GVHD: TRƯƠNG QUANG THÔNG
Lời mở đầu
Sau quá trình đổi mới, hệ thống các ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt
Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, lớn mạnh về mọi mặt, kể cả số lượng,
quy mô, nội dung và chất lượng; đã có những đóng góp xứng đáng vào công cuộc
công nghiệp hóa – hiện đại hóa nền kinh tế nói chung và quá trình đổi mới, phát
triển các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp và doanh nhân nói riêng; thực sự
ngân hàng là ngành tiên phong trong quá trình đổi mới cơ chế kinh tế. Đặc biệt,
trong những năm gần đây, hoạt động ngân hàng nước ta đã góp phần tích cực huy
động vốn, mở rộng vốn đầu tư cho lĩnh vực sản xuất phát triển, tạo điều kiện thu
hút vốn nước ngoài để tăng trưởng kinh tế trong nước. Vì vậy, ngành ngân hàng
xứng đáng là công cụ đắc lực hỗ trợ cho nhà nước trong việc kiềm chế, đẩy lùi lạm
phát, ổn định giá cả.
Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động tín dụng chủ yếu của ngân
hàng, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng; tuy nhiên rủi ro nó mang lại cũng là lớn
nhất. Nếu rủi ro quá cao sẽ làm cho ngân hàng rơi vào tình trạng khó chống đỡ và
đi đến phá sản. Vì vậy, trước những thời cơ và thách thức trong tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế thì cần nhâng cao khả năng cạnh tranh của các NHTM Việt Nam
với các ngân hàng nước ngoài mà trước mắt là nâng cao chất lượng tín dụng, giảm
thiểu rủi ro để nâng cao chất lượng hoạt động của ngân hàng. Đồng thời, thông
qua hoạt động tín dụng tiến hành các hoạt động khác nhằm thực hiện chức năng
của mình trong nền kinh tế
Ngân hàng TMCP Nam Việt là một tổ chức kinh doanh tiền tệ - tín dụng
cũng đang đứng trước tình hình đó, hoạt động trên nhiều địa bàn. Vì vậy, yêu cầu
cần thiết là làm thế nào để tăng cường công tác huy động vốn, mở rộng cho vay để
thỏa mãn nhu cầu vốn cho các ngành, các thành phần kinh tế trên địa bàn với điều
kiện tốt nhất và thuận lợi nhất. Đồng thời không ngừng mở rộng và nâng cao chất
lượng hoạt động tín dụng để mang lại hiệu quả hoạt động cho ngân hàng.
1
GVHD: TRƯƠNG QUANG THÔNG
Đặc biệt đứng trước tình hình hiện nay, nền kinh tế đang khó khăn, phức
- Cơ sở lý luận về tín dụng và chất lượng tín dụng
- Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Nam Việt – phòng
giao dịch Lê Đại Hành.
- Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng
TMCP – phòng giao dịch Lê Đại Hành.
Và từ đó đưa ra kết luận về các vấn đề nghiên cứu.
3
GVHD: TRƯƠNG QUANG THÔNG
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG NỀN
KINH TẾ
1. Quá trình ra đời và phát triển của tín dụng
Tín dụng xuất phát từ chữ La Tinh: Credittum – tức là tin tưởng, tín nhiệm; tín
dụng được diễn giải theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam là sự vay mượn.
Trong thực tế, thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau tùy vào
góc độ nghiên cứu. Xét trên một quan hệ tài chính cụ thể thì tín dụng là một giao dịch về
tài sản trên cơ sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ thì tín dụng
là sự chuyển dịch từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm.
Theo góc độ nghiên cứu của đề tài, tín dụng là quan hệ kinh tế giữa hai chủ thể cho
vay – bên giao giá trị (Ngân hàng) và chủ thể đi vay – bên nhận giá trị (các tổ chức, cá
nhân). Trong đó bên cho vay chuyển giá trị tài sản là tiền cho bên đi vay sử dụng trong một
khoảng thời gian nhất định đã thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện
cả gốc và lãi vay (chi phí mua quyền sử dụng tiền tê cho bên cho vay. Phạm trù tín dụng
gắn liền với sản xuất, lưu thông hàng hóa, ở đâu có sản xuất và lưu thông hàng hóa thì ở đó
có tín dụng tồn tại và sự vận động của nó luôn mang tính chất động lực của các quan hệ
kinh tế.
Nhưng nói chung, tập trung lại tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một
lượng giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời hạn nhất định từ
- Thông qua hoạt động tín dụng ở khâu phân phối thì nguồn vốn được phân bổ đến
mọi nhu cầu cần vốn của các tổ chức kinh tế, xã hội, cá nhân.
- Phân phối trực tiếp là sự chuyển giao vốn của chủ thể tạm thời nhàn rỗi vốn sang
chủ thể thiếu vốn tạm thời mà không phải thông qua các tổ chức tài chính trung gian.
- Phân phối gián tiếp: là sự chuyển giao vốn giữa các chủ thể thứa vốn tạm thời
sang chủ thể thiếu vốn tạm thời mà không phải thông qua các tổ chức tài chính trung gian.
Như vậy thông qua chức năng tập trung và phân phối lại vốn thực hiện theo nguyên
tắc hoàn trả trong nền kinh tế, tín dụng có ưu thế rõ rệt, nó kích thích mặt tập trung vốn,
được xem là sợi dây kết nối giữa cung – cầu vốn tiền tệ, tạo dễ dàng cho chủ thể thừa tiền,
chủ thể thiếu tiền trong nền kinh tế gặp gỡ nhau, đạt được mục đích của mỗi bên, nhờ đó
5
GVHD: TRƯƠNG QUANG THÔNG
mà tín dụng đã trực tiếp tham gia điều tiết vốn giúp cho tiền tệ luôn lưu thông đạt hiệu quả
kinh tế cao, tránh tình trạng thiếu hụt cũng như thừa tiền trong nền kinh tế và thúc đẩy việc
sử dụng vốn có hiệu quả.
2.2 . Tiết kiệm tiền mặt trong nền kinh tế và chi phí lưu thông tiền tệ:
Nhờ hoạt động của tín dụng mà nó có thể phát huy chức năng tiết kiệm tiền mặt và
chi phí lưu thông cho xã hội, điều này thể hiện qua các mặt sau:
- Hoạt động tín dụng, trước hết nó tạo điều kiện cho sự ra đời của công cụ lưu
thông tín dụng như thương phiếu, kỳ phiếu ngân hàng, các loại séc, các phương tiện thanh
toán hiện đại như thẻ tín dụng, thẻ thanh toán,… cho phép thay thế một số lượng lớn tiền
mặt lưu hành (kể cả tiền đúc băng kim loại quý như trước đây và tiền giấy hiện nay) nhờ
đó làm giảm bớt các chi phí, lượng tiền lưu thông thực tế có liên quan như in tiền, đúc tiền,
vận chuyển, bảo quản tiền….
- Với hoạt động của tín dụng, đặc biệt là tín dụng ngân hàng đã mở ra một khả năng
lớn hơn trong việc mở tài khoản và giao dịch thanh toán thông qua ngân hàng dưới các
hình thức chuyển khoản hoặc bù trừ cho nhau và lượng tiền lưu thông sẽ giảm nhỏ lại, mặt
khác khi công tác không dung tiền mặt phát triển thì việc tập trung tiền vào tài khoản sẽ
giảm chi phí cất trữ và bảo quản tiền.
Như vậy, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của tín dụng thì hệ thống thanh toán qua
hợp lý và tiềm năng.
- Với chức năng này thì Ngân hàng trở thành người giữ tiền của nền kinh tế, giao
dvới hầu hết các thành phần kinh tế, vốn của tín dụng ngân hàng tham gia vào mọi ngành
nghề, nên Ngân hàng có thể nắm bắt phản ánh mọi hoạt động trong nền kinh tế một cách
tương đối chính xác.
- Cùng với chức năng tiết kiệm tiền mặt trong lưu thông, chức năng phản ánh quá
trình hoạt động của nền kinh tế thì tín dụng có thể phản ánh quá trình phân phối sản phẩm
cho nền kinh tế.
Vì vậy qua đó tín dụng không những là tấm gương phản ánh hoạt động kinh tế của doanh
nghiệp mà còn thông qua đó thực hiện việc kiểm soát các hoạt động ấy nhằm ngăn chặn
các hiện tượng tiêu cực lãng phí, vi phạm luật pháp trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp.
3. Các hình thức tín dụng
- Tín dụng thương mại: Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các chủ thể
sản xuất kinh doanh trên cơ sở tín nhiệm và được thể hiện dưới hình thức mua bán chịu
hàng hóa lẫn nhau.Sự vận động phát triển của tín dụng thương mại phù hơp tương đối với
quá trình phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa; và quy mô của tín dụng phụ thuộc
vào quy mô hàng hóa mua bán chịu nên phù hơp với quy mô của quá trình tái sản xuất.
7
GVHD: TRƯƠNG QUANG THÔNG
- Tín dụng ngân hàng: Là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng, các tổ chức
tín dụng với bên kia là các chủ thể kinh tế, các cá nhân trong xã hội theo nguyên tắc hòan
trả. Đây là hình thức tín dụng ngân hàng huy động vốn và cho vay được thực hiện dưới
hình thái tiền tệ gồm tiền mặt và bút tệ là hàng hóa. Trong hình thức này, ngân hàng đóng
vai trò là trung gian trong quá trình huy động vốn và cho vay; quá trình vận động và phát
triển của tín dụng ngân hàng không hòan tòan phù hợp với quy mô phát triển của sản xuất
và lưu thông hàng hóa.
- Tín dụng nhà nước : Là quan hệ tín dụng giữa nhà nước với các tổ chức và cá nhân
trong xã hội, trong đó chủ yếu nhà nước đứng ra huy động vốn của các tổ chức và cá nhân
bằng cách phát hành trái phiếu để sử dụng vì mục đích chung của toàn xã hội. Đây là hình
về vốn là tất yếu không thể tự bản thân ngành, lĩnh vực có đủ sức. Vì vậy phải
huy động từ nhiều nguồn khác ngoài việc tự tích lũy thì nguồn vốn tín dụng là
nhanh chóng và tiện lợi hơn cả, làm giảm thời gian tập trung vốn, đồng thời đẩy
nhanh hoạt động sản xuất.
- Ngày nay tín dụng lớn mạnh trong các TCTC, các TCTD. Cũng như các ngành
thì đây là TCKT hoạt động cũng nhằm mục tiêu lợi nhuận và tồn tại. Do vậy,
nếu tín dụng được cấp từ các TCTD này thì khả năng thu hồi vốn sẽ cao và các
dự án cho vay sẽ là các dự án khả thi và ngoài ra còn phục vụ các mục tiêu xã
hội của chính phủ và qua đó cũng góp phần xây dựng cơ cấu đầu tư hợp lý, đây
là điều kiện thúc đẩy nền kinh tế sản xuất phát triển.
Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ và giá cả:
- Mọi sự vận động của tín dụng đều phải gắn liền với sự vận động của tiền tệ
nhằm phục vụ cho các mối quan hệ vay trả lẫn nhau giữa các chủ thể trong nền
kinh tế. Đồng thời tín dụng có tác động tích cực trở lại đối với tiền tệ góp phần
ổn định tiền tệ và giá cả hàng hóa.
- Hiện nay cơ chế phát hành tiền, điều tiết tiền đều qua con đường tín dụng
thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu cho các NHTW, các NHTM vay hoặc tái
cấp vốn cho các Ngân hàng thuộc hệ thống NHTMQD. NHTW thông qua các
công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế như dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu,
nghiệp vụ thị trường mở sẽ có tác động đến khả năng cấp tín dụng của NHTM,
làm tăng hay giảm khối lượng tín dụng trong lưu thông như mục tiêu của
Chính Phủ, góp phần điều hòa được cung cầu tiền tệ.
- Mặc khác, khi thực hiện chức năng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, hoạt
động tín dụng đã làm giảm lượng tiền lưu thông trong xã hội, làm giảm lạm
phát, góp phần ổn định tiền tệ,…và lượng tiền nhàn rỗi trong xã hội được tận
9
GVHD: TRƯƠNG QUANG THÔNG
dụng làm cho sản xuất ngày càng phát triển, đáp ứng được nhu cầu ngày càng
tăng của xã hội, góp phần ổn định thị trường giá cả trong nước.
Tín dụng thúc đẩy thị trường tài chính phát triển:
GVHD: TRƯƠNG QUANG THÔNG
động tín dụng ngày càng thu hút thêm nhiều lao động của xã hội góp phần ổn định trật tự
xã hội.
Ngoài ra hoạt động tín dụng còn phát triển, mở rộng ra phạm vi quốc tế nên góp
phần mở rộng và phát triển mối quan hệ kinh tế đối ngoại và mở rộng giao lưu quốc tế.
II. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
1. Khái niệm về chất lượng tín dụng
Khái niệm chất lượng tín dụng được coi là một phạm trù rộng, bao hàm nhiều nội
dung quan trọng mà thể hiện chủ yếu và rõ nhất là tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ. Và
trong một số trường hợp đặc biệt khi nói đến chất lượng tín dụng người ta thường có thể
chỉ nêu lên tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ, nếu tỷ lệ này càng cao càng thể hiện rõ chất
lượng chất lượng tín dụng đang thay đổi theo chiều hướng không tốt và ngược lại.
Tuy nhiên, theo thông lệ quốc tế thì nếu tỷ lệ nợ quá hạn dưới 5% tổng dư nợ hằng
năm thì được xem chất lượng tín dụng tốt. Nhưng, chỉ tiêu này không phản ánh đầy đủ
khái niệm chất lượng tín dụng mà đòi hỏi tỷ lệ nợ khó đòi trong tổng nợ quá hạn thấp thì
mới được coi là chất lượng tín dụng tốt.
2. Các chỉ tiêu biểu hiện chất lượng tín dụng
Để có thể đánh giá đầy đủ và chính xác hơn về chất lượng tín dụng, người ta
thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
2.1. Chỉ tiêu vòng quay của vốn:
Doanh số thu nợ
Vòng quay tín dụng =
Dư nợ bình quân
Vòng quay vốn tín dụng phản ánh tình hình quan hệ tín dụng của khách hàng vay
vốn đối với ngân hàng, quy mô hoạt động của ngân hàng, đóng góp của vốn tín dụng cho
nền kinh tế.
Vòng quay vốn tín dụng càng lớn chứng tỏ chu chuyển vốn tín dụng nhanh, tình
hình hoạt động tín dụng lành mạnh, ngân hàng thu phí được nhiều hơn.
2.2. Chỉ tiêu nợ quá hạn:
11
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của các TCTD. Tỷ
lệ nợ xấu càng cao thì chất lượng tín dụng càng kém và ngược lại. Nếu tỷ lệ nợ xấu <= 5%
thì chất lượng tín dụng được xem như bình thường, càng nhỏ hơn 5% càng tốt. Ngược lại,
nếu tỷ lệ nợ xấu lớn hơn 5% thì chất lượng tín dụng đang có vấn đề.
2.3. Chỉ tiêu sử dụng vốn
Vốn sử dụng
Mức sử dụng vốn = x 100%
Vốn huy động
Đây là chỉ tiêu phản ánh ngân hàng có thể sử dụng bao nhiêu nguồn vốn trong tổng
vốn mà ngân hàng huy động được.
II.4.Chỉ tiêu dư nợ
Là chỉ tiêu phản ánh tại một thời điểm xác định nào đó ngân hàng hiện còn cho
vay bao nhiêu, và đây cũng là khoản ngân hàng cần phải thu về.
Tín dụng đóng vai trò quan trọng, chiếm tỷ trọng lợi nhuận cao nhất. Vì vậy, sự
thành công hay thất bại của Ngân hàng phụ thuộc rất lớn vào hoạt động tín dụng. Thực tế
trong cơ cấu sử dụng vốn của các Ngân hàng thương mại, tổng dư nợ chiếm một tỷ lệ lớn,
khoảng 90% tổng sử dụng vốn của Ngân hàng.
- Tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động : chỉ tiêu này đánh giá khả năng sử dụng vốn
huy động vào việc vay vốn. Trong trường hợp nguồn vốn huy động ở ngân hàngchiếm tỷ lệ
thấp so với tổng nguồn vốn sử dụng thì dư nợ thường gấp nhiều lần so với vốn huy động.
Việc sử dụng vốn cho vay từ nguồn vốn huy động được tốt hơn là từ nguồn vốn cấp trên
cấp. Vì vậy, chỉ tiêu này càng gần 1 thì càng tốt, nâng cao được hiệu quả và chất lượng
nguồn vốn huy động được.
Tổng dư nợ
Tỷ lệ dư nợ trên vốn lưu động = x 100%
Vốn huy động
13
GVHD: TRƯƠNG QUANG THÔNG
- Tỷ lệ dư nợ trên tổng nguồn vốn : chỉ tiêu này thể hiện rõ tỷ trọng đầu tư vào
cho vay so với nguồn vốn huy động được của Ngân hàng, hay nói cách khác là dư
Theo quy định tại điều 52 luật của tổ chức tín dụng thì: “Tổ chức tín dụng (TCTD) có
quyền xem xét, quyết định cho vay trên cơ sở có đảm bảo hoặc không có đảm bảo bằng tài
sản cầm cố, thế chấp của khách hàng vay, bảo lãnh của bên thứ ba và chịu trách nhiệm về
quyết định của mình. TCTD không được cho vay trên cơ sở cầm cố bằng cổ phiếu của
chính tổ chức tín dụng cho vay. TCTD xem xét, quyết định việc cho vay có bảo đảm bằng
tài sản hình thành từ vốn vay. TCTD Nhà nước được cho vay không có đảm bảo theo chỉ
định của Chính phủ, tổn thất do nguyên nhân khách quan của các khoản vay này được
Chính phủ xử lý”.
- Khả năng quản trị rủi ro: để đánh giá được mức độ rủi ro, thường căn cứ
vào các chỉ số an toàn và các dấu hiệu nhận biết khoản tín dụng có vấn đề.
• Các chỉ số an toàn :
Vốn tự có
Tỷ lệ an toàn vốn = x 100%
Vốn huy động
Theo thông lệ quốc tế, tỷ lệ an toàn vốn nhỏ hơn 1% được xem là đảm bảo an toàn cho
hoạt động của Ngân hàng.
Tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ = x 100%
Vốn huy động
Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, mức độ an toàn căn cứ vào tỷ lệ nợ quá hạn
trên tổng dư nợ.
• Các dấu hiệu nhận biết khoản tín dụng có vấn đề:
15
GVHD: TRƯƠNG QUANG THÔNG
Tổng dư nợ quá hạn
Tỷ lệ dư nợ xấu = x 100%
Tổng dư nợ tín dụng
Chỉ số này cho biết tỷ lệ dư nợ quá hạn chiếm bao nhiêu % trong tổng số dư nợ tín
dụng. Ngày nay, các ngân hàng đều dùng tỷ số này để đánh giá chất lượng tín dụng của
ngân hàng.
chế lạm phát.
3.2. Đối với sự tồn tại và phát triển của ngành ngân hàng thương mại
Tín dụng là khoản mục sử dụng vốn lớn nhất và cũng là hoạt động chiếm tỷ trọng
cao nhất ở các Ngân hàng. Vì vậy, sự thành công hay thất bại của Ngân hàng phụ thuộc rất
lớn vào hoạt động tín dụng, đặc biệt là việc nâng cao chất lượng tín dụng. Chất lượng tín
dụng càng tốt thì rủi ro tín dụng càng ít và hiệu quả hoạt động tín dụng càng cao và ngược
lại. Vì vậy, cần phải nâng cao chất lượng tín dụng, đồng thời, cũng giúp cho ngân hàng hội
nhập, cạnh tranh trong môi trường kinh doanh quốc tế, kiểm soát và phòng ngừa được rủi
ro, nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng.
Và khi việc quản lý việc cho vay, nếu doanh nghiệp và cá nhân sử dụng vốn vay có
hiệu quả sẽ tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho xã hội, thực hiện cam
kết trả nợ gốc và lãi đúng hạn cho ngân hàng. Như vậy, tỷ lệ nợ quá hạn của ngân hàng
cũng giảm, ngân hàng hoạt động có hiệu quả hơn, tạo ra thu nhập và lợi nhuận cao hơn.
Nói chung, việc nâng cao chất lượng tín dụng giúp phòng ngừa được rủi ro, hiệu
quả hoạt động tín dụng tăng nhanh góp phần làm tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng, hoạt
động ngân hàng ngày càng phát triển hơn và thu nhập của cán bộ nhân viên cũng tăng lên.
17
GVHD: TRƯƠNG QUANG THÔNG
Kết luận chương I
Như vậy, việc nâng cao chất lượng tín dụng là gắn liền với việc giảm thiểu rủi ro trong
quá trình cho vay, nâng cao hiệu quả hoạt động. Đây là việc có ý nghĩa rất quan trọng, nó
quyết định đến sự tăng trưởng hoạt động tín dụng của ngân hàng, đảm bảo cho các NHTM
hoạt động kinh doanh có lãi, góp phần thúc đẩy nền kinh ết, giữ vững mối lien hệ giữa lưu
thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ, ổn định chính sách tiền tệ quốc gia. Do đó, cần phải
có các giải pháp để nâng cao chất lượng tín dụng của các NHTM trong nền kinh tế nhằm
đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế đặt ra. Đồng thời phần lý luận trên cũng là cơ sở để phân
tích thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP Nam Việt – Phòng giao dịch Lê
Đại Hành.
18
GVHD: TRƯƠNG QUANG THÔNG
Đây cũng là ngân hàng tiên phong trong việc áp dụng công nghệ vào hoạt động; là ngân
hàng có cơ sở hạ tầng, tiềm lực tài chính và đội ngũ cán bộ mạnh, chủ động với lộ trình hội
nhập kinh tế quốc tế.
Với sự phát triển ổn định và bền vững của một tổ chức chỉ có thể có được nếu tổ
chức đó tạo dựng được uy tín và lòng tin đối với công chúng. Ý thức được điều này, tòan
bộ các mảng họat động nghiệp vụ của NAVIBANK đều được chuẩn hóa trên cơ sở các
chuẩn mực quốc tế thông qua việc triển khai vận dụng hệ thống quản tri ngân hàng cốt lõi
(core banking) Microbank. Với hệ thống này, NAVIBANK sẵn sàng cung cấp cho khách
hàng các sản phẩm dịch vụ chính xác, an tòan, nhanh chóng và hiệu quả. Do đó, với
phương châm “tự hào là điểm tựa tài chính, nâng bước thành công” Navibank cam
kết là:
- Là một doanh nghiệp họat động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, NAVIBANK
luôn hướng đến sự phát triển bền vững, các họat động của NAVIBANK luôn chuẩn mực
nhằm mang lại sự an tòan tuyệt đối cho người giữ tiền và các đối tác có liên quan.
- Là một doanh nghiệp trong nền kinh tế, NAVIBANK cam kết tuân thủ tuyệt đối
các quy định của Chính Phủ, của Ngân hàng nhà nước Việt Nam và các quy định khác có
liên quan của pháp luật hiện hành.
- Là nhà cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng, NAVIBANK cam kết mang lại cho
các khách hàng của mình sản phẩm dịch vụ chất lượng cao, tiện ích tốt nhất nhằm thỏa
mãn nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng.
- Là thành viên tích cực của cộng đồng, NAVIBANK luôn hướng về công cộng,
tham gia tích cực vào các chương trình xã hội, các họat động từ thiện xóa đói, giảm nghèo,
khắc phục thiên tai, khuyến học.
- Là một doanh nghiệp cổ phần, NAVIBANK sẽ họat động an tòan hiệu quả nhằm
mang lại lợi nhuận tối đa một cách chính đáng cho các cổ đông và công ăn việc làm ổn
định cho người lao động.
1.2. Phương thức hoạt động của ngân hàng
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa tài chính đang diễn ra mạnh mẽ,
NAVIBANK hướng đến hiện đại hóa công nghệ ngân hàng để nhanh chóng tiếp cận và
phát triển các dịch vụ ngân hàng thương mại hiện đại – đa năng, tăng cường công tác quản
21
GVHD: TRƯƠNG QUANG THÔNG
STT Đơn vị
TH2007 TH2008
Debit
Credit
Debit
Credit
1 Hội sở chính 1,200 92 3,565 142 46,919,619
2
Chi nhánh Kiên Giang
-
-
493
-
572,726
3
Chi nhánh Hà Nội
-
-
844
-
551,359
4
Chi nhánh Hải Phòng
-
-
234
-
540,910
navibank.
- Luôn quan tâm nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng thông qua việc tìm hiểu
nhu cầu, kỳ vọng của mỗi đối tượng khách hàng để đưa ra các giải pháp chăm sóc
hữu hiệu, thỏa mãn cao nhất các nhu cầu hợp lý của khách hàng trong khả năng cho
phép của mình.
Từ những hoạt động đó, Navibank đã được nhiều thành tựu như: nhận bằng khen
của UBND TP.HCM về việc đã có nhiều thành trong công tác tổ chức các hoạt dộng “
Đường hoa Nguyễn Huệ “ và “ Lễ hội rước Bánh tét “phục vụ nhân đan vui Tết, nhận bằng
khen của UBND TP.HCM về việc đã có nhiều thành tích trong công tác “ Đền ơn đáp
nghĩa “ nhân kỷ niệm 60 năm ngày Thương binh liệt sĩ, nhận băng khen của UBND
TP.HCM về việc đã có nhiều thành tích trong công tác tổ chức, tham gia Hội chợ Triền
lãm “ Chợ Lớn 2007 “, ngoài ra NaViBank cũng đã thực hiện nhiều công tác từ thiện xã
hội như : ủng hộ 100 triệu đồng cho Hội chữ thập đỏ TP.Hải Phòng, ủng hộ 100 triệu đồng
22
GVHD: TRƯƠNG QUANG THÔNG
cho Quỹ Chung 1 tấm lòng của Đài truyền hình TP.HCM, ủng hộ 100 triệu đồng cho Quỹ
bảo trợ nạn nhân chất độc màu da cam
Như vậy, Navibank đã không ngừng cải tiến, hoàn thiện, phát triển các sản phẩm,
dịch vụ mới, nâng cao công nghệ Ngân hàng hiện tại nhằm đáp ứng tốt mọi yêu cầu của
khách hàng. Do đó, các hoạt động chủ yếu của ngân hàng là:
- Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn dưới các hình thức có kỳ hạn, không
kỳ hạn.
- Tiếp nhận vốn đầu tư và phát triển.
- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác.
- Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn.
- Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá.
- Hùn vốn và liên doanh.
- Làm dịch vụ thanh tóan giữa các khách hàng.
- Thực hiện kinh doanh ngọai tệ, vàng bạc và thanh tóan quốc tế, huy động vốn từ
nước ngòai.
Phòng
Kế hoạch – Tiếp thị
Phòng Phân Tích
Tín dụng – Đầu tư
Phòng
Tài chính – Kế toán
Phòng
Kiểm soát nội bộ
Phòng
Dịch vụ Khách hàng
Trung tâm
Dịch vụ thẻ
Phòng
Xử lý bộ chứng từ
Trung tâm
Công nghệ thông tin
Phòng
Hành chánh-Nhân sự
Phòng
Pháp Chế
Phòng
Đào tạo
Các Chi nhánh
Các công ty trực thuộc
Các Phòng
Giao dịch,
Quỹ tiết kiệm
Hội đồng Quản Lý Tài sản – Nợ
Hội đồng Quản lý Rủi ro
Hội đồng Lương thưởng
hàng. Lập báo cáo phân tích ý kiến của khách hàng để cải tiến công việc.
Định kỳ hàng năm đánh giá mức độ, hiệu quả của các kênh thông tin cho khách
hàng.
25