1
LỜI NÓI ĐẦU
Bảo hiểm là một lĩnh vực rất quan trọng đối với các quốc gia nói chung và
với Việt Nam nói riêng. Không chỉ là một biện pháp di chuyển rủi ro, bảo hiểm
ngày nay đã trở thành một trong những kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh
tế. Tăng trưởng và phát triển bền vững là mục tiêu lâu dài của mọi doanh nghiệp
bảo hiểm đang hoạt động trong nền kinh tế. Ngày nay, khi nền kinh tế thị trường
phát triển ngày càng mạnh mẽ thì sự cạnh tranh trong ngành bảo hiểm diễn ra cũng
ngày càng gay gắt hơn.
Thực tế hoạt động bảo hiểm thời gian qua đã cho thấy sự lớn mạnh không
ngừng của ngành bảo hiểm và nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai. Thị
trường bảo hiểm Việt Nam đang được đa dạng hóa với tốc độ cao, sức ép mở cửa
thị trường và thách thức hội nhập ngày càng lớn.
Quản lý Nhà nước là hết sức quan trọng và không thể thiếu được ở bất kì xã
hội nào. Do tính chất quan trọng của ngành bảo hiểm đối với nền kinh tế, trong
những trường hợp cần thiết, Nhà Nước cần phải tiến hành can thiệp và điều tiết thị
trường này. Việc quản lí Nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm ngày càng trở nên
quan trọng và được thể hiện rõ nét. Quản lý Nhà nước giúp cho bộ máy của các
doanh nghiệp tham gia bảo hiểm hoạt động nhịp nhàng, theo một khuôn khổ nhất
định và có hiệu quả hơn.
Sau đây là nội dung của đề tài: “Lí thuyết và thực tế về quản lí nhà nước
hoạt động bảo hiểm ở Việt Nam hiện nay” do nhóm 2 thực hiện.
2
PHẦN I
Lí thuyết về quản lí nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm
1. Khái niệm và đặc điểm quản lí nhà nước
A. Khái niệm quản lí nhà nước
Quản lý Nhà nước là một dạng quản lý đặc biệt, được sử dụng các quyền
lực Nhà nước như lập pháp, hành pháp và tư pháp để quản lý mọi lĩnh vực xã hội.
B. Đặc điểm quản lí nhà nước
+ Nhà nước là một thiết chế quyền lực, sẽ định ra các luật, pháp luật, nghị
2. Bảo hiểm
A. Các khái niệm:
+ Định nghĩa 1
Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít
+ Định nghĩa 2
Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam
đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình
hoặc để cho một người thứ 3 trong trường hợp xẩy ra rủi ro sẽ nhận được một
khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người
bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các
phương pháp của thống kê
+ Định nghĩa 3
4
Bảo hiểm có thể định nghĩa là một phương sách hạ giảm rủi ro bằng cách
kết hợp một số lượng đầy đủ các đơn vị đối tượng để biến tổn thất cá thể thành tổn
thất cộng đồng và có thể dự tính được
+ Khái niệm mang tính chung nhất
Bảo hiểm là những quan hệ kinh tế gắn với quá trình hình thành, phân phối và
sử dụng quỹ bảo hiểm nhằm xử lý các rủi ro các biến cố bảo hiểm, đảm bảo cho
quá trình tái sản xuất và đời sống của xã hội diễn ra bình thường
B. Đặc điểm của bảo hiểm
+ Bảo hiểm là một hình thức dự trữ tài chính nhằm bù đắp và khắc phục những
tổn thất thiệt hại đối với sản xuất kinh doanh và đời sống con người khi những
biến cố bất lợi xảy ra.
+ Phân phối của quỹ bảo hiểm không phải là sự phân phối đồng đều bình quân
theo mức độ đóng góp.
+ Việc phân phối, sử dụng quỹ bảo hiểm không xác định trước được về quy mô,
thời gian diễn ra.
C. Vai trò của bảo hiểm
+ Vai trò kinh tế :
(cứ doanh nghiệp sử dụng 10 người lao động trở lên) để đảm bảo cho người lao
động được hưởng các chế độ bảo hiểm thích hợp
+ Nhà nước thống nhất quản lý Nhà nước bằng chính sách, pháp luật, chế độ…
6
+ Ban hành hệ thống pháp lệnh làm chuẩn mực pháp lý cho các loại hình bảo
hiểm:
- Quy định điều kiện bắt buộc và thủ tục hành chính cho sự ra đời và hoạt động
của cơ quan bảo hiểm.
- Quy định về chế độ và thủ tục về bảo hiểm và thực hiện bảo hiểm
- Quy định về cơ chế hoạt động của cơ quan bảo hiểm, chẳng hạn quy định mức
dự trữ cần thiết, cơ chế đầu tư phát triển quỹ bảo hiểm
+ Thống nhất quản lý bảo hiểm từ trung ương đến cơ sở thông qua hệ thống lao
động thương binh xã hội. Thống nhất về chế độ, mức chi trả, hình thức, phương
pháp tính toán. Chế độ bảo hiểm xã hội ở nước ta phản ánh bản chất tốt đẹp của
nhà nước xã hội chủ nghĩa
+ Thực hiện thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm trong hợp đồng bảo hiểm,
lành mạnh hoá hợp đồng bảo hiểm
+ Tổ chức quản lí nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm xã hội
+ Cơ quan bảo hiểm xã hội có quyền và trách nhiệm sau đây:
- Về quyền hạn
Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các
quy định để quản lý việc thu, chi bảo hiểm xã hội và xác nhận đối tượng hưởng
chế độ bảo hiểm xã hội; tổ chức phương thức quản lý bảo hiểm xã hội để bảo đảm
thực hiện các chế độ bảo hiểm có hiệu quả; tuyên truyền vận động để mọi người
tham gia thực hiện bảo hiểm xã hội; từ chối việc chi trả bảo hiểm xã hội cho các
đối tượng hưởng khi có kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi
man trá làm giả hồ sơ tài liệu.
- Về trách nhiệm
Tổ chức thu, quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội đúng quy định; thực hiện
đúng chế độ, điều lệ bảo hiểm xã hội của nhà nước; tổ chức việc trả lương hưu và
+ Thanh tra, kiểm tra hoạt động kinh doanh bảo hiểm; giải quyết khiếu nại, tố cáo
và xử lý vi phạm pháp Luật về kinh doanh bảo hiểm
9
Phần II
Thực tế quản lí nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm ở Việt Nam
hiện nay
1 . Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về bảo hiểm hiện nay
Các cơ quan quản lý Nhà nước được phân cấp rõ ràng trong việc thực hiện
chế độ quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Điều 121 Luật
KDBH quy định:
+ Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm
+ Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về
kinh doanh bảo hiểm.
+ Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình có trách nhiệm quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm theo
quy định của pháp Luật.
+ Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực
hiện quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm tại địa phương theo quy định của
pháp Luật.
Cục quản lý, giám sát BH là đơn vị thuộc bộ máy quản lý nhà nước của Bộ
Tài chính, có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính thực hiện quản lý nhà nước
đối với lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm trong phạm vi cả nước; trực tiếp quản lý,
giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm và các hoạt động dịch vụ thuộc lĩnh vực
kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm
có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước
và ngân hàng theo quy định của pháp luật.
Vụ Bảo hiểm làm việc theo chế độ chuyên viên
10
- Văn phòng Cục.
- Phòng Phát triển thị trường bảo hiểm.
doanh Bảo hiểm sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua trong năm 2010 là quy định
đưa sản phẩm bảo hiểm ra đấu thầu rộng rãi để tăng tính cạnh tranh, giảm tính độc
quyền trong kinh doanh bảo hiểm. Trước khi Luật Kinh doanh Bảo hiểm sửa đổi
được thông qua, thị trường bảo hiểm tồn tại một khái niệm được giới bảo hiểm gọi
là “bảo hiểm nội ngành”. Đó là những trường hợp các doanh nghiệp nhà nước
thành lập các công ty bảo hiểm. Các công ty này cung cấp dịch vụ bảo hiểm trong
nội ngành, thiếu cạnh tranh, không bảo đảm tính công khai, minh bạch trên thị
trường về mức phí bảo hiểm, bồi thường bảo hiểm làm cho thị trường bảo hiểm bị
chia cắt và phát triển thiếu tính cạnh tranh lành mạnh. Ngoài ra còn tình trạng các
doanh nghiệp trực thuộc hợp tác với công ty mẹ, nhằm khép kín dịch vụ bảo hiểm
trong nội ngành. Một số doanh nghiệp bảo hiểm hợp tác với cơ quan quản lý nhà
nước, chủ đầu tư để chỉ định, ép buộc mua bảo hiểm hoặc can thiệp trực tiếp vào
hoạt động kinh doanh bảo hiểm, dẫn đến hiện tượng chia cắt thị trường và tạo ra sự
cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm.
Việc bổ sung hợp tác xã vào diện các loại hình doanh nghiệp được kinh
doanh bảo hiểm cũng cho thấy sự thay đổi kịp thời trong việc ban hành văn bản
qui định. Thực tế hiện nay, đã có nhiều hợp tác xã có quy mô lớn, những hợp tác
xã này đã đáp ứng đủ các điều kiện được kinh doanh bảo hiểm theo quy định,
chẳng hạn, quy định về vốn pháp định, năng lực tài chính, khả năng thanh toán,
quản trị điều hành, quản trị rủi ro, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Hơn nữa, đây
là tổ chức kinh tế tập thể, có tư cách pháp nhân, hoạt động như một loại hình
doanh nghiệp. Do vậy, Luật sửa đổi, bổ sung đưa thêm hợp tác xã vào diện các
12
loại hình doanh nghiệp được kinh doanh bảo hiểm đã cho thấy sự điều chỉnh kịp
thời trong việc ban hành hệ thống chính sách.
Quyết định thành lập Quỹ bảo vệ người được bảo hiểm để bảo vệ quyền lợi
của người được bảo hiểm trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm phá sản hoặc
mất khả năng thanh toán cũng đã cho thấy tính đúng đắn trong ban hành văn bản
qui phạm pháp luật. Nguồn để lập Quỹ bảo vệ người được bảo hiểm được trích lập
theo tỷ lệ phần trăm trên phí bảo hiểm áp dụng đối với tất cả các hợp đồng bảo
thể kết luận nguyên nhân gây ra tai nạn. Như vậy nếu theo thông tư này sẽ có
nhiều trường hợp bị tai nạn giao thông sẽ không được thanh toán bảo hiểm ngay cả
khi họ không có lỗi. Ngoài ra theo quy định tại khoản 2, Điều 114 của Luật Bảo
hiểm xã hội, để được hưởng chế độ khi bị TNGT phải cung cấp bản sao biên bản
của công an giao thông. Nhưng trong thực tế thì rất khó thực hiện vì không phải tất
cả vụ TNGT đều có công an giao thông đến lập biên bản. Do thiếu các biên bản,
có nhiều trường hợp không được hưởng chế độ TNGT.
Cũng liên quan đến BHYT, việc cùng chi trả chi phí trong khám chữa bệnh
BHYT đã gây khó khăn cho một số nhóm đối tượng như người nghèo, người
hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội bị bệnh nặng có chi phí khám chữa bệnh lớn như ung
thư, chạy thận nhân tạo… Luật Bảo hiểm y tế quy định đã vi phạm pháp luật thì
không được chi trả viện phí. Tuy nhiên trên thực tế, số người làm công tác giám
định hiện nay rất ít, không thể giải quyết được tất cả các trường hợp TNGT. Với
quy định như hiện nay, giám định viên cũng không đủ thẩm quyền để đề nghị công
an xác minh các trường hợp TNGT. Như vậy, ngành bảo hiểm sẽ phải gánh thêm
nhiều trách nhiệm.
14
Về vấn đề bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) thì quy định về thời gian đăng ký
thất nghiệp được xem là chưa hợp lý. Trong vòng 30 ngày kể từ ngày chấm dứt
hợp đồng, người lao động phải được chốt sổ bảo hiểm xã hội. Trong khi đó phải
đăng ký trong vòng 7 ngày kể từ ngày thôi việc và nộp sổ bảo hiểm xã hội trong
vòng 15 ngày kể từ ngày đăng ký. Bên cạnh đó, nhiều lao động khi thôi việc, vì
nhiều lý do nên chưa thể kịp đăng ký trợ cấp thất nghiệp theo hạn định. Các
quy định hiện hành về phòng chống trục lợi trong bảo hiểm ở Việt Nam còn quá
bất cập và không theo kịp thực tiễn thị trường. Biện pháp chế tài xử lý các hành vi
trục lợi bảo hiểm còn quá thiếu. Theo Nghị định về xử phạt hành chính, hành vi
trục lợi bảo hiểm chỉ bị cảnh cáo hoặc phạt tối đa là 20 triệu đồng. Bộ luật hình sự
chưa có điều luật nào quy định cụ thể về tội trục lợi bảo hiểm. Đối tượng trục lợi
bảo hiểm chỉ bị xử với các tội danh liên quan như tham ô, hối lộ, chiếm đoạt tài
sản Chính vì hành lang pháp lý chưa đầy đủ nên nhiều vụ trục lợi bảo hiểm chưa
Tình trạng chồng chéo văn bản hướng dẫn Luật cũng là vấn đề hạn chế
trong việc ban hành các văn bản qui định. Ví dụ, ngay sau khi Luật BHXH được
ban hành, Chính phủ và các Bộ, ngành đã tập trung xây dựng một hệ thống các văn
bản quy phạm pháp luật thực hiện các quy định của Luật BHXH bao gồm các nội
dung về hướng dẫn việc thực hiện chính sách, chế độ BHXH bắt buộc đối với cán
bộ, công chức, người lao động Tuy nhiên, hiện các văn bản hướng dẫn thực hiện
chưa kịp thời và đồng bộ. Một số nội dung hướng dẫn trong các văn bản còn chưa
rõ ràng. Bên cạnh đó, việc ban hành các văn bản sửa đổi, bổ sung cũng chưa kịp
thời gây khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Tại Hội thảo tháo gỡ
vướng mắc trong thực hiện Luật BHXH, Luật BHYT do Bảo hiểm xã hội Việt
Nam tổ chức mới đây, các ý kiến đều cho rằng cần có những chế tài mạnh mẽ hơn,
chặt chẽ hơn nhằm đảm bảo việc thực thi chính sách.
16
3. Thực trạng tổ chức quản lý và thực hiện chính sách của nhà nước đối với hoạt
động bảo hiểm hiện nay.
A. Mặt tích cực:
Công tác tổ chức quản lý và thực hiện chính sách của nhà nước đối với hoạt
động bảo hiểm đã đạt được nhiều thành công. Nhiều loại hình bảo hiểm được ra
đời để đáp ứng nhu cầu của xã hội, cũng như phục vụ cho công tác thực hiện chính
sách an sinh xã hội, phát triển sản xuất kinh doanh của chính phủ.
Chính sách bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) được triển khai ở nước ta từ ngày
1/1/2009. Đến nay, sau hai năm triển khai thực hiện đã từng bước khẳng định đây
là chính sách có tác động trực tiếp và thiết thực đối với người lao động , người sử
dụng lao động và vấn đề an sinh xã hội; được người sử dụng lao động, người lao
động đón nhận một cách tích cực, được dư luận xã hội đánh giá cao là một trong
những chính sách sớm đi vào cuộc sống.
Việc quyết định chế độ bảo hiểm đối với ngành nông nghiệp cũng đã cho
thấy sự hợp lý trong quá trình điều hành thực hiện chính sách của nhà nước. Bởi lẽ
hàng năm, nước ta thường phải hứng chịu các đợt thiên tai như lũ lụt, hạn hán, rét
buốt gây ảnh hưởng không nhỏ đến nền sản xuất nông nghiệp, gây ra nhiều khó
4. Thực trạng thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BH; Giải quyết
khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hoạt động BH hiện nay.
A. Mặt tích cực:
Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo hiểm cũng như
công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hoạt động BH
đã thể hiện nhiều điểm tích cực. Nhiều đợt thanh tra đã phát hiện, ngăn chặn và xử
lý kịp thời những sai phạm. Ví dụ như năm 2010, qua thanh tra, thanh tra Sở Y tế
TP phát hiện Bệnh viện đa khoa tư nhân Phổ Quang (2B Phổ Quang, Q.Tân Bình)
18
có nhiều sai phạm trong thực hiện hợp đồng với BHXH TP. Cụ thể là nhiều trường
hợp bác sĩ chỉ định thuốc và xét nghiệm không phù hợp với chẩn đoán. Ví dụ
thuốc Telfat 180mg (kháng dị ứng) liều thông thường 1 viên/ngày, nhưng bác sĩ kê
toa cho bệnh nhân bị áp xe lạnh sau mổ nhọt với liều 4 viên/ngày. Bệnh nhân được
chẩn đoán hạ canxi nhưng cho làm xét nghiệm cholesterol (mỡ trong máu), HDL
(mỡ tốt trong máu), LDL (mỡ xấu trong máu), HbsAg (viêm gan siêu vi B), AST
(ung thư gan); bệnh nhân rối loạn tiêu hóa cho làm ECG (điện tim); bệnh nhân
viêm họng hạt cho xét nghiệm ion của máu; bệnh nhân viêm mũi họng cấp cho xét
nghiệm mỡ trong máu, chất cặn bã trong nước tiểu, xét nghiệm chức năng gan, xét
nghiệm men gan, xét nghiệm ion của máu và tổng phân tích nước tiểu. Đặc biệt, có
những bệnh nhân còn bị chỉ định thuốc có cùng tác dụng hoặc tác dụng đối kháng
nhau trong cùng một toa thuốc, sử dụng cùng một thời điểm. Có bệnh nhân được
bác sĩ kê toa thuốc uống cùng lúc bốn loại thuốc kháng viêm, hai loại thuốc kháng
dị ứng; có bệnh nhân cùng lúc được cho uống bốn loại thuốc trị ho
Qua thanh tra việc thu, quản lý và sử dụng quỹ BHYT trên địa bàn TP trong
bốn năm gần đây, Thanh tra TP đã phát hiện hầu hết các chứng từ, sổ sách dùng để
thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT có sai sót ở những bệnh viện được
thanh tra là Bệnh viện Phổ Quang I, Bệnh viện Mắt Sài Gòn II, Bệnh viện Q.1,
Bệnh viện Q.8, Công ty TNHH Trung tâm y khoa Phước An (HEPA).
Hầu hết các chứng từ, hồ sơ thanh toán được kiểm tra ở các bệnh viện trên không
có đầy đủ chữ ký trên chứng từ, không lưu toa thuốc, không có chỉ định dùng
chứng khoán và TTCK được ban hành thay thế Nghị định 36/2007/NĐ-CP đã
mạnh tay hơn trong việc xử lý CTCK trong việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề
20
nghiệp cho nhân viên. Theo đó, từ ngày 20/9/2010, CTCK sẽ bị phạt từ 50 - 70
triệu đồng nếu không mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp và không trích lập
đầy đủ quỹ bảo vệ NĐT. Với yêu cầu CTCK phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề
nghiệp cho nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán tại công ty (bồi thường thiệt hại
cho bên thứ 3), công ty bảo hiểm sẽ là nơi chi trả những khoản thiệt hại do sơ sót
của CTCK và nhân viên CTCK gây ra cho khách hàng. Tuy nhiên, đã 4 tháng qua
trôi qua, nhưng theo khảo sát của ĐTCK, đến nay vẫn không có nhiều CTCK tuân
thủ quy định này, cho dù hoạt động của CTCK tiềm ẩn nhiều rủi ro như: nhập lệnh
sai, tư vấn cho khách hàng không chính xác, đưa ra giá bảo lãnh phát hành không
phù hợp dẫn đến đợt phát hành không thành công, không chuyển được lệnh vì
đường truyền trục trặc… Những nghiệp vụ này đều thuộc diện CTCK phải mua
bảo hiểm.
Để nâng cao hiệu quả công tác của Cục Quản lý giám sát bảo hiểm, mới đây
Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định ban hành Nghị định 41/2009/NĐ-CP về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, trong đó trao chức
năng thanh tra chuyên ngành và thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính cho Cục
Quản lý giám sát bảo hiểm. Theo đó, Bộ Tài chính đã ban hành quyết định thành
lập thanh tra chuyên ngành về bảo hiểm (thanh tra Cục) đồng thời ban hành các
quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ của Thanh tra Cục. Với việc trao thẩm
quyền thanh tra và xử lý vi phạm cho Cục Quản lý và giám sát bảo hiểm, trong
năm 2010 và các năm sắp tới công tác thanh tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực
bảo hiểm được kỳ vọng sẽ mang tính chủ động và kịp thời. Và như thế, các hành
vi vi phạm trong lĩnh vực bảo hiểm sẽ bị xử lý nghiêm khắc hơn. Mức xử phạt
cũng như hình phạt bổ sung sẽ có tính răn đe cao hơn, thậm chí sẽ tước quyền sử
dụng giấy phép có thời hạn đối với phạm vi, địa bàn hoặc nghiệp vụ.
Quyết định yêu cầu phải công khai kết luận thanh tra cũng là điểm tích cực
trong công tác thanh tra. Đây là một trong những điểm mới của Luật Thanh tra số
BHXH bắt buộc đến cuối năm 2010 tại TPHCM gần 374 tỉ đồng. Giải pháp cơ
quan BHXH TP cho là hiệu quả nhất là khởi kiện các DN cố tình chây ì, thế nhưng
thủ tục hết sức nhiêu khê, phức tạp. Tòa Lao động xử vụ kiện dân sự nhưng trước
đó phải có việc xử phạt hành chính của thanh tra lao động. Thậm chí thanh tra lao
động xử phạt xong, BHXH đi kiện, tòa không nhận và bảo đã có cơ quan chức
năng giải quyết rồi, cứ vậy mà thực hiện, tòa không xử. Một giải pháp khác là trích
trừ tài khoản của DN trả nợ cho BHXH thì DN đối phó bằng cách rút hết tiền trong
tài khoản, thậm chí có DN còn cung cấp cho thanh tra lao động tài khoản “đểu”,
chỉ còn vài ngàn đồng. Chưa hết, khi thanh tra lao động ra quyết định xử phạt, DN
không đóng, thanh tra cũng không có biện pháp cưỡng chế. Đơn cử như trường
hợp Công ty H&M Vina (quận Tân Phú) không ký HĐLĐ, không tham gia BHXH
cho 130 NLĐ suốt 7 năm qua và bị xử phạt 86 triệu đồng nhưng đến nay vẫn
không nộp phạt. BHXH chỉ được phép kiểm tra nhưng không được quyền xử phạt
DN vi phạm. Trong khi đó, các ngành chức năng liên quan thực hiện thanh kiểm
tra DN về thực hiện BHXH còn ít và chưa hiệu quả, quá trình thanh tra còn lồng
ghép trong các cuộc thanh tra về thực hiện pháp luật lao động nên hiệu quả không
cao. Ở nhiều tỉnh, thành phố,cơ quan BHXH địa phương đã chủ động kiến nghị
với Chính quyền thành lập các đoàn công tác liên ngành, các tổ thu nợ với sự tham
gia của các cơ quan chức năng như Công an, thuế vụ… nhưng kết quả thu nợ cũng
chẳng được là bao. Chẳng hạn riêng tại Hà Nội tính đến tháng 2 năm 2011 vẫn còn
hàng trăm đơn vị có số nợ lớn, kéo dài chưa nộp BHXH, ví dụ Công ty CP Tập
đoàn điện tử Công nghiệp Việt Nam nợ 1.518 triệu đồng ; Công ty Bách hoá Hà
Nội nợ 1.928 triệu đồng; Công ty CP Cầu 5 Thăng Long nợ 4.401 triệu đồng ;
Công ty CP Xây dựng công trình nợ 2.682 triệu đồng ;Trường Đại học Luật Hà
Nội nợ 959 triệu đồng; Công ty DV Truyền thanh, Truyền hình Hà Nội 1.701 triệu
đồng…
23
Một nguyên nhân nữa dẫn đến tình trạng nợ bảo hiểm đó là do lãi phạt chậm
nộp BHXH - BHYT thấp hơn lãi suất ngân hàng, cộng thêm chế tài đối với hành
vi cố tình trốn nộp BHXH - BHYT chưa đủ mạnh, do vậy nhiều doanh nghiệp
gửi cho bệnh viện kịp thời để có căn cứ giải quyết cho bệnh nhân.
25
Phần III
Giải pháp và kiến nghị tăng cường quản lí nhà nước đối với hoạt động
bảo hiểm
1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đối với hoạt
động bảo hiểm.
Luật KDBH được ban hành từ cuối năm 2000 và có hiệu lực từ 01/04/2001
đã tạo cơ sở pháp lý căn bản cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam.
Cùng với luật là rất nhiều văn bản dưới Luật hướng dẫn thi hành một cách cụ
thể,tạo rất nhiều thuận lợi cho các đối tượng tham gia hoạt động bảo hiểm. Tuy
nhiên, thực tế áp dụng trong thời gian qua cho thấy Luật và nhiều văn bản Luật
vẫn còn nhiều chỗ chưa thống nhất, chưa đầy đủ, hoặc chưa thích hợp với điều
kiện cụ thể ở nước ta. Chính vì thế, tới đây, những nhà làm luật cần học hỏi thêm
kinh nghiệm xây dựng luật của các nước, đồng thời có những nghiên cứu cụ thể
các điều kiện của Việt Nam để có những điều chỉnh thích hợp hơn nữa.
Sự thiếu hụt một khung pháp lý điều chỉnh hoạt động cạnh tranh ở nước ta
hiện nay đang gây rất nhiều khó khăn cho hoạt động kinh doanh của nhiều ngành
nghề, trong đó bảo hiểm chịu tác động không nhỏ. Do vậy, nhiệm vụ quan trọng
đặt ra trong thời gian tới là Chính phủ cùng các bộ, ngành liên quan tiến hành
nghiên cứu, soạn thảo và trình Quốc hội thông qua Luật cạnh tranh. Trước khi
Luật cạnh tranh được ban hành, các cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động kinh
doanh bảo hiểm, cụ thể là Bộ tài chính, cần ban hành thông tư, chế tài cụ thể để
quản lý, kiểm soát hoạt động cạnh tranh và xử lý vi phạm về cạnh tranh trong lĩnh
vực bảo hiểm.