PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Sự cần thiết
Ngày nay khi mà đất nước ta đang chuyển mình trong quá trình xây
dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước,
các Doanh nghiệp không còn được bao cấp về giá, vốn nữa. Nó đòi hỏi các
Doanh nghiệp phải chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tiêu thụ
sản phẩm của mình, tự chủ về vốn cũng như trong lĩnh vực quản lý sao cho
tốt. Do đó, các chủ Doanh nghiệp, các nhà quản trị phải quan tâm đến vấn đề
như làm thế nào để tìm kiếm được lợi nhuận trong kinh doanh khi hội nhập
với nền kinh tế thị trường, nhất là khi đất nước ta ra nhập WTO. Tuy nhiên,
trước sự cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường và sự hội nhập toàn
cầu hoá như hiện nay khiến các Doanh nghiệp nói chung và các Doanh nghiệp
lâm nghiệp nói riêng phải xác định được đúng đắn thực lực, khả năng về vốn
và biện pháp quản lý, sử dụng vốn để từng bước nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh sao cho có lãi, từng bước phát triển và đứng vững trên thị trường.
Công ty Lâm nghiệp Xuân Đài là Công ty mới được chuyển đổi từ
lâm trường quốc doanh sang Công ty Lâm nghiệp trên cơ sở thực hiện Nghị
định 200/2004/NĐ-CP về sắp xếp, đổi mới lâm trường quốc doanh. Hoạt
động của Công ty có vai trò và đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế -
xã hội của không chỉ huyện Tân Sơn nói riêng mà của cả tỉnh Phú Thọ nói
chung. Vậy công ty lâm nghiệp Xuân Đài đã nâng cao được hiệu quả sản xuất
kinh doanh hay chưa? và làm thế nào để nâng cao và duy trì sản xuất kinh
doanh được liên tục và tạo ra khả năng sinh lời của đồng vốn. Nhận thức được
vai trò và tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
trong công ty lâm nghiệp, cùng với sự nhất trí của khoa ktế và quản trị kinh
doanh và sự hướng dẫn của thầy giáo T.S Trần Hữu Dào tôi mạnh dạn chọn
đề tài “ Nghiên cứu các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
của Công ty lâm nghiệp Xuân Đài – Tân Sơn – Phú Thọ ”.
1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tình hình và kết quả sản xuất kinh doanh của
Công ty giai đoạn 2005-2008.
1.5. Phương pháp nghiên cứu:
* Phương pháp thu thập số liệu:
Điều tra, thu thập thông tin số liệu từ Công ty, phỏng vấn trực tiếp cán bộ
công nhân viên trong Công ty.
Tìm hiểu các Nghị định, Nghị Quyết, Chỉ thị, Thông tư của Nhà nước ban
hành về Công ty Lâm nghiệp.
Kế thừa các tài liệu, báo cáo chuyên đề.
Thu thập số liệu về hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty Lâm nghiệp
Xuân Đài trong giai đoạn 2005-2008 từ các báo cáo tài chính của Công ty.
* Phương pháp xử lý và phân tích số liệu:
Phương pháp xử lý số liệu:
Dùng phần mền Excel để tính toán số liệu.
Phương pháp phân tích số tích số liệu:
Phương pháp tổng hợp phân tích thống kê, tính toán các chỉ tiêu cụ thể
như tốc độ phát triển liên hoàn, tốc độ phát triển bình quân, và một số chỉ tiêu
kinh tế khác để phục vụ cho việc so sánh đánh giá số liệu.
Phương pháp so sánh: Dựa trên biểu số liệu để so sánh, đánh giá kết quả
đạt được của Công ty.
Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của những người có kiến
thức kinh nghiệm về vấn đề nghiên cứu như hỏi ý kiến của các thầy cô giáo
trong trường, các cán bộ quản lý tại Công ty …
3
PHẦN II
KHÁI QUÁT CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.Doanh nghiệp lâm nghiệp
2.1.1. Khái niệm
a,Doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện các hoạt
những là nhu cầu bình thường của một doanh nghiệp mà còn là dấu hiệu lành
mạnh của một nền kinh tế phát triển. Do đó phấn đấu cho doanh nghiệp phát
triển cũng có ý nghĩa là góp phần củng cố và phát triển nền kinh tế quốc gia.
Để thực hiện mục tiêu phát triển, doanh nghiệp cần phải bỏ thêm vốn hay
dành một phần lợi nhuận để đầu tư, tăng thêm cơ sở vật chất kỹ thuật.
Mục tiêu trách nhiệm xã hội: Doanh nghiệp là một tế bào của xã hội nên
phải đặt mục tiêu trách nhiệm xã hội trong hoạt động của mình.Đối với
DNLN, mục tiêu trước hết đòi hỏi doanh nghiệp phải triệt để tôn trọng quy
hoạch sản xuất đã được phê duyệt, đặc biệt là phải hoàn tất nhiệm vụ trồng
rừng phòng hộ, thực hiện các biện pháp kỹ thuật để chống xói mòn đất, khai
thác lợi dụng rừng hợp lý đảm bảo sự bền vững của tài nguyên rừng. Ngoài
ra, cũng giống như các đơn vị kinh doanh khác, DNLN phải cõ trách nhiệm
bảo vệ lợi ích, quyền lợi của khách hàng, của những người cung ứng cho
mình và nhân viên trong Doanh nghiệp, góp phần tích cực vào sự phát triển
toàn diện kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng trên từng địa bàn cụ
thể.
2.1.3. Một số đặc trưng của DNLN
Việc tổ chức kinh doanh được thực hiện trên một diện tích rất lớn về
đất đai, tài nguyên rừng.
Tư liệu sản xuất của doanh nghiệp là tư liệu đặc biệt: đó là đất đai và
tài nguyên rừng, nếu người quản lý, sử dụng có những giải pháp đúng đắn
thích hợp thì tư liệu sản xuất đó không những không mất đi mà còn được tái
5
tạo lại và ngày càng phong phú; nếu ngược lại thì tài nguyên rừng sẽ bị cạn
kiệt dần và mất đi.
Hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của doanh nghiệp phức tạp, đa
dạng và có chu kỳ sản xuất kinh doanh dài: đối tượng lao động chủ yếu của
lâm trường là cây rừng, một thực thể chịu sự chi phối rất nhiều của điều kiện
tự nhiên (khí hậu, đất đai) và các giải pháp kỹ thuật tác động; quá trình sản
xuất vừa mang tính chất nông nghiệp vừa mang tính chất công nghiệp; chu
phạm trù trừu tượng. Nếu là phạm trù cụ thể thì trong công tác quản lý phải
định lượng thành các chỉ tiêu, con số để tính toán, so sánh. Nếu là phạm trù
trừu tượng phải được định tính thành mức độ quan trọng hoặc vai trò của nó
trong lĩnh vực SXKD. Từ đây ta có thể chia hiệu quả thành hai loại: Hiệu quả
sản xuất kinh doanh (hiệu quả kinh tế) và hiệu quả kinh tế xã hội. Hiệu quả
trực tiếp của doanh nghiệp là hiệu quả kinh tế, còn hiệu quả của ngành hoặc
của nền kinh tế quốc dân là hiệu quả kinh tế xã hội.
2.2.2.Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh
Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất lao
động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội. Đây là hai mặt có mối quan hệ mật
thiết với vấn đề hiệu quả kinh tế. Để đạt được mục tiêu kinh doanh, các doanh
nghiệp buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu quả
các yếu tố sản xuất và tiết kiệm chi phí.
Để hiểu rõ về hiệu quả sản xuất kinh doanh cần phân biệt rõ hai khái
niệm hiệu quả và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả hoạt động
SXKD là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một quá trình sản xuất kinh
doanh nhất định. Kết quả SXKD của doanh nghiệp có thể là những đại lượng
cân đong đo đếm được như doanh thu, lợi nhuận…và cũng có thể là các đại
lượng chỉ phản ánh chất lượng hoàn toàn có tích chất định tính như uy tín của
doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm.Trong khi đó, để tính toán đánh giá hiệu
quả SXKD người ta sử dụng cả hai chỉ tiêu kết quả đạt được và chi phí bỏ ra.
7
Vì vậy, bản chất của hiệu quả SXKD là phản ánh mặt lượng của các
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, là những gì mà Doanh nghiệp đạt
được.
2.2.3. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
Hiệu quả kinh doanh là một trong những công cụ hữu hiệu để các nhà
quản trị thực hiện chức năng của mình. Việc tính toán và xem xét hiệu quả
SXKD không chỉ cho biết việc sản xuất đạt ở trình độ nào mà còn cho phép
2.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hoạt động SXKD là yếu tố tạo nên hiệu quả sản xuất kinh doanh nên
các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh cũng ảnh hưởng
đến hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Căn cứ vào tính tất yếu thì các nhân tố có thể được chia thành hai
nhóm như sau:
+ Nhóm nhân tố khách quan là những nhân tố mà sự ảnh hưởng của nó
đến kết quả sản xuất kinh doanh ngoài ý muốn của bản thân doanh nghiệp,
bao gồm: môi trường kinh tế, môi trường thể chế, môi trường công nghệ, môi
trường văn hoá - xã hội, môi trường tự nhiên.
Đối với DNLN, do đặc thù nghề nghiệp là sản xuất ngoài trời lấy rừng
và tài nguyên rừng làm tư liệu sản xuất chính nên môi trường tự nhiên bao
gồm các nhân tố: thời tiết, khí hậu, mùa, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa
lý… có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNLN.
+ Nhóm nhân tố chủ quan là nhóm nhân tố nội tại mà doanh nghiệp có
thể kiểm soát và điều chỉnh được, bao gồm: lực lượng lao động, cơ sở vật
chất kỹ thuật, bộ máy quản trị doanh nghiệp.
Căn cứ vào tiêu thức nội dung kinh tế của các nhân tố ảnh hưởng, chia
thành hai loại:
+ Những nhân tố về điều kiện kinh doanh như: Tiềm năng và
thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật, lao động, tiền vốn…
9
+ Những nhân tố thuộc về kết quả SXKD, những nhân tố này
thường ảnh hưởng dây chuyền qua các khâu từ cung ứng vật tư đến khâu sản
xuất, khâu tiêu thụ và kết quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
Căn cứ và tiêu thức phản ánh tính chất của các nhân tố ảnh hưởng, chia
thành hai loại:
+ Những nhân tố số lượng là những nhân tố phản ánh về qui mô, kết
quả sản xuất kinh doanh như: số lượng về lao động, vật tư, vốn, khối lượng
sản phẩm sản xuất và tiêu thụ…
Giảm từ 5% trở lên: xếp loại C
Chỉ tiêu 2: Lợi nhuận thực hiện và tỷ suất lợi nhuận thực hiện trên vốn
Nhà nước
- Các doanh nghiệp có lãi:
+ Tỷ suất lợi nhuận thực hiện trên vốn Nhà nước tăng hơn so với năm
trước: xếp loại A
+ Tỷ suất lợi nhuận thực hiện trên vốn Nhà nước bằng hoặc thấp hơn năm
trước: xếp loại B
- Các doanh nghiệp bị lỗ: xếp loại C
- Đối với doanh nghiệp có lỗ kế hoạch, Bộ Tài chính có hướng dẫn
riêng;
Chỉ tiêu 3: Nợ phải trả quá hạn và khả năng thanh toán nợ đến hạn
- Doanh nghiệp không có nợ phải trả quá hạn và có hệ số khả năng
thanh toán nợ đến hạn lớn hơn 1: xếp loại A;
- Doanh nghiệp không có nợ phải trả quá hạn và có hệ số khả năng
thanh toán nợ đến hạn từ 0,5 đến 1: xếp loại B;
- Doanh nghiệp có nợ phải trả quá hạn hoặc hệ số khả năng thanh toán
nợ đến hạn nhỏ hơn 0,5: xếp loại C
- Hệ số khả năng thanh toán nợ đến hạn của doanh nghiệp là khả năng
thanh toán hiện thời được xác định bằng tổng giá trị tài sản lưu động và đầu tư
ngắn hạn so với tổng số nợ ngắn hạn gồm cả nợ dài hạn đã đến hạn.
11
Chỉ tiêu 4: Tình hình chấp hành các quy định pháp luật hiện hành
- Doanh nghiệp không có vi phạm các quy định của pháp luật hiện
hành: xếp loại A
- Doanh nghiệp có kết luận của cơ quan có thẩm quyền về vi phạm các
quy định của pháp luật hiện hành nhưng chưa đến mức bị xử phạt hành chính:
xếp loại B
- Doanh nghiệp bị xử phạt vi phạm hành chính trong việc chấp hành
các quy định của pháp luật hoặc người quản lý điều hành doanh nghiệp có
+ Doanh nghiệp xếp loại A
- Không hoàn thành nhiệm vụ nếu thuốc một trong những trường hợp
sau:
+ Không hoàn thành chỉ tiêu Nhà nước giao về tỷ suất lợi nhuận trên vốn
Nhà nước đầu tư
+ Không chấp hành đầy đủ các nghị quyết, quyết định của chủ sở hữu,
Điều lệ của doanh nghiệp (đối với Hội đồng quản trị); không chấp hành các
nghị quyết, quyết định của chủ sở hữu, Hội đồng quản trị và Điều lệ của
doanh nghiệp (đối với Ban giám đốc);
+Doanh nghiệp xếp loại C
- Hoàn thành nhiệm vụ: các trường hợp còn lại.
2.3.2. Các chỉ tiêu hiệu quả bộ phận
* Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
- Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
+ Chỉ tiêu doanh thu trên một đồng vốn cố định( Sức sản xuất của vốn cố định)
Doanh thu trên một đồng
vốn cố định
=
Tổng doanh thu trong kỳ
Vốn cố định bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định tạo ra được bao nhiêu đồng
lợi nhuận.
+ Chỉ tiêu lợi nhuận trên một đồng vốn cố định ( Sức sinh lời của vốn cố định)
= Lợi nhuận trong kỳ
13
Vốn cố định bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
- Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
+ Chỉ tiêu doanh thu trên một đồng vốn lưu động( Sức sản xuất của vốn lưu động)
Doanh thu trên một đồng
* Hệ số khả năng thanh toán tổng quát
Hệ số khả năng
thanh toán tổng quát
= Tổng tài sản doanh nghiệp
Tổng nợ phải trả
14
Chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 là báo hiệu sự phá sản của doanh nghiệp, tổng tài
sản hiện có không đủ trả nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán.
* Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số khả
năng thanh
toán nhanh
=
Vốn bằng tiền+ Các khoản phải thu+ Đầu tư ngắn hạn
Tổng nợ ngắn hạn
* Hệ số cơ cấu vốn chủ sở hữu
Hệ số cơ cấu vốn
chủ sở hữu
= Vốn chủ sở hữu
Tổng tài sản doanh nghiệp
Hệ số này cho biết tỷ lệ vốn chủ sở hữu trong tổng vốn của doanh nghiệp.
2.4 Chủ trương đổi mới lâm trường quốc doanh giai đoạn 2006 – 2010
Năm 1999, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 187/1999/QĐ-
TTg ngày 16/9/1999 “Về đổi mới tổ chức và cơ chế quản lý lâm trường quốc
doanh”. Nhìn chung việc sắp xếp, đổi mới LTQD theo Quyết định 187 đã gặp
nhiều cản trở, vướng mắc và không thành công. Trong bối cảnh đó, ngày
16/6/2003, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết 28-
NQ/TW về tiếp tục đổi mới sắp xếp và phát triển nông, lâm trường quốc
doanh, nội dung cụ thể như sau:
- Những lâm trường đang quản lý chủ yếu là rừng trồng và đất qui
cổ phần hoá các lâm trường kinh doanh rừng trồng gắn với cơ sở chế biến,
thực hiện bán cổ phần ưu đãi cho người sản xuất cung cấp nguyên liệu cho
các cơ sở chế biến.
Về cơ chế quản lý đối với các lâm trường quốc doanh được tổ chức lại
thành Công ty Lâm nghiệp được qui định như sau:
- Các Công ty Lâm nghiệp 100% vốn Nhà nước hoạt động theo Luật
Doanh nghiệp Nhà nước, khi chuyển sang mô hình Công ty trách nhiệm hữu
hạn một thành viên hoặc cổ phần hóa thì hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.
- Các Công ty Lâm nghiệp 100% vốn Nhà nước thực hiện cổ phần hoá
cơ sở chế biến nông lâm sản, thương mại, dịch vụ theo Nghị định số
16
64/2002/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ về chuyển doanh
nghiệp Nhà nước thành Công ty cổ phần; thực hiện bán cổ phần cho người
sản xuất nguyên liệu; thí điểm cổ phần hoá rừng trồng.
- Các Công ty Lâm nghiệp được lựa chọn các hình thức khoán rừng và
đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân để bảo vệ, trồng và
khai thác rừng có hiệu quả theo qui định của pháp luật.
- Các Công ty Lâm nghiệp được dùng các lợi thế của Công ty (vốn, kỹ
thuật, thị trường…) liên doanh, liên kết với các hộ gia đình, các tổ chức, cá
nhân trong và ngoài nước để trồng rừng, kết hợp sản xuất nông, lâm nghiệp,
chế biến tiêu thụ sản phẩm, đồng thời làm dịch vụ theo qui định của pháp luật.
17
PHẦN III
ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN VÀ TÌNH HÌNH TỔ CHỨC KINH DOANH CỦA
CÔNG TY LÂM NGHIỆP XUÂN ĐÀI
3.1 Đặc điểm cơ bản của công ty lâm nghiệp Xuân Đài
3.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty lâm nghiệp Xuân Đài
Lâm trường Xuân Đài được thành lập tháng 6 năm 1988, trên cơ sở tách
ra từ lâm trường Tam Cửu trực thuộc liên hiệp các xí nghiệp Nông Lâm Công
nghiệp Vĩnh Phú. Lâm trường quản lý và hoạt động sản xuất trên địa bàn 5 xã
21º09’36” độ vĩ Bắc, từ 104º55’43” đến 105º12’23” độ kinh Đông.
+ Về địa giới: Phía Bắc giáp xã Mỹ Thuận, huyện Tân Sơn.
Phía Đông giáp xã Dịch Quả, huyện Thanh Sơn.
Phía Tây giáp với huyện Đà Bắc - Tỉnh Hoà Bình.
Phía Nam giáp với xã Cự Thắng, huyện Thanh sơn.
•
Khí hậu thuỷ văn
Công ty lâm nghiệp Xuân Đài nằm trong vùng miền núi trung du Bắc Bộ
thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, được chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa
mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Khu
vực này chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc vào mùa khô và gió Phơn Tây
Nam (gió Lào) từ tháng 2 đến tháng 6. Nhiệt độ trung bình trong năm là
23,8
0
C.
Lượng mưa bình quân 1.292 mm/năm. Tổng số ngày mưa trong năm là
176 ngày. Lượng mưa phân bố không đồng đều, lượng mưa cao nhất vào
tháng 7, tháng 8, lượng mưa thấp nhất vào tháng 1, tháng 2. Mùa mưa bắt đầu
từ tháng 4 đến tháng 10. Độ ẩm không khí trung bình 87%.
19
Ngoài ra do địa hình chia cắt lớn nên trong khu vực có rất nhiều suối,
nhưng hầu hết đều cạn nước vào mùa khô và nước lớn, lũ quét vào mùa mưa,
do đó gây không ít khó khăn cho sản xuất nông-lâm nghiệp. Trong địa bàn
huyện Tân Sơn có một con sông chính đó là sông Bứa, do rất nhiều suối nhỏ
tạo thành cùng với 2 chi lưu lớn đó là sông Mua bắt nguồn từ các vùng núi
cao phía Đông huyện Phù Yên (Sơn La) và sông Gian bắt nguồn từ các dãy
núi cao trung bình ở ranh giới huyện Tân và tỉnh Hoà Bình. Hai con sông này
hợp lại tại làng Kệ Sơn xã Minh Đài rồi đổ ra sông Hồng tại ngã 3 Gò Quang
Húc với tổng chiều dài 120 km, chiều rộng trung bình 200m tạo điều kiện tốt
cho vận chuyển lâm sản.
lương thực chưa ổn định, bình quân lương thực đầu người đạt 270
kg/người/năm, tình trạng thiếu đói giáp vụ vẫn xảy ra ở các xã vùng cao, vùng
sâu.
Cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống của nhân dân chưa đảm bảo tối thiểu,
điện nước sinh hoạt còn nhiều bất cập.
Vì vậy, cần phải đầu tư, mở rộng sản xuất tạo thêm việc làm nâng cao thu
nhập cho người dân, góp phần xoá đói giảm nghèo trong vùng.
3.2 Chức năng, nhiệm vụ của công ty lâm nghiệp Xuân Đài
Công ty lâm nghiệp Xuân Đài có chức năng, nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Sản xuất và kinh doanh cây giống nguyên liệu giấy và các dịch vụ kỹ
thuật liên quan đền trồng rừng.
- Trồng rừng, chăm sóc rừng, quản lý bảo vệ rừng, khai thác rừng và vận tải
cung ứng nguyên liệu gỗ theo kế hoạch và tiến độ của Tổng công ty (TCT) giấy
Việt Nam.
- Sản xuất chế biến lâm sản, thu mua kinh doanh các loại lâm sản nguyên
liệu giấy.
- Kinh doanh các ngành nghề khác theo quy định của TCT Giấy Việt
Nam và pháp luật cho phép.
21
- Được TCT Giấy Việt Nam uỷ quyền ký kết hợp đồng kinh tế và tổ chức
thực hiện các hợp đồng kinh tế đã ký kết với các đối tác phân cấp quản lý của
TCT.
- Thực hiện các quy định của Nhà nước về bảo vệ tài sản, tài nguyên, môi
trường, quốc phòng và an ninh quốc gia.
3.3. Tình hình tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty
3.3.1 Đặc điểm về mặt hàng kinh doanh của công ty
Hiện nay công ty có những sản phẩm chủ yếu là: Cây keo, cây bạch đàn,
cây bồ đề, chè búp tươi.
Công ty chủ yếu trồng cây keo làm mặt hàng chủ yếu để kinh doanh. Việc
lấy cây keo làm mặt hàng chủ yếu là do một số nguyên nhân sau:
.
3.3.2 Cơ cấu đất đai tài nguyên của công ty lâm nghiệp Xuân Đài
Nhìn vào biểu cho thấy: Tổng diện tích đất đai công ty quản lý là
6.093,10 ha, trong đó diện tích đất nông lâm nghiệp là 3.740,39ha chiếm
61,42% trên tổng diện tích đất đai công ty quản lý. Công ty không có diện
tích rừng tự nhiên là rừng sản xuất mà chủ yếu là rừng tự nhiên nhằm mục
đích phòng hộ và là rừng đặc dụng không được khai thác. Đây là diện tích
rừng của công ty nằm trên diện tích quy hoạch vào vùng lõi của vườn quốc
gia Xuân Sơn.
Diện tích rừng trồng là 1.971,5 ha chiếm 32,4%, cho thấy công ty chủ yếu quản
lý là rừng trồng, trong đó diện tích rừng trồng có thể đưa vào khai thác là 1.618,4 ha
và diện tích chưa có trữ lượng sản xuất là 353,1 ha. Diện tích này đã được xác định
mục tiêu kinh doanh ổn định, lâu dài trồng rừng nguyên liệu giấy khai thác rồi trồng
lại. Việc này giúp cho công ty có thể thực hiện tốt kế hoạch đề ra.
Đối với đất nông nghiệp, công ty chủ yếu sử dụng cho việc trồng chè lấy
búp tươi để bán cho một số công ty chè lân cận, với diện tích chiếm 0,4%
diện tích đất công ty đang sử dụng.
Diện tích đất để trồng rừng sản xuất là 2.667,720ha, cơ bản được sử dụng
để trồng rừng nguyên liệu giấy, trong đó có đất tranh chấp, đất xâm lấn chiếm
2.233,8 ha phân bố tại các đội sản xuất, còn lại 433,92. Đối với đất tranh chấp
xâm lấn tồn tại từ năm 2000 đến này do việc cấp bìa chồng chéo chưa được
giải quyết. Vì vậy công ty thuê lại quyền sử dụng đất của một số hộ dân có
diện tích đất đang có tranh chấp để trồng rừng.
23
Biểu 01 :Cơ cấu đất đai và tài nguyên của công ty lâm nghiệp Xuân Đài
TT Hạng mục
Diện tích (ha)
Ha %
Diện tích công ty quản lý 6.093,1 100
I Đât nông lâm nghiệp 3.740,39 61,42
24
Bên cạnh đó, công ty còn gặp một số khó khăn như điều kiện địa hình phức
tạp, trình độ dân trí còn hạn chế nên trong công tác quản lý và sử dụng đất đai và
tài nguyên chưa thực sự hiệu quả. Cụ thể là công ty có 36,62 ha diện tích đất
không có khả năng trồng rừng trong tổng số 433,92 ha diện tích đất không có
rừng. đó là do diện tích là núi đá, khe ướt lầy thụt tự nhiên. Thấy lợi nhuận do việc
trồng rừng tạo ra nên một số cá nhân đã lấn chiếm đất để lấy làm đất trồng riêng
của cá nhân.
Do diện tích quản lý khá lớn mà số người quản lý ít nên thỉnh thoảng có hiện
tượng cháy rừng xảy ra. Bên cạnh đó có hiện tượng khai thác trộm gỗ. Điều này
cho thấy công tác quản lý bảo vệ và phòng chống cháy rừng còn gặp nhiều khó
khăn.
Công ty không chỉ thực hiện sản xuất trồng rừng trên đất đai do công ty
quản lý mà công ty còn sử dụng đất mượn để phục vụ sản xuất. Cụ thể, công
ty thuê hơn 300 ha tại đội 7- Thang Ngàu để sản xuất với giá tính theo chu kỳ
sản xuất, tính theo giá thuê đất năm 2001 là 200.000 đ/ha. Diện tích đất này là
toàn bộ diện tích của đội 7 sử dụng để sản xuất.
Có thể thấy hiện trạng quản lý và cách thức sử dụng diện tích như sau:
Thuận lợi: Công ty đã cơ bản đã sử dụng đúng mục đích diện tích đất giao
có hiệu quả, trong đó mục đích sử dụng đất lớn nhất theo nhiệm vụ của công
ty là thực hiện trồng, chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng và khai thác rừng trồng
theo kế hoạch sản xuất hàng năm của TCT Giấy Việt Nam giao cho.
Một số tồn tại: Điều kiện địa hình phức tạp, công tác quản lý, sử dụng đất
đai tàin nguyên chưa thực sự hiệu quả, công tác quản lý bảo vệ và phòng chống
cháy rừng còn gặp nhiều khó khăn. Do tình hình đất quản lý bị chồng chéo nhau
nên thực tế công ty chỉ thực sự sản xuất trên diện tích là 3.469,58 ha.
3.3.3 Tình hình tổ chức sản xuất của Công ty
- Hoạt động sản xuất lâm nghiệp
25