SKKN TẠO HỨNG THÚ NÓI TIẾNG ANH CHO HỌC SINH THPT - Pdf 27

Sáng kiến kinh nghiệm
MỤC LỤC
Tran
PHẦN I: Đặt vấn đề
2
PHẦN II: Giải quyết vấn đề
4
A. Cơ sở lý luận
I. Các phương pháp dạy học
II. Các phương pháp dạy tiếng Anh và dạy Speaking
III.Các phương pháp học tiếng Anh.
4
4
5
10
B. Cơ sở thực tiễn
11
C. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
12
D. Kết quả đạt được
18
PHẦN III: Kết luận
20
I. Ý nghĩa của đề tài
20
II. Những nhận định chung về việc áp dụng và khả năng phát triển
của đề tài
III. Bài học kinh nghiệm TÀI LIỆU THAM KHẢO : 21

nhiều em ngại nói, lâu dần thành một thói quen “lười nói”, ngay cả trong tiết
SPEAKING. Nguyên nhân cuối cùng, theo tôi là rất quan trọng, đó là các em chưa có
hứng thú để nói tiếng Anh.Thực tế, ở trường THPT Lộc Hiệp cũng vậy, học sinh thuộc
GV: Nguyễn Thượng Bằng Trường THPT Lộc Hiệp
2
Sáng kiến kinh nghiệm
vùng sâu, vùng xa ít được tiếp xúc với cuộc sống thành thị hiện đại, các em thường nhút
nhát, ngại giao tiếp, học sinh thuộc nhiều vùng, miền, học sinh đồng bào không ít nên ít
nhiều cũng ảnh hưởng đến việc học Tiếng Anh.

Từ thực trạng và những nguyên nhân nêu trên, tôi đã chọn đề tài “TẠO HỨNG
THÚ NÓI TIẾNG ANH CHO HỌC SINH THPT” để thực hiện, góp phần giúp học
sinh mạnh dạn hơn tự tin trong giờ học tiếng Anh nhất là trong giờ học SPEAKING,
cũng như trong giao tiếp thực tế hàng ngày; qua đó làm cơ sở, niềm tin để các em có thể
tiếp thu tốt hơn ở các kĩ năng khác của môn tiếng Anh nói chung và nâng cao chất lượng
dạy và học bộ môn ngoại ngữ nói riêng.
Do xuất phát từ thực tế dạy và học Tiếng Anh của thầy và trò trường chúng tôi nên
đề tài này tôi chỉ nghiên cứu giới hạn ở khối lớp 11 trong học kỳ I và nửa đầu học kỳ II
năm học 2012-2013, khối 10 trong học kỳ II năm hoc 2011 - 2012.
Đề tài này được thực hiện chủ yếu bằng thử nghiệm thực tế giảng dạy, dự giờ, thu
thập thông tin từ đồng nghiệp, đồng sự, điều tra qua phiếu thăm dò…
GV: Nguyễn Thượng Bằng Trường THPT Lộc Hiệp
3
Sáng kiến kinh nghiệm
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
A. CƠ SỞ LÝ LUẬN
I- CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC.
Có nhiều phương pháp dạy khác nhau đối với môn tiếng Anh, mỗi phương pháp
đều nhằm tới mục tiêu khác nhau; và do đó qui đinh vai trò của người dạy (giáo viên) và
của người học cũng khác nhau. Trong mối tương quan giữa cách dạy và cách học: giáo

Sách giáo khoa là nguồn tri thức phong phú nó giúp cho người học mở rộng, đào
sâu những kiến thức thu lượm được qua bài giảng của giáo viên, tự luyện tập nhờ các bài
tập và tự kiểm tra bằng các câu hỏi được nêu ra trong sách giáo khoa.
2. Phương pháp dạy học trực quan: bao gồm phương pháp quan sát và phương
pháp trình bày trực quan. Hai phương pháp này có quan hệ trực tiếp với nhau.
2.1. Quan sát là phương pháp nhận thức cảm tính tích cực, được sử dụng rộng rãi
trong quá trình dạy học, đặc biệt trong quá trình giảng dạy và học tập các môn khoa học
tự nhiên nhằm rút ra các nhận xét, những kết luận có cơ sở thực tiễn.
GV: Nguyễn Thượng Bằng Trường THPT Lộc Hiệp
4
Sáng kiến kinh nghiệm
2.2. Trình bày trực quan là phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan trước
khi, trong khi và sau khi lĩnh hội tài liệu học tập mới. Nó còn được sử dụng trong quá
trình ôn tập, củng cố và thậm chí khi kiểm tra tri thức,kỹ năng, kỹ xảo người học. Giáo
viên sử dụng tốt các phương pháp trực quan sẽ huy động được sự tham gia của nhiều
giác quan, sẽ kết hợp được hai hệ thống tín hiệu, tạo điều kiện cho người học dễ hiểu,
nhớ lâu, gây hứng thú cho người học, phát triển ở người học năng lực chú ý, quan sát,
bồi dưỡng sự say mê, óc tò mò tìm tòi, phát hiện những tri thức mới.
3. Các phương pháp dạy học thực tiễn:
Bao gồm các phương pháp độc lập làm thí nghiệm, luyện tập, ôn tập.
3.1. Phương pháp độc lập làm thí nghiệm được sử dụng rộng rãi trong quá trình
học tập các môn khoa học thực nghiệm như: vật lí, hóa học, sinh vật Nó giúp người
đọc nắm tri thức một cách vững chắc, gây hứng thú say mê và óc tò mò khoa học.
3.2. Phương pháp luyện tập là lập lại nhiều lần những thao tác trí tuệ, những hành
động thực tiễn nhất định nhàm hình thành và củng cố tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cho người
học.
3.3. Phương pháp ôn tập giúp cho người học củng cố, mở rộng, đào sâu, khái
quát hóa những tri thức đã được học, củng cố vững chắc những tri thức kỹ năng, kỹ xảo,
phát triển trí tuệ đặc biệt là khả năng tư duy độc lập của người học.
4. Phương pháp kiểm tra đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong quá trình

dịch qua một ngoại ngữ tương đương.
- Câu là đơn vị chính trong việc học và dạy ngôn ngữ.
Vai trò của người giáo viên là giảng giải những điểm ngữ pháp và nghĩa của từ
bằng ngôn ngữ của người học, tổ chức thực hành(ví dụ như là gợi nhớ lại công thức và
dịch thuật) và sửa sai cho học sinh.
Vai trò của người họclà chú ý cẩn thận vào sự giải thích và sửa sai của giáo viên,
học thuộc công thức và từ vựng và làm bài tập một cách cẩn thận.
2. Phương pháp giảng dạy trực tiếp (Direct method):
Phương pháp này được xem như là một cuộc cách mạng chống lại phương pháp
giảng dạy ngữ pháp dịch thuật vào cuối thế kỷ 19 Phương pháp này ở một chừng mực
nào đó dựa vào nền khoa học mới của cuối thế kỷ 19, đặc biệt về mặt ngôn ngữ và giảng
dạy.
Ngôn ngữ được xem như là những hệ thống giao tiếp, nói được xây dựng bởi
những từ tạo nên câu, những cấu tạo nên ngôn bản. Học ngôn ngữ tốt nhất bằng con
đường tự nhiên, bằng cách nghe từ , nghe câu trong ngữ cảnh và bắt chước những gì bạn
nghe. Không sử dụng ngôn ngữ của người học và truyền tải nghĩa của từ bằng cách
biểu diễn, vẽ, làm điệu bộ hay minh hoa. Hỏi và trả lời câu hỏi là một trong những cách
tốt nhất để luyện tập cùng với luyện nói càng nhiều càng tốt.
Vai trò của người giáo viên cần phải chủ động, minh họa ngôn ngữ, tổ chức luyện
tập và sửa sai cho người học.
Vai trò của người học là lắng nghe cẩn thận , bắt chước tham gia càng nhiều vào
phần luyện nói.
3. Phương pháp giảng dạy ngôn ngữ theo tình huống
(Situational Language teaching)
Phương pháp này do một người Anh sáng lập vào những năm 20 và 30 do không thỏa
mãn với phương pháp trực tiếp. Phương pháp này được phát triển đến những năm 70.
Phương pháp này đồng một số quan điểm với phương pháp trực tiếp về mặt ngôn
ngữ và cách học, và trái ngược với phương pháp ngữ pháp dịch thuật. Trong nguồn gốc
một phần nó đáp ứng những mặt yếu hơn của phương pháp trực tiếp, một phần là sự phát
triển những khái niệm lý thuyết của những nhà ngôn ngữ Anh, đặc biệt về khía cạnh

dụng mệnh lệnh để rút ra những câu đúng của học sinh.
Trong phần luyện tập, giáo viên sẽ tạo nhiều cơ hội cho học sinh sử dụng ngôn
ngữ mà không cần chú ý việc sửa sai điểm ngữ pháp hay cấu trúc nhiều.
4. Phương pháp giảng dạy nghe nhìn (Audio-lingual):
Phương pháp này phát triển gián tiếp ra ngoài chương trình phát triển của những
nhà ngôn ngữ và nhà sư phạm Mỹ đối với nền quân đội Mỹ trong suốt thế chiến thứ 2
Hai hoạt động chính của phương này là lập lại bài đối thoại và luyện tập nhớ và
thay thế. Những bài đối thoại thì dễ hơn cho việc luyện âm với một số mẫu cấu trúc mới
mang tính ngữ cảnh.Luyện tập thay thế là những phần luyện tập cấu trúc không mang
tính ngữ cảnh.Đối với phương pháp này luôn khuyến khích phần sửa sai của học sinh.
Dạng bài đối thoại và luyện tập là nền tảng căn bản của phương pháp này. Những
bài đối thoại cung cấp những cấu trúc chính mang tính ngữ cảnh và minh họa những tình
huống bao gồm cấu trúc đó cũng như một số khía cạnh văn hóa về đất nước ngôn ngữ
mình đang theo học. Kỹ năng lập lại và ghi nhớ thường được sử dụng trong những bài
đối thoại. Nó thường nhấn mạnh đến phần phát âm, dấu nhấn, ngữ điệu. Thường thì sau
mỗi bài đối thoại thường là việc GV giới thiệu những điểm ngữ pháp cơ bản có trong bài
đối thoại và nó trở thành dạng một số bài tập được đem ra luyện tập.
Vai trò của người học: Với giảng dạy nghe nhìn, chủ yếu giảng dạy cách thành
lập câu đúng. Giáo viên không khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình giao tiếp
bởi lẽ nó sẽ đưa đến nhiều lỗi sai.Trong giai đoạn đầu học sinh không cần hiểu hết nghĩa
khi lập lại theo giáo viên hay khi nghe những gì giáo viên nói chỉ cần bắt chước một
cách chính xác, làm những bài tập giáo viên cho chính là học những dạng cấu trúc mới.
Vai trò của giáo viên: Cũng giống như phương pháp giảng dạy theo tình huống,
phương pháp này người giáo viên đóng vai trò trung tâm và chủ động. Giáo viên làm
mẫu ngôn ngữ mới, điều khiển tốc độ học và sửa sai cho học sinh. Giáo viên cho học
sinh làm nhiều dạng bài tập và chọn những tình huống phù hợp với phần luyện tập cấu
trúc.
5. Phương pháp chọn lựa (selective method)
Phương pháp này đề cập đến nhiều phương pháp và một chiều hướng phát triển
khá ảnh hưởng khoảng giữa những năm 1960 và đầu những năm 1980 mặc dù những

Phương pháp này hiện nay được đa số các giáo viên sử dụng. Tuy nhiên nó được
giáo viên áp dụng với nhiều cách khác nhau trong những ngữ cảnh khác nhau.Về nguyên
tắc phương pháp này không phải luôn luôn là để luyện tập, ngôn ngữ được xem như là:
-Chúng ta làm gì với những phát ngôn, chứng năng giao tiếp cụ thể của nó (chẳng
hạn như thông báo, ra lệnh, mời mọc…) và nó không chỉ trong những phạm trù những
cấu trúc câu trang trọng và những nghĩa cơ bản.
-Chúng ta thực sự sử dụng ngôn ngữ như thế nào trong văn bản thực sự. Cũng
trên nguyên tắc việc học ngôn ngữ là một quá trình tiếp nhận lâu dài và sử dụng ngôn
ngữ với nhiều sai sót không thể tránh được. Đối với những hoạt động giao tiếp người
giáo viên ít điều khiển học sinh trong hoạt động nghe, nói, đọc, viết và nghĩ vì vậy học
sinh phải điều khiển việc học của mình. Đây là những đặc điểm của phương pháp giao
tiếp:
- Ngôn ngữ là một hệ thống diễn tả ý nghĩa
- Chức năng tiên quyết của ngôn ngữ là giao tiếp
- Cấu trúc ngôn ngữ phản ánh cách sử dụng mang tính chức năng và giao tiếp
- Những đơn vị tiên quyết của ngôn ngữ không chỉ đơn thuần là những đặc điểm
ngữ pháp và cấu trúc mà còn là mặt nghĩa mang tính chức năng và giao tiếp trong ngôn
bản.
Trong phương pháp giao tiếp chủ yếu đề cập đến quá trình giao tiếp hơn là nhấn
mạnh đến những điểm ngữ pháp.Vì thế vai trò của người giáo viên và học viên khác với
những phương pháp khác.
Vai trò của người học: Người học đóng vai trò như những người thương thuyết
giữa quá trình tự học và đối tượng của việc học- với vai trò của người thương thuyết
trong nhóm và những hoạt động trong nhóm đảm nhận. Ứng dụng cho người học là đóng
góp càng nhiều càng tốt và đó chính là cách học phụ thuộc lẫn nhau.
GV: Nguyễn Thượng Bằng Trường THPT Lộc Hiệp
8
Sáng kiến kinh nghiệm
Vai trò của giáo viên: Đối với phương pháp giao tiếp giáo viên có rất nhiều vai
trò, theo Breen và Candlin giáo viên có hai vai trò chính sau: Vai trò đầu tiên là làm cho

3. Controlled speaking: Thường là các hoạt động bám sát chủ đề có gợi ý cụ thể và yêu
cầu các em nói theo sự hướng dẫn và gợi ý của giáo viên/của bài và sử dụng các target
language vừa mới giới thiệu. Hoạt động này giúp các em rèn luyện độ chính xác
(accuracy) để tạo sự tự tin.
4. Freer speaking: Là các hoạt động yêu cầu các em sử dụng ngôn ngữ trọng tâm (target
language) vừa mới giới thiệu và cả vốn ngôn ngữ đã học và kiến thức nền tảng để thực
hành nói một cách trôi chảy mang đậm tính giao tiếp.
5. Post-speaking: Là hoạt động nhằm củng cố, mở rộng bài học, vừa giúp HS nhớ bài
học và vận dụng bài học một cách nhẹ nhàng, thoải mái.
Bản thân tôi luôn tâm đắc với phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm,
kết hợp phương pháp Giao tiếp trong dạy học, nhất là dạy kỹ năng SPEAKING.
GV: Nguyễn Thượng Bằng Trường THPT Lộc Hiệp
9
Sáng kiến kinh nghiệm
III. CÁC PHƯƠNG PHÁP HỌC TIẾNG ANH:
Việc học ngôn ngữ được tiến hành bằng cách quan sát, tổ chức và lưu trữ thông
tin. Cốt lõi của sự thành công trong việc dạy và học ngôn ngữ là sự thấu hiểu cấu trúc
và thẩm thấu vào bộ não. Qua một quá trình nghiên cứu lâu dài về các phương pháp học
qua lịch sử các phương pháp giảng dạy.
1. Theo thuyết hành vi:
Việc học được xem như là sự hình thành thói quen. Theo thuyết này đó chính là
quá trình thành lập thói quen một cách máy móc và thực hiện những thói quen đó bằng
quá trình trả lời các vấn đề hoặc câu hỏi được giáo viên đưa ra thường xuyên. Một trong
những qui tắc đó là:
− Không bao giờ dịch.
− Tiếp nhận ngôn ngữ mới theo qui trình nghe, nói, dọc, viết.
− Sự lặp lại thường xuyên là điều thiết yếu cho việc học ngôn ngữ hiệu quả.
− Tất cả các lỗi sai phải được sửa ngay lập tức.
− Như vậy đối với thuyết hành vi, luyện tập là một kỹ năng cơ bản.
2. Thuyết tư duy (Mentalism): Tư duy như những hành động được điều khiển

GV: Nguyễn Thượng Bằng Trường THPT Lộc Hiệp
10
Sáng kiến kinh nghiệm
4. Nhân tố tác dộng: Người học như những con người có cảm xúc. Con người
không chỉ nghĩ mà còn có cảm xúc. Việc học, đặc biệt là tiếp thu một ngôn ngữ, là một
kinh nghiệm cảm xúc và các xúc cảm đó tạo ra quá trình học có thành công hay không.
Tầm quan trọng của nhân tố tác động dễ dàng thấy được nếu chúng ta xem xét mối quan
hệ giữa khía cạnh nhận thức và tác động của người học. Thuyết nhận thức nói rằng
người học sẽ học khi tự họ nghĩ về họ sẽ học cái gì nhưng nhân tố nhận thức nghĩ trước
đó là nhân tố tác động của động cơ. Trước khi người học có thể chủ động nghĩ về một
điều gì đó, họ phải muốn nghĩ về điều đó cái đã. Sự phản ứng tình cảm trong kinh
nghiệm học tập là một cơ sở thiết yếu trong việc hình thành quá trình nhận thức. Hoc cái
gì như thế nào sẽ chi phối cách học như thế ấy.
Theo Gardner and Lambert's (1972), người học thường có hai dạng động cơ sau:
Động cơ 1: Học ngoại ngữ như một công cụ để đáp ứng các nhu cầu, sự tác động
từ bên ngoài chẳng hạn học ngoại ngữ để buôn bán với người bản xứ , học để có thể đọc
sách,tài liệu ở một ngoại ngữ nào đó.
Động cơ 2: Xuất phát từ mong muốn của bản thân, muốn gia nhập vào cộng đồng
người sử dụng một ngôn ngữ nào đó. Nhìn chung đối với phần cơ sở lý luận của đề tài
tôi đã khái quát những vấn đề liên quan đến các phương pháp giảng dạy nói chung và
phương pháp giảng dạy tiếng Anh nói riêng. Muốn có được một quá trình dạy học nói
chung , ngoài sự có mặt của giáo viên thì vai trò của học sinh cũng đóng vai trò không
kém phần quan trọng. Vì vậy ngoài việc đề cập đến vai trò, phương pháp giảng dạy của
giáo viên , đề tài cũng được đề cập đến cách học của học sinh.
B. CƠ SỞ THỰC TIỄN
Thứ nhất, như đã đề cập ở phần đầu: Có một thực tế là học sinh rất ngại nói tiếng
Anh, thậm chí nói tiếng Anh rất khó khăn dù là một câu đơn giản. Trong giờ học Anh
văn, kể cả tiết học SPEAKING chủ yếu là màn độc thoại của giáo viên, đôi khi giờ học
SPEAKING vô tình thành giờ học WRITING. Và các em ra môi trường bên ngoài rất
lúng túng, khó phản ứng kịp thời khi gặp các tình huống đơn giản cần giao tiếp bằng

* Kết quả khảo sát đầu năm
Lớp Sĩ số
Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém
SL % SL % SL % SL % SL %
11A1 35 4 11,4 5 14,2 15 42,9 11 31,5 0 0
11A2 34 0 0 3 8,8 8 23,5 19 53 4
14,
7
11A3 32 0 0 3 9,4 8 25 15 46,8 6
18,
8
11A4 31 0 0 1 3,2 6 19,4 14 45,4 10 32
TS 132 4 3,1 12 9,1 32 24,2 64 48,4 20
15,
2
Ngay sau đó tôi đã bắt tay vào áp dụng các biện pháp phù hợp với thực tế đối tượng
học sinh của từng lớp mình giảng dạy nhằm cởi nút thắt im lặng, sợ nói cho các em.
Từ cuối hoc kì II năm học 2011-2012 tôi bắt đầu thay đổi các phương pháp, thử
nghiệm cách mới để tạo hứng thú cho học sinh nói tiếng Anh trong giờ học Anh văn.
Trước hết tôi lập chiến lược ( Biện pháp thưc hiện lâu dài cho hoc kì, cho năm) và
chiến thuật ( Biện pháp thực hiện từng tiết, từng tuần)
Để tạo môi trường thuận lợi cho học sinh giao tiếp, tôi luôn uyển chuyển kết hợp
nhiều hoạt động, nhiều mẹo nhỏ trong cũng như ngoài giờ dạy nhằm giúp các em cảm
thấy thoải mái, không e ngại, tham gia thực hành sôi nổi. Từ đó các em tự tin giao tiếp,
say mê phấn đấu học bộ môn.
1) Biện pháp thứ nhất: Thực hiện nguyên tắc “BA KHÔNG, MỘT CÓ”
- Có một câu nói rất hay mà người phương Tây và GV nước ngoài hay dùng: “Don't let
yourself live in fear of speaking your mind. Speak up! Be heard!” ( Nghĩa là : Đừng để
mình sống mà cứ sợ nói ra điều có trong đầu mình. Cứ nói ra! Họ sẽ lắng nghe!). Đây
cũng lã một trong các căn cứ để tôi thực hiện nguyên tắc trên.

Tôi hy vọng đề tài này sẽ góp một tiếng nói nhỏ trong quá trình dạy học và đổi mới
phương pháp dạy học môn tiếng Anh THPT nhằm đạt mục tiêu chung là nâng cao hiệu
quả dạy và học nói chung và bộ môn tiếng Anh nói riêng. Tuy đã rất cố gắng, chắc
chắn sẽ còn những vấn đề phải bàn thêm trong đề tài này. Tôi mong nhận được những
chỉ đạo, đóng góp từ các cấp lãnh đạo, đồng nghiệp xa gần.
2. Những nhận định chung về việc áp dụng và khả năng phát triển của đề tài
Những năm gần đây, người ta luôn đề cao hiệu quả của việc dạy và học tiếng Anh
trong thời kì hội nhập. Học tiếng Anh là để giao tiếp, giao lưu, học tiếng Anh thì ít
nhiều cũng phải nói được tiếng Anh. Vì thế, những cách làm trên đã tạo được hứng thú
nói tiếng Anh cho HS chúng tôi ở vùng sâu, làm cơ sở để nâng cao các kĩ năng khác
của môn tiếng Anh, thì cũng có thể áp dụng ở những nơi khác một cách linh hoạt hơn
tùy từng hoàn cảnh và điều kiện ….Tất cả không ngoài mục đích nâng cao chất lượng
dạy và học. Tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu và bổ sung, hoàn thiện hơn cho đề tài và có
hướng phổ biến sáng kiến kinh nghiệm này không chỉ ở các khối lớp 11 của trường mà
có thể mở rộng ra các khối còn lại nhằm tạo hứng thú và phong trào học tiếng Anh của
trường tôi.
3. Bài học kinh nghiệm
Tạo hứng thú cho HS là một yếu tố rất quan trọng. Vì có hứng thì các em mới học,
có hứng thú mới học tập có hiệu quả, vì chúng ta đã biết nếu “tư tưởng không thông”
thì “mang bình tông không nổi”.
Ngoài ra, sự chuẩn bị và sự hợp tác tốt của học sinh cũng rất cần thiết.
Thêm vào đó, sự tận tâm, lòng nhiệt tình và sự kiên trì của người giáo viên trong
giảng dạy cũng như sự chỉ đạo, đóng góp củ lãnh đạo và đồng sự là rất cần thiết, nó
góp phần không nhỏ trong kết quả dạy và học.
Lộc Hiệp, ngày 20 tháng2 năm 2013
Người thực hiện
Nguyễn Thượng Bằng
GV: Nguyễn Thượng Bằng Trường THPT Lộc Hiệp
14
Sáng kiến kinh nghiệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status