
• Nhu cầu sáng tạo và linh hoạt:
Những ý tưởng mới liên tục rất quan trọng đối với tổ chức để tránh sự lỗi thời
và thất bại. Sự linh hoạt sẽ có giá trị trong những tình thế khi khách hàng có
nhu cầu thay đổi chỉ trong một đêm, khi những đối thủcạnh tranh đến rồi đi,
khi nhân viên và các kỹ năng của họ phải chuyển đổi do yêu cầu từ dự án này
sang dự án khác.
• Quản lý chất lượng:
Cách mạng về chất lượng diễn ra mạnh mẽ cả trong các doanh nghiệp lẫn khu
vực công trong những năm 1980 và 1990.
o Quản lý chất lượng toàn diện (Total quality management - TQM) là một
triết lý về quản lý do nhu cầu và mong đợi của khách hàng định hướng và tập
trung vào việc cải tiến không ngừng các quá trình làm việc.
o TQM được giới thiệu bởi một nhóm các chuyên gia về chất lượng, trong đó
W.Edwards Deming là một trong những đại diện tiêu biểu.
o TQM trình bày sự đối lập với các thuyết gia quản trị trước đó, những