luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Đông Đô - Pdf 27

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN


MAI THỊ LÀNH
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BƯU ĐIỆN LIÊN VIỆT
- CHI NHÁNH ĐÔNG ĐÔ
Chuyên ngành: KINH TẾ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Ngêi híng dÉn khoa häc:
GS.TS. NGUYÔN V¡N NAM
Hµ néi, n¨m 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ là công trình nghiên cứu của cá nhân
được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Nguyễn Văn Nam
- Các số liệu, thông tin được trích dẫn theo đúng quy định
- Dữ liệu khảo sát là trung thực
- Lập luận, phân tích, đánh giá, kiến nghị được đưa ra dựa trên quan điểm cá
nhân không có sự sao chép của bất kỳ tài liệu nào đã được công bố
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
Mai Thị Lành
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
Căn cứ theo đồng tiền được sử dụng trong cho vay 10
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng, có các loại tín dụng sau: 10
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Các từ viết tắt Nghĩa đầy đủ
1 CBTD Cán bộ tín dụng
2 CIC Trung tâm thông tin tín dụng
3 CN Chi nhánh

huy động các nguồn vốn trong nước cho đầu tư phát triển, trong việc đổi mới chính
sách cho vay và cơ cấu tín dụng theo hướng căn cứ chủ yếu vào tính khả thi và hiệu
quả của từng dự án, từng lĩnh vực ngành nghề để quyết định cho vay. Tín dụng ngân
hàng theo đó cũng phát triển cả về chất lượng và chủng loại, góp phần thúc đẩy sản
xuất kinh doanh, đóng góp tích cực cho việc duy trì sự tăng trưởng kinh tế với nhịp
độ cao trong nhiều năm liên tục. Trong hoạt động của các NHTM Việt Nam hiện nay,
hoạt động tín dụng là một nghiệp vụ truyền thống, nền tảng, chiếm tỉ trọng cao trong
cơ cấu tài sản và cơ cấu thu nhập, nhưng cũng là hoạt động phức tạp, tiềm ẩn những
rủi ro lớn cho các NHTM. Tín dụng trong điều kiện nền kinh tế mở, cạnh tranh và
hội nhập vẫn tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong kinh doanh ngân hàng và
đang đặt ra những yêu cầu mới về nâng cao hiệu quả hoạt động.
Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt là một ngân hàng trẻ mới ra đời từ năm
2008, song đã đạt được những thành công nhất định. Trong quá trình tồn tại và phát
triển, câu hỏi đặt ra đối với nhà lãnh đạo, các nhà nghiên cứu chính sách của ngân
hàng là làm thế nào để củng cố và nâng cao chất lượng tín dụng. Trong quá trình
1
làm công tác tín dụng tại ngân hàng Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Đông Đô, tôi đã
lựa chọn đề tài nghiên cứu : ‘‘Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP
Bưu điện Liên Việt – Chi nhánh Đông Đô’’ để làm đề tài luận văn cao học.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Làm rõ những vấn đề cơ bản về tín dụng, chất lượng tín dụng và các chỉ
tiêu phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại.
- Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Bưu điện
Liên Việt – Chi nhánh Đông Đô để thấy những thành công cũng như những mặt còn
hạn chế trong hoạt động tín dụng, từ đó tìm ra nguyên nhân tại LPB – Đông Đô.
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng phù
hợp với thực trạng hoạt động tín dụng và điều kiện phát triển kinh tế trên địa bàn, từ
đó nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh Đông Đô
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Bưu điện

Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Bưu điện
Liên Việt – Chi nhánh Đông Đô
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Bưu
điện Liên Việt – Chi nhánh Đông Đô
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG
3
VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG
1.1. Những vấn đề chung về tín dụng của Ngân hàng thương mại

Quan hệ tín dụng đã hình thành và ra đời từ rất lâu, thậm chí mối quan hệ tín
dụng thô sơ nhất được phát sinh ngay từ sau khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ tan
rã. Quan hệ tín dụng đã phát triển qua nhiều hình thức từ thấp đến cao, từ đơn giản
đến phức tạp. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, qua từng thời kỳ,
từng giai đoạn phát triển mà dần hình thành nên các hình thức tín dụng mới có trình
độ cao hơn, đã có các hình thức tín dụng sau: tín dụng nặng lãi, tín dụng thương
mại, tín dụng ngân hàng Mỗi một hình thức tín dụng đều có điều kiện kinh tế xã
hội cụ thể. Tuy nhiên, theo tiến trình phát triển, các hình thức quan hệ tín dụng
trước không hề mất đi mà vẫn còn tồn tại và phát huy tác dụng khi có sự ra đời một
hình thức tín dụng mới. Ngày nay, tất cả các hình thức tín dụng trên đều tồn tại và
bổ sung lẫn nhau, đóng góp vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế. Trong nền
kinh tế hàng hoá, trong cùng một thời gian luôn có một số người tạm thời thừa vốn,
có vốn tạm thời nhàn rỗi và có nhu cầu cho vay. Bên cạnh đó luôn có một số người
tạm thời thiếu vốn, có nhu cầu đi vay. Hiện tượng này làm nảy sinh mối quan hệ
kinh tế mà nội dung của nó là vốn được dịch chuyển từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu
vốn với điều kiện hoàn trả vốn và lãi tiền vay là lợi nhuận thu được do sử dụng vốn
vay. Đây chính là quan hệ tín dụng. Từ tín dụng có nguồn gốc Latinh là credtium có
nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm. Dựa trên sự tín nhiệm đó sẽ thực hiện các quan hệ
vay mượn một lượng giá trị biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc vật chất trong một
thời gian nhất định. Trong quá trình phát triển của nền kinh tế, tất yếu xuất hiện
quan hệ tín dụng giữa cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế. Tín dụng là quan hệ vay

Trong luận văn này tác giả nghiên cứu khái niệm tín dụng trên khía cạnh
cho vay vốn của ngân hàng thương mại. Theo tác giả có thể định nghĩa tín
5
dụng ngân hàng như sau “ Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng vốn từ
ngân hàng đến các đối tượng khác trong nền kinh tế bao gồm tất cả các cá nhân, tổ
chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội, là quan hệ chuyển nhượng vốn có
hoàn trả cả vốn lẫn lãi sau một thời gian nhất định trên cơ sở quan hệ bình đẳng cả
hai bên cùng có lợi”
789$!$.6
+Tín dụng ngân hàng dựa trên cơ sở lòng tin: Khi ngân hàng phát vay cho
khách hàng thì khi đó ngân hàng tin tưởng rằng khách hàng có khả năng hoàn trả
được gốc và lãi vốn vay, thẩm định khách hàng là bước bắt buộc khi cho vay nhưng
nếu như không có sự tin tưởng vào khả năng hoàn trả nợ của khách hàng trong
tương lai thì ngân hàng cũng sẽ không giải ngân vốn. Minh chứng là nhiều ngân
hàng đã tin tưởng cho khách hàng vay vốn mà không cần đến tài sản thế chấp. Do
hoạt động tín dụng dựa trên cơ sở lòng tin nên sẽ phải chấp nhận rủi ro mang tính
tất yếu. Chính vì thế, các ngân hàng đã đưa ra các quy trình nghiêm ngặt cho việc
cấp các khoản vay.
+Tín dụng ngân hàng hoạt động dựa trên nguyên tắc giá trị hoàn trả phải lớn
hơn so với giá trị cho vay ban đầu bao gồm cả gốc lẫn lãi: Sở dĩ như vậy là vì vốn
hoạt động của ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn do huy động, vốn chủ sở hữu ít khi
được sử dụng để sản xuất kinh doanh mà được sử dụng chủ yếu để đầu tư vào tài
sản cố định. Chính vì vậy, sau một thời gian nhất định, ngân hàng phải trả lãi cho
người gửi. Mặt khác ngân hàng cần phải có nguồn để bù đắp chi phí như trả lương,
khấu hao… Do đó, người vay ngoài việc trả gốc còn phải trả cho ngân hàng một
khoản lãi cũng chính là nguồn thu nhập của ngân hàng, là cơ sở để ngân hàng tồn
tại và phát triển.
+Tín dụng ngân hàng dựa trên nguyên tắc có thời hạn: Đặc trưng này của tín
dụng xuất phát từ tính chuyển nhượng tạm thời. Ngân hàng khi cho khách hàng vay
vốn, dựa vào mục đích sử dụng vốn vay, hoạt động kinh doanh của khách hàng, quá

tháng’’. Vì vậy có thể hiểu đây là loại hình tín dụng có thời hạn dưới một năm, thường
được sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán, cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu
7
động của các doanh nghiệp trong thời hạn ngắn, cụ thể ở đây là 12 tháng. Các loại cho
vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp của các tổ chức tín dụng
+ Cho vay vốn lưu động: Là hình thức cho vay để bổ sung vốn lưu động
thiếu hụt của khách hàng, hạn mức tín dụng là cơ sở để ngân hàng cho vay và giải
ngân. Thời hạn cho vay tùy thuộc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng tài
chính của khách hàng, có thể là vài ngày cho đến 1 năm.
+ Cho vay chiết khấu giấy tờ có giá: Là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn được
thực hiện dưới hình thức chuyển nhượng quyền sở hữu chứng từ cho TCTD để nhận
được khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi mức chiết khấu. Chứng từ có giá được phép
phát hành hợp pháp và được pháp luật thừa nhận như kỳ phiếu, trái phiếu, tín phiếu,
thương phiếu,…
+ Thấu chi: Là một nghiệp vụ cho vay ngắn hạn bổ sung vốn lưu động nhằm
cân đối thu chi trên tài khoản vãng lai của khách hàng. Nghiệp vụ thấu chi được
thực hiện bằng cách cho phép khách hàng được tiêu một số tiền cụ thể là hạn mức
thấu chi trên tài khoản trong một thời gian nhất định thường là 1 năm.
- Tín dụng trung hạn: Theo qui định tại khoản 2 điều 8 của Quy chế cho vay
của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số
1627/2001/QĐ- NHNN ngày 31/12/2001 ‘‘: Cho vay trung hạn là các khoản vay có
thời hạn cho vay trên 12 tháng đến 60 tháng”. Đây là loại hình cho vay được dùng
để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật,
mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: Theo qui định tại khoản 2 điều 8 của Quy chế cho vay của
tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số
1627/2001/QĐ- NHNN ngày 31/12/2001 thì ‘‘: cho vay dài hạn là các khoản vay
có thời hạn cho vay từ 60 tháng trở lên” mục đích của khoản vay thường được sử
dụng để tài trợ cho các dự án đầu tư, cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và
mở rộng sản xuất có quy mô lớn.

bảo ngân hàng có đủ tiền để cho vay và thu hồi nợ theo đánh giá mức độ rủi ro và
9
mức lãi suất được đặt ra cho từng loại.
• Căn cứ theo đồng tiền được sử dụng trong cho vay
Căn cứ vào tiêu thức này, tín dụng được chia làm hai loại:
- Cho vay bằng đồng bản tệ: Là loại tín dụng mà ngân hàng cấp tiền cho
khách hàng bằng VND. Việt Nam quy định, cho vay để thanh toán trong nước thì
chỉ được vay bằng VND.
- Cho vay bằng ngoại tệ: Là loại tín dụng mà ngân hàng cấp tiền cho khách
hàng bằng đồng ngoại tệ. Nước ta quy định, cho vay bằng ngoại tệ chỉ phục vụ cho
nhập khẩu; đối với khách hàng thu mua hàng xuất khẩu thì Ngân hàng cho vay bằng
ngoại tệ nhưng phải bán luôn cho ngân hàng và dùng VND đi mua hàng xuất khẩu.
•Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng, có các loại tín dụng sau:
- Tín dụng có bảo đảm: là hình thức tín dụng dựa trên cơ sở ngân hàng nắm
giữ các tài sản thuộc sở hữu trực tiếp của người đi vay hoặc thuộc sở hữu của người
bảo lãnh. Các hình thức bảo đảm thường gặp là: thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh.
Mục đích của việc này là khi có sự vi phạm hợp đồng tín dụng, ngân hàng có quyền
xử lý các tài sản đó để thu hồi tiền cho vay. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để
ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu
chắc chắn. Các tài sản bảo đảm ở đây thường là các bất động sản, động sản thuộc
quyền sở hữu của bên đi vay, được phép giao dịch, không có tranh chấp, tài sản
được bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
+ Cho vay có đảm bảo bằng tài sản thế chấp: Đó là bên vay vốn thế chấp tài
sản của mình cho bên cho vay để đảm bảo khả năng chi trả, hoàn trả vốn vay. Tại
Việt Nam theo quy định tại Điều 342 Bộ luật dân sự năm 2005 thì thế chấp tài sản
là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sự đối với bên kia và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp. Tài
sản thế chấp do bên thế chấp giữ. Khi thế chấp thì ngân hàng và khách hàng phải
thỏa thuận với nhau về việc định giá tài sản thế chấp và ký kết hợp đồng thế chấp có
sự chứng nhận hợp pháp của phòng công chứng

ngân hàng đánh giá có tính khả thi, có khả năng đem lại lợi nhuận cao; doanh
nghiệp phải kinh doanh có lãi trong hai năm liền kề thời điểm vay vốn. Loại hình
11
này thường được áp dụng với khách hàng truyền thống, có quan hệ lâu dài với ngân
hàng, khách hàng này phải có tình hình tài chính lành mạnh và có uy tín đối với
ngân hàng như trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn lãi, có dự án sản xuất kinh doanh
khả thi, có khả năng hoàn trả nợ
• Căn cứ vào phương thức cho vay
Tại Việt Nam theo quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng ban hành ngày
31/12/2001, ngân hàng tiến hàng cho vay theo các phương thức như sau:
- Cho vay từng lần: mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng tiến hành thực
hiện những thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. Phương thức này
áp dụng với những khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên, sản xuất
không ổn định, kinh doanh theo thời vụ, thương vụ.
- Cho vay theo hợp đồng tín dụng: ngân hàng và khách hàng xác định, thoả
thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ
sản xuất, kinh doanh.
- Cho vay theo dự án đầu tư: ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện
đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
- Cho vay hợp vốn: một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự
án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng. Trong đó có một tổ chức tín
dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác. Ngoài ra cho
vay hợp vốn còn phải thực hiện theo quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng
do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành. Cho vay hợp vốn có ưu điểm là san
sẻ được rủi ro song nhược điểm là nới lỏng việc kiểm soát tiền vay khách hàng.
- Cho vay trả góp: khi vay vốn, ngân hàng và khách hàng xác định và thoả
thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc chưa được chia ra để trả nợ theo
nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: khách hàng và ngân hàng xác định và thoả
thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Việc cho

- TD đối với khách hàng thể nhân: có nhu cầu vay đa dạng với món vay nhỏ lẻ
, chủ yếu dùng cho tiêu dùng, sản xuất kinh doanh nhỏ.
13
<: Theo ý kiến tác giả thì nghiên cứu cách phân loại tín dụng không
những chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn. Căn cứ các
cách phân loại cho vay của ngân hàng mà các nhà làm luật Việt Nam có thể xây
dựng thành những quy chế cho vay phù hợp với hoạt động thực tiễn và nghiệp vụ
tài chính của các TCTD, tạo điều kiện giúp mỗi TCTD có thể xây dựng cho mình
những chiến lược, chính sách kinh doanh mang tầm vĩ mô, có tính khả thi cao và
hiệu quả để nâng cao được chất lượng tín dụng. Trong nền kinh tế thị trường thì
việc phân loại tín dụng ngân hàng theo các tiêu thức trên chỉ có ý nghĩa tương đối.
Khi các hình thức tín dụng càng đa dạng thì cách phân loại càng chi tiết. Thực hiện
tốt việc phân loại tín dụng sẽ giúp cho ngân hàng nghiên cứu việc vận dụng vốn tín
dụng trong từng loại hình cho vay và là cơ sở để đánh giá hiệu quả kinh tế của
chúng. Từ đó có sự quản lý phù hợp nhất để nâng cao chất lượng tín dụng.
=>!?$.6
• Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Tín dụng ngân hàng tạo ra lợi nhuận cho NHTM: Trong hoạt động sản xuất
kinh doanh, mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế là đối đa hoá
lợi nhuận. NHTM cũng không nằm ngoài mục đích đó. Ngân hàng thu lợi nhuận
thông qua các hoạt động dịch vụ cung cấp cho khách hàng như thanh toán, tư vấn,
… nhưng lợi nhuận thu được nhiều nhất chính là từ hoạt động cho vay. Ngân hàng
với tư cách là một trung gian tài chính kinh doanh trên nguyên tắc tiền gửi của
khách hàng dưới hình thức tài khoản thanh toán và tài khoản tiền gửi. Trên cơ sở
đó, ngân hàng tiến hành các hoạt động cho vay dưới nhiều hình thức khác nhau.
Sự chênh lệch giữa tiền lãi kiếm được thông qua hoạt động cho vay và tiền lãi
phải trả cho các khoản huy động là lợi nhuận thu được. Đây chưa phải là toàn bộ
lợi nhuận của ngân hàng, tuy nhiên nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu của
ngân hàng chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số lợi nhuận của ngân hàng. Ngân hàng
hoạt động trong môi trường cạnh tranh của cơ chế thị trường thì hoạt động tín

ngân hàng thương mại đã thu hút được hầu hết các nguồn tiền nhàn rỗi dù là rất nhỏ
từ trong dân chúng tập trung về tay mình và từ đó đáp ứng được nhu cầu về vốn
15
ngày càng tăng của nền kinh tế, hay nói cách khác hoạt động tín dụng đã làm nhiệm
vụ thông dòng để vốn chảy từ nơi thừa đến nơi thiếu thông qua việc thực hiện hoạt
động đi vay và cho vay. Nhờ đó đã góp phần cung ứng và điều hoà vốn trong từng
doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế, tạo cho quá trình sản xuất được tiến hành một
cách trôi chảy đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cố định, vốn lưu động, bổ sung tăng
cường củng cố tài sản cố định làm cho quá trình sản xuất được tuần hoàn, thúc đẩy
sản xuất lưu thông, tăng tốc độ chu chuyển vốn tiền tệ trong xã hội, góp phần thúc
đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển
bền vững. Vì vậy, có thể nói tín dụng ngân hàng là công cụ mạnh mẽ thúc đẩy quá
trình tập trung và điều hoà vốn trong nền kinh tế.
- Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của
doanh nghiệp
Đặc trưng cơ bản của tín dụng là sự vận động trên cơ sở có hoàn trả cả gốc và
lãi. Ngân hàng huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của mọi thành phần kinh
tế và cho vay khi họ tạm thời thiếu vốn. Các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng ngoài
việc được cung ứng vốn một cách kịp thời đầy đủ còn được ngân hàng hỗ trợ trong
quá trình sử dụng vốn thông qua những ý kiến tư vấn khi lập phương án sản xuất
kinh doanh. Mặt khác, khi sử dụng vốn vay, khách hàng có quan hệ ràng buộc với
ngân hàng bởi trách nhiệm hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi trong một thời gian nhất
định. Vì vậy, đòi hỏi các doanh nghiệp phải cân nhắc làm thế nào để sử dụng vốn có
hiệu quả nhất, giảm thiểu chi phí, tăng vòng quay của vốn đảm bảo kinh doanh có
hiệu quả cho doanh nghiệp, đồng thời tăng hiệu quả của hoạt động tín dụng ngân
hàng. Như vậy, thông qua hoạt động tín dụng mà cụ thể là cho vay, ngân hàng có
thể kiểm soát hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp làm cho người vay càng
có ý thức hơn trong cơ chế quản lý tài chính, quản lý đồng vốn, nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn cho doanh nghiệp.
1.2. Chất lượng tín dụng của NHTM

được coi là hoạt động dịch vụ. Ngân hàng là loại hình kinh doanh tiền tệ, cung cấp
17
dịch vụ cho khách hàng. Quan niệm này phù hợp hơn với thông lệ quốc tế, trong
phân tổ các ngành kinh tế của Tổng cục thống kê Việt Nam, NH là ngành được
phân tổ trong lĩnh vực dịch vụ.
Quan niệm thứ hai coi hoạt động kinh doanh của NHTM là một nghề cung cấp
dịch vụ cho khách hàng. Chính chất lượng của mỗi dịch vụ ngân hàng cung cấp cho
khách hàng đó đem lại hiệu quả kinh doanh cho NHTM. Cũng như các sản phẩm,
dịch vụ khác cung ứng trên thị trường, để đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàng
cần có những chỉ tiêu nhất định cả về định tính và định lượng.
- Sự thỏa mãn hài lòng của khách hàng là quan trọng nhất: Dịch vụ do NH
cung ứng cho khách hàng, nếu dịch vụ hoàn hảo, có chất lượng tốt thì sẽ được
khách hàng sử dụng lâu dài, gắn bó
- Sự hoàn hảo của dịch vụ: Nó được hiểu là giảm thiểu các sai sót trong giao
dịch với khách hàng và rủi ro trong kinh doanh dịch vụ của ngân hàng
- Quy mô và tỷ trọng lợi nhuận thu được từ dịch vụ không ngừng tăng lên:
Ngân hàng luôn phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ để cung ứng cho các nhu
cầu khác nhau của khách hàng, phù hợp với mọi loại đối tượng. Bên cạnh đó cũng
không ngừng nâng cao chất lượng của các loại dịch vụ …
NHTM cung cấp dịch vụ tín dụng cho KH, như vậy có thể nói chất lượng tín
dụng cũng là một chỉ tiêu tổng hợp thể hiện sức mạnh cạnh tranh của ngân hàng
trong quá trình cạnh tranh để tồn tại. Nói cụ thể hơn, chất lượng tín dụng chính là
chất lượng các món vay, được đánh giá là có chất lượng tốt khi vốn vay được khách
hàng sử dụng có mục đích, phục vụ cho sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đảm bảo
trả nợ ngân hàng đúng hạn, bù đắp được chi phí và có lợi nhuận, có nghĩa là ngân
hàng vừa tạo ra hiệu quả kinh tế, vừa đem lại hiệu quả xã hội. Như vậy khi đánh giá
chất lượng tín dụng không được đánh giá một cách phiến diện mà phải nhìn tổng
quan trên nhiều phương diện. Quan điểm về chất lượng tín dụng được nhiều tác giả
nghiên cứu, đánh giá ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau và chất lượng tín dụng
được đánh giá trên 3 phương diện như sau:

tranh để tồn tại. CLTD thể hiện năng lực quản lý của hoạt động tín dụng, đảm bảo
sự tồn tại và phát triển của ngân hàng về khả năng sinh lời, mức độ hạn chế rủi ro
19
đảm bảo an toàn về vốn phù hợp với quy định của pháp luật. Luận văn chủ yếu tiếp
cận trên phương diện của NHTM.
Như vậy, chất lượng tín dụng ngân hàng là một khái niệm hoàn toàn tương
đối, nó vừa cụ thể (thể hiện qua chỉ tiêu có thể tính toán được: kết quả kinh doanh
của ngân hàng, nợ quá hạn ) vừa trừu tượng (thể hiện qua khả năng thu hút khách
hàng, tác động đến nền kinh tế qua các ảnh hưởng hai chiều ). Chất lượng tín
dụng còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan (khả năng, trình độ quản lý của
cán bộ tín dụng) và khách quan (sự thay đổi trong môi trường kinh doanh, xu hướng
phát triển nền kinh tế, sự thay đổi giá cả thị trường). BC$.$%<D$
!"DEF5G $D2D3$<$
D!+$.F&<H,$.@3$$$"&
!IJ&K>0$*++&chất lượng tín dụng là một chỉ
tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thích nghi của ngân hàng thương mại với sự
thay đổi của môi trường bên ngoài và thể hiện sức mạnh của một ngân hàng thương
mại trong quá trình cạnh tranh để tồn tại nhằm hạn chế rủi ro đảm bảo an toàn vốn
và khả năng sinh lời của ngân hàng.
44L $-<$.$6$$@M3F5G
1.2.2.1. Đối với ngân hàng
Chất lượng tín dụng làm tăng khả năng cung cấp dịch vụ của các NHTM do
tạo thêm nguồn vốn từ việc tăng được vòng quay vốn tín dụng và thu hút thêm được
nhiều khách hàng bởi các hình thức của sản phẩm, dịch vụ, tạo ra một hình ảnh tốt
về biểu tượng và uy tín của Ngân hàng cùng sự trung thành của khách hàng.
Chất lượng tín dụng gia tăng hạn chế được rủi ro, tăng khả năng sinh lợi
của các sản phẩm, dịch vụ Ngân hàng do giảm được chi phí nghiệp vụ, chi phí
quản lý, các chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn cho vay. Từ đó cải thiện
được tình hình tài chính của Ngân hàng, tạo thế mạnh cho Ngân hàng trong quá
trình cạnh tranh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status