Công nghệ bao bì và đóng gói thực phẩm. ĐỀ TÀI 13: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BAO BÌ VÀ TIÊU CHUẨN VỆ SINH VẬT LIỆU LÀM BAO BÌ - Pdf 27

BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM
KHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
&
ĐỀ TÀI 13: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
CHẤT LƯỢNG BAO BÌ VÀ TIÊU CHUẨN VỆ SINH
VẬT LIỆU LÀM BAO BÌ
GVBM: ĐỖ VĨNH LONG
MỤC LỤC
Công nghệ bao bì và đóng gói thực phẩm GVBM: Đỗ Vĩnh Long
Nhóm 13 Page 2
Công nghệ bao bì và đóng gói thực phẩm GVBM: Đỗ Vĩnh Long
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của xã hội, ngành công nghệ thực phẩm ngày càng được
chú trọng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Nhiều loại nguyên
liệu quý, giàu chất dinh dưỡng đang được nghiên cứu và phát triển thành các sản phẩm
thực phẩm. Các nhà sản xuất ngoài việc ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào dây chuyền
chế biến và kiểm soát chất lượng nguyên liệu đầu vào còn quan tâm đến chất lượng bao bì
chứa đựng thực phẩm. Bao bì thực phẩm ngày càng góp phần quan trọng trong sự thành
công của một sản phẩm, là cầu nối giữa doanh nghiệp đối với người tiêu dùng.
Bao bì là vật tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm và trải qua các quá trình gia nhiệt,
thanh trùng,… ảnh hưởng đến tính chất cảm quan của thực phẩm. Nếu bao bì đạt yêu cầu
có thể làm giảm chất lượng thực phẩm thậm chí tạo độc tố gây bệnh cho người tiêu dùng.
Ngoài ra, cùng với sự thay đổi từng ngày của công nghệ và vì lợi nhuận trong kinh doanh,
một số nhà sản xuất tự đưa vào sử dụng một số loại bao bì chưa được kiểm tra, kiểm định
an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng. Để quản lý vấn đề này, Nhà Nước đã có nhiều
quyết định quy định về bao bì thực phẩm.
Thông qua đề tài tiểu luận “ Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng bao bì
và tiêu chuẩn vệ sinh vật liệu làm bao bì” Nhóm mong muốn có thể cung cấp một số
thông tin quan trọng cũng như các quy định của Chính phủ về chất lượng bao bì thực
phẩm. Do chưa có kinh nghiệm thực tế cũng như nguồn tài liệu tham khảo hạn chế, không

o Công nghệ chế tạo bao bì.
o Độ sạch của bao bì trước khi chiết rót sản phẩm.
o Sự nhiễm hóa chất từ bao bì vào thực phẩm.
Nhóm 13 Page 5
Công nghệ bao bì và đóng gói thực phẩm GVBM: Đỗ Vĩnh Long
CHƯƠNG II:
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BAO BÌ
2.1 Vật liệu làm bao bì
Với sự phát triển của ngành Công nghệ Thực phẩm, nhiều nguyên liệu với các
thành phần dinh dưỡng quý cho cơ thể đã được lựa chọn đưa vào sản xuất thực phẩm
bằng công nghệ tiên tiến nhằm tạo ra các sản phẩm thực phẩm có giá trị dinh dưỡng và
cảm quan cao. Sản phẩm này phải được bảo toàn khi đến tay người tiêu dùng. Do đó, việc
lựa chọn bao bì phù hợp là vô cùng quan trọng. Trong đó, vật liệu làm bao bì mang yếu tố
quyết định đến việc lựa chọn bao bì.
Một số yêu cầu chung về vật liệu làm bao bì:
o Đảm bảo tính chất cảm quan của sản phẩm nguyên vẹn từ khi chế biến cho đến lúc sử
dụng.
o Phù hợp với từng loại sản phẩm và phương pháp chế biến sản phẩm.
o Đảm bảo thực phẩm chứa đựng trong bao bì không bị hư hỏng do môi trường xung
quanh và chính bản thân bao bì.
o Giá trị bao bì thực phẩm phải tương ứng với giá trị thực phẩm chứa trong bao bì.
Không để bao bì làm tăng giá thành sản phẩm.
o Vật liệu dễ gia công và chế tạo.
o Bảo vệ môi trường, khả năng tái chế cao.
Hiện nay, bao bì được sản xuất từ rất nhiều loại nguyên liệu khác nhau. Công
nghiệp sản xuất bao bì ngày càng phát triển, nhiều nhà máy sản xuất ra nhiều loại bao bì
siêu việt bằng cách ghép nhiều loại bao bì với nhau hay bổ sung các chất phụ gia trong
quá trình sản xuất. Vì vậy, nếu nguyên liệu chế tạo bao bì không đảm bảo chất lượng thì
bao bì cũng không thể chất lượng.
Để thuận tiện cho việc kiểm soát cũng như đảm bảo chất lượng bao bì, nhà nước

trước. Loại bao bì này có khả năng thu hồi, tái chế và thuận tiện trong lưu thông.
Công nghệ sản xuất bao bì giấy được nhiều nước đang phát triển áp dụng và ngày
càng được hoàn thiện.
Công nghệ bao bì giấy ngày càng hoàn thiện hơn. Nếu như công nghệ cũ chỉ là
một lớp giấy bình thường chỉ để dùng chứa thì công nghệ sản xuất mới còn chú ý đến tính
năng vượt trội hơn như tính chống thấm hơi nước, hơi ga, tính bền, thẩm mỹ hơn để thu
hút người tiêu dùng như sử dụng thêm màng nhôm, plastic phủ lên bề mặt giấy…
Nhóm 13 Page 7
Công nghệ bao bì và đóng gói thực phẩm GVBM: Đỗ Vĩnh Long
Hình 2.2. Bao bì giấy
• Bao bì plastic
Khoảng giữa thế kỷ 19 các nhà khoa học tìm ra chất dẻo đầu tiên. Công nghệ bao
bì cũ đã chế tạo ra loại bao bì nilon làm từ nhựa, màng mỏng như chai lọ, can nhựa, xô
nhựa, chậu nhựa, bình nhựa và đặc biệt là bao bì nhựa nilon màng mỏng PE.
Công nghệ ngày càng phá triển với nhiều vật liệu khác nhau với nhiều tính năng
hơn như chứa đựng được kích thước lớn, chịu nhiệt, chịu áp, dể in ấn., dể tạp dáng kiểu
dáng bắt mắt

Hình 2.3. Bao bì plastic
• Bao bì kim loại
Bao bì kim loại trở thành công nghệ vào thế kỷ XIX và phát triển mạnh nhất vào
đầu thế kỷ XX. Nó vẫn tiếp tục phát triển nhờ nghành luyện kim và cơ khí chế tạo máy
tạo ra vật liệu kim loại tính năng cao và thiết bị đóng bao bì lun được cải tiến.
Bao bì kim loại chứa đựng bảo quản thực phẩm trong khoảng thời gian rất dài
nhằm phục vụ nhu cầu ăn liền cho những vùng xa nơi không thể cung cấp, thực phẩm tươi
sống hoặc đáp ứng yêu cầu của một số đối tượng do điều kiện sống và điều kiện công tác
không có thời gian chế biến. Bao bì kim koại chứa đựng thực phẩm ăn liền để đáp ứng
được yêu cầu trên, có thể bảo quản thực phẩm trong thời gian dài 2-3 năm, thuận tiện cho
viêc chuyên chở phân phối nơi xa.
Nhóm 13 Page 8

loại nhựa số 2. Tuy có màu đục nhưng loại
nhựa này được xem là an toàn và khả năng
tích tụ vi khuẩn thấp. Nhựa số 2 cũng được
xem là có thể dễ dàng tái chế.
Nhóm 13 Page 9
Hình 2.4. Polyethylene terephtalathe
(PET hay PETE)
Hình 2.5. High density polyethylene (HDPE)
Công nghệ bao bì và đóng gói thực phẩm GVBM: Đỗ Vĩnh Long
• Số 3: Polyvinyl Chloride (PVC)
Là loại nhựa được làm từ Polyvinyl Chloride còn gọi là PVC. Các loại giấy gói
thực phẩm, chai đựng dầu ăn, đường ống dẫn nước là nhựa PVC. Trong thành phần của
nhựa PVC có chứa phthalates – một trong những hợp chất hóa học gây cản trở sự phát
triển của hormone, do đó, nó được xem là không an toàn khi tiếp xúc với nhiệt độ cao -
thông thường là đựng đồ ăn nóng hoặc nước nóng. Bạn nên hạn chế tối đa sử dụng loại
nhựa số 3 trong việc lưu trữ thực phẩm càng nhiều càng tốt. Thông thường, nhựa PVC
hiếm khi được chấp nhận trong các chương trình tái chế.
• Số 4: Low Density Polyethylene (LDPE)
Là loại nhựa có chứa Low Density
Polyethylene còn gọi là LDPE
(polyethylene mật độ thấp). Nó thường
được sử dụng để làm các loại túi nhựa
đựng hàng tạp hóa, giấy gói thực phẩm
Loại nhựa này được xem là khá an toàn,
nhưng nó cũng không phải là đối tượng
được chấp nhận trong các chương trình tái
chế.
• Số 5: Polypropylene
Là loại nhựa được làm từ polypropylene. Hộp sữa chua, chai đựng nước lọc, lọ
đựng thuốc, chai đựng nước xiro hoặc nước sốt cà chua, tương ớt, ống hút đều được

khác
Công nghệ bao bì và đóng gói thực phẩm GVBM: Đỗ Vĩnh Long
nhựa này. Các chai lọ được chế tạo thuần một loại plastic thì ghi ở đáy ký hiệu như có
hình trên, để dễ phân loại thu hồi và tái chế, những loại bao bì được ghép bằng nhiều vật
liệu thì không ghi ký hiệu, riêng bao bì plastic khác các loại trên có thể được ký hiệu số 7.
• Tóm lại, chúng ta nên:
o Tránh xa các sản phẩm nhựa được đánh số 3, 6, 7.
o Chỉ nên sử dụng sản phẩm nhựa được đánh số 2, 4, 6.
o Chỉ nên sử dụng một lần các sản phẩm nhựa được đánh số 1.
2.3 Vệ sinh bao bì trước khi chiết rót sản phẩm
Việc giữ cho bao bì sạch sẽ trước và trong quá trình chiết rót sẽ đảm bảo được độ
tinh sạch của sản phẩm trong bao bì suốt quá trình chế biến và vận chuyển. Trong đó, việc
vệ sinh bao bì thủy tinh và bao bì kim loại được quan tâm hơn cả.
2.3.1 Vệ sinh chai lọ thủy tinh
2.3.1.1 Nguyên tắc thực hiện
Làm sạch các tạp chất dính bên ngoài bao bì (các hợp chất vô cơ, các VSV vây
nhiễm vào bao bì trong quá trình sản xuất cũng như quá trình thu hồi).
2.3.1.2 Đặc điểm của bao bì thủy tinh trong việc vệ sinh
o Do đặc tính thuỷ tinh là cứng, giòn nên trong quá trình vệ sinh, những va chạm mạnh
không mong muốn sẽ gây ra nứt, vỡ chai.
o Bao bì thuỷ tinh có độ bền nhiệt nhỏ nên trong quá trình rửa chai, cần duy trì nhiệt độ
từ thấp lên cao, rồi từ nhiệt độ cao hạ dần dần xuống, tránh trường hợp nhiệt độ thay
đổi đột ngột làm bao bì vỡ, nứt (chênh lệch nhiệt độ giữa các công đoạn không được
quá 25-30
0
C)
o Không bị ảnh hưởng với môi trường hoá học, cả môi trường kiềm lẫn môi trường axit
tác động của chất tẩy rửa đến bao bì thuỷ tinh trong quá trình vệ sinh rất ít.
o Chai lọ thuỷ tinh tái sử dụng là việc sử dụng lại chai lọ thuỷ tinh đã qua sử dụng. Do
đó chai lọ loại này thường “bẩn” hơn chai mới sản xuất rất nhiều.Vì vậy việc rửa chai

 Ở đây ta dùng dung dịch kiềm NaOH 1,5% rửa ở nhiệt độ cao. Vai trò của NaOH
trong trường hợp này là:
o Dung dịch có tác dụng lên cặn bẩn giúp hoà tan chất bẩn trên bao bì, ví dụ
như dầu mỡ…
o Làm nở cặn khô đến trạng thái mềm, bở
o Sát trùng
 Nhiệt độ làm cho các phản ứng hoá lý xảy ra nhanh hơn, tốc độ thấm ướt nhanh. Chai
lọ được rửa là nhờ cả vào tác dụng hoá học và tác dụng nhiệt của dung dịch tẩy rửa.
6. Lặp lại bước 5 nhưng ở nhiệt độ 80
0
C
7. Chai được rửa bằng nước sạch ở 60
0
C và được dốc ngược để tháo sạch nước trong
chai
8. Chai được rửa sạch trong bể nước 50
0
C và được dốc ngược để tháo nước
9. Sau đó chai được rửa bằng nước sạch ở 30
0
C có nồng độ clorine 2ppm và được
làm ráo hoặc sấy khô.
 Lựa chọn làm ráo hoặc sấy chai:
o Nếu chai thuỷ tinh chưa đựng thực phẩm có qua thanh trùng thì chỉ cần làm ráo chai.
o Với những chai đựng thực phẩm không có giai đoạn thanh trùng sau chiết rót, thì phải
sấy chai ở nhiệt độ 115
0
C trong 15 phút trước khi chiết rót thực phẩm vào chai.
 Lưu ý:
Cần tuân theo sự tăng giảm nhiệt độ như sau: chai được nâng lên nhiệt độ cao có

pháp tiệt trùng khác nhau). Loại này được sát trùng bằng loại hóa chất không gây hư hỏng
lớp thiếc, được sấy khô và đóng bao bì trong điều kiện vô trùng, có hút chân không hoặc
bơm khí trơ.
Khi vệ sinh lon cả 2 loại cần lưu ý nhất ở việc sử dụng hóa chất sát trùng. Vì lon
không tráng vecni rất dễ bị ăn mòn . nhưng điểm khác biệt ở quy trình vệ sinh lon là ở
việc lon có đươc thanh trùng hay tiệt trùng sau khi đựng thực phẩm hay không. Vì vậy,
ta sẽ phân loại vệ sinh lon dựa vào đặc điểm này
o Lon được thanh trùng và tiệt trùng: loại lon này bao gồm lon được làm từ vật liệu thép
tráng thiếc - có tráng vecni va tất cả những lon không tráng vecni.
o Lon không được thanh trùng và tiệt trùng: loại lon này được làm từ vật liệu nhôm - có
tráng vecni.
2.3.2.3 Phương pháp thực hiện
 Lon không được tiệt trùng và thanh trùng
Nhóm 13 Page 15
Công nghệ bao bì và đóng gói thực phẩm GVBM: Đỗ Vĩnh Long
 Lon được thanh trùng và tiệt trùng
 Thuyết minh quy trình
 Lon không được thanh trùng và tiệt trùng sau khi đựng thực phẩm
Loại lon này chủ yếu là lon nhôm có tráng vecni, trải qua 3 chế độ sấy khô và được
đóng thành kiệt bởi màng bọc bằng PVC, tuy nhiên sau khi đựng thực phẩm nó không
qua chế độ thanh trùng hay tiệt trùng, do đó việc vệ sinh tương đối khắc khe hơn.
Loại lon không có tráng vecni bắt buộc phải tiệt trùng trước khi chiết rót sản phẩm,
do đó ta xếp chúng.
Khi nhập lon vào máy, thì máy sẽ tiết hành rửa lon theo đúng quy trình như trên:
Nhóm 13 Page 16
Công nghệ bao bì và đóng gói thực phẩm GVBM: Đỗ Vĩnh Long
Hình 2.12. Quy trình vệ sinh lon
o Lon được phun nước lạnh để thấm ướt và làm sạch bụi sơ bộ trên lon.
o Tiếp theo, lon được rửa với dung dịch kiềm 1,5% để làm sạch bụi bẩn, dầu nhớt và sát
trùng lon. Việc rửa hoá chất này được thực hiện ở nhiệt độ cao để tăng hiệu quá quá

- Với lớp Sn:
Khi đó, thiếc bị hòa tan theo các khe hở nhỏ đi sâu vào đến lớp thép thì xảy ra phản
ứng:
Về mặt cảm quan, có thể gây mùi tanh khó chấp nhận về vệ sinh an toàn thực phẩm.
Hàm lượng Sn cho phép có mặt trong thực phậm là 250 ppm, một số sản phẩm yêu cầu là
150 ppm. Nếu vượt quá giới hạn này thì thực phẩm phải hủy bỏ.
Tuy không gây độc hại với người tiêu dùng nếu không quá cao, nhưng với hàm
lượng 20 ppm thì có thể xuất hiện một vài vệt xám màu ảnh hưởng đến cảm quan thực
phẩm.
b) Bởi môi trường , tạo khí
Với thực phẩm giàu protein như thịt, cá, hoặc loại gia vị như tỏi chứa trong bao bì
thép tráng thiếc, khi tiệt trùng thì những protein có cầu nối di-sulfur sẽ bị biến tính, đứt vỡ
liên kết di-sulfur, có thể tạo thành
Nếu lớp vecni phủ có ZnO: (ZnS có màu trắng, dạng vảy).
Nếu không có ZnO trong lớp vecni thì không tiêu hủy được , nếu có chỗ bị bong tróc
lớp vecni để lộ lớp Sn thì:
- (SnS có màu nâu tím, dạng vảy).
- (FeS có màu đen, dạng vảy).
Sản phẩm tạo ra sau phản ứng: ZnS, SnS, FeS đều gây mất giá trị cảm quan cho sản
phẩm.
Nếu chỗ trầy xước để lộ lớp SnO, hộp thép tráng thiếc cũng có thể bị ăn mòn hóa
học.
2.4.1.2 Sự ăn mòn hóa học bao bì nhôm
Lớp vecni bảo vệ ăn mòn được phủ ngay trong quá trình chế tạo. Do đó, lon nhôm
chỉ bị ăn mòn hóa học khi lớp vecni bị trầy xước, bong tróc:
-
- Hoặc
Nhóm 13 Page 18
Công nghệ bao bì và đóng gói thực phẩm GVBM: Đỗ Vĩnh Long
Môi trường acid ăn mòn tạo ra , nhưng khí sinh ra không tạo áp lực đáng kể so với

có thêm ZnO
Tốt Tốt Các loại rau quả,
làm lớp bảo vệ
ngoài vecni apoxit
phenolic.
Không dùng với
thực phẩm có
hàm lượng acid
cao.
3 Phonolic Rất tốt Khá tốt Thịt, cá, súp, rau
quả, nước giải khát,
bia.
Giá thấp, tính dẻo
và bám dính
không cao.
4 Epoxyl
phenolic
Xấu Tốt Thịt, cá, rau quả,
nước giải khát, làm
lớp phủ bên ngoài
cho một lớp vecni
khác.
Được sử dụng
phổ biến.
5 Epoxyl
phenolic (có
ZnO)
Tốt Tốt Phủ bao bì chứa rau
quả, súp, tráng đáy,
nắp lon cho sản

khát, lon nhôm
Giống vinyl
nhưng dày và
cứng chắc hơn.
9 Acrylic Tốt với
thực
phẩm có
màu
Tốt Thực phẩm có chứa
hoặc sót từ quá
trình xử lý
Cho vẻ sáng đẹp
khi mở hộp
10 Polybutadien
hydrocarbon
Tốt nếu
có Zn
Khá
xấu
Lớp tráng cho hộp
đựng bia, nước giải
khát, nếu có ZnO có
thể làm lớp phủ cho
hộp đựng rau quả.
 Vì vậy, lớp sơn vecni cần có những yêu cầu sau:
· Không được gây mùi lạ cho thực phẩm, không gây biến màu thực phẩm
được chứa đựng.
· Không bị bong tróc khi va chạm cơ học.
· Không bị phá hủy bởi các quá trình đun nóng, thanh trùng.
· Có độ dẻo cao để trải đều khắp bề mặt được phủ. Liều lượng được tráng lên

o In trên mặt ngoài bao bì: bao bì plastic dạng màng được in ấn hàng loạt, sau khi in
xong bao bì được cuộn lại ngay thành cuộn to. Khi đó, mực ở lớp ngoài sẽ dính vào
mặt trong của lớp bao bì kế tiếp cuộn chồng lên, cũng là mặt tiếp xúc với thực phẩm.
Nếu mực in có chứa kim loại nặng, các amin thơm, diphenyl và dung môi hữu cơ…có
thể gây ngộ độc thực phẩm được chứa đựng.
o In mặt trong của bao bì hai lớp, của lớp tiếp xúc thực phẩm của loại bao bì ghép hai
lớp. Do có thể xảy ra trường hợp lớp ngăn cản (lớp trong) bị thấm ướt hoặc thấm chất
béo từ thực phẩm hoặc các chất độc hữu cơ, dung môi hữu cơ còn lại sau quá trình in
thấm xuyên qua lớp ngăn cản nhiễm vào môi trường chứa thực phẩm; trường hợp thực
phẩm khô như bánh, chocolate sẽ dễ hấp thụ các chất bốc hơi này gây mất giá trị cảm
quan và cũng có thể gây độc, ảnh hưởng sức khỏe người tiêu dùng.
Nhóm 13 Page 21
Công nghệ bao bì và đóng gói thực phẩm GVBM: Đỗ Vĩnh Long
Hình 2.13. Một số nhãn bao bì thực phẩm
o Đối với những loại bao bì thực phẩm có thể hâm nóng. Đun trong lò viba thì phải lựa
chọn mực in một cách nghiêm khắc, vì ở nhiệt độ cao các chất độc từ mực in có thể bị
phân hủy thoát ra ngoài và có khả năng khuếch tán dễ dàng qua màng ngăn cách,
nhiễm vào thực phẩm.
o Bao bì giấy bao gói thực phẩm có độ ẩm cao, chất béo cao thì dễ có hiện tượng hòa
tan mực in và các chất phụ gia sử dụng trong công nghiệp giấy vào thực phẩm làm
thực phẩm bị nhiễm độc. Bao bì chất dẻo gồm chất dẻo và các phụ gia hóa dẻo cũng
dễ hòa tan vào thực phẩm gây biến mùi và nhiễm độc hóa học.
Vì vậy, để sản xuất bao bì chất lượng thì màu dùng để in ấn nhãn hàng hóa trang
trí bao bì được yêu cầu phải là: phẩm màu cho phép dùng trong thực phẩm. Áp dụng theo
quyết định số 867/1998/QĐ-BYT ngày 4/4/1998 về:“ Tiêu chuẩn An toàn vệ sinh vật liệu
bao bì” .
Các phẩm màu tổng hợp được phép dùng trong thực phẩm với lượng màu tối đa
cho phép nhiễm vào thực phẩm từ dụng cụ, vật liệu bao bì chứa đựng theo qui định:
“Danh mục các chất phụ gia được phép sử dụng trong thực phẩm” ban hành kèm theo
quyết định số 3742/2001/QĐ-BYT ngày 31/8/2001.

Hòa tan 159,8 mg chì (II) nitrat trong 10ml acid nitric 10% + nước cất định mức
đến đủ 100 ml. Dung dịch chuẩn chì gốc này có nồng độ 1 mg/ml.
o Dung dịch chuẩn chì làm việc:
Lấy chính xác 8ml dung dịch chì chuẩn gốc, thêm dung dịch làm dung dịch ngâm
thôi và định mức đến đủ 100ml. dung dịch chì chuẩn làm việc có nồng độ 0,4 .
 Tiến hành
Xác định chì và cadmi trong dung dịch thử bằng phương pháp quang phổ hấp thụ
nguyên tử hoặc quang phổ phát xạ plasma.
3.2 Bao bì làm bằng nhựa.
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia quy định các yêu cầu kỹ thuật và quản lý về chất
lượng, vệ sinh an toàn đối với bao bì làm bằng nhựa tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm.
 Yêu cầu kỹ thuật
Bảng 3.2. Yêu cầu chung đối với bao bì, dụng cụ nhựa.
 Phương pháp thử
Xác định Chì và Cadmi trong vật liệu nhựa.
Chuẩn bị dung dịch thử
Cân 1 g mẫu cho vào đĩa bay hơi bằng bạch kim, thạch anh hoặc thủy tinh chịu
nhiệt + 2 ml acid sulfuric, gia nhiệt từ từ cho đến khi hết khói trắng bay ra từ acid sulfuric
và phần lớn mẫu đã bị than hóa.
Sau đó, cho đĩa vào nung trong lò điện tại 450 để quá trình than hóa xảy ra hoàn
toàn, lặp lại quá trình thêm acid sulfuric và nung đối với cặn trên đĩa, để nguội. thêm vào
Nhóm 13 Page 24
Công nghệ bao bì và đóng gói thực phẩm GVBM: Đỗ Vĩnh Long
cặn 5ml acid hydrochloric (1-> 2) trộn đều, và cho bay hơi trên bể cách thủy. sau khi làm
nguội, thêm 20 ml acid nitric 0,1 mol/l, hòa tan, lọc và loại bỏ phần không tan, thu phần
dịch lọc làm dung dịch thử.
Chuẩn bị dung dịch chuẩn
 Cadmi
o Dung dịch chuẩn cadmi gốc:
Cân 100 mg cadmi, hòa tan trong 50 ml acid nitric 10%, cô trên bếp cách thủy. sau


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status