Xây dựng hệ thống lí thuyết, bài tập cơ bản và nâng cao về phần “ Cấu tạo nguyên tử và liên kết hóa học - Pdf 28

PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, trước sự nghiệp đổi mới toàn diện của đất
nước, nền giáo dục nước nhà đang đóng vai trò chức năng của một cỗ máy cái
nhằm hoạt động “ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực , bồi dưỡng nhân tài ” để
hoàn thành tốt công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, đưa nước
ta tiến kịp và hội nhập với các nước trong khu vực nói riêng và toàn cầu nói
chung.
Kết quả đó bước đầu được khẳng định bởi số lượng học sinh đạt giải
quốc gia và quốc tế ở nước ta ngày càng tăng nhanh. Đặc biệt kết quả tham dự
các kì thi Olympic Hóa học quốc tế của đội tuyển học sinh giỏi nước ta trong
nhiều năm gần đây đã ghi nhận nhiều thành tÝch tự hào và khích lệ.
Olympiad 35
th
-2003 tại Hy Lạp đạt một huy chương vàng và ba huy chương
đồng, Olympiad 36
th
-2004 tại CHLB Đức đạt ba huy chương bạc và một huy
chương đồng, Olympiad 37
th
- 2005 tại Đài Loan đạt ba huy chương vàng và
một huy chương bạc.
Từ thực tế đó đặt ra cho nghành giáo dục và đào tạo không những có
nhiệm vụ đào tạo toàn diện cho thế hệ trẻ mà phải có chức năng phát hiện, bồi
dưỡng tri thức năng khiếu cho học sinh nhằm đào tạo các em trở thành những
nhà khoa học mòi nhọn trong từng lĩnh vực. Đây chính là nhiệm vụ cấp thiết
trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi và tuyển chọn các em có năng khiếu thực
sự của từng bộ môn và các líp chuyên ở trung tâm giáo dục chất lượng cao.
Xuất phát từ thực trạng dạy và học ở các líp chuyên Hóa học còng nh
việc bồi dưỡng học sinh giỏi Hóa học còn đang gặp một số khó khăn phổ
biến:

ở bậc THPT.
5. Thực nghiệm sư phạm: Nhằm kiểm tra và đánh giá hiệu quả hệ thống
lí thuyết, bài tập đã xây dựng.
IV. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
2
Nếu có một hệ thống lí thuyết, bài tập cơ bản, kết hợp với phương pháp
bồi dưỡng đúng hướng của giáo viên, chắc chắn sẽ thu được kết quả cao trong
việc bồi dưỡng học sinh giỏi và học sinh chuyên hóa học.
V. PHƯƠNG PHÁP NGIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều
phương pháp:
1. Nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu lý luận về mục đích, yêu cầu, biện pháp phát hiện và bồi
dưỡng học sinh giỏi Hóa học.
- Nghiên cứu lý luận về việc xây dựng hệ thống các câu hỏi và bài tập
phần “ Cấu tạo nguyên tử và liên kết hóa học ” dùa trên quan điểm lí luận về
quá trình nhận thức.
- Tìm hiểu tài liệu có liên quan đến luận văn: Sách, báo, tạp chí, nội
dung chương trình, tài liệu giáo khoa chuyên Hóa học, các đề thi Hóa học
trong nước và quốc tế nhằm đề ra giả thuyết khoa học và nội dung của luận
văn.
2. Nghiên cứu thực tiễn
- Tìm hiểu thực tiễn giảng dạy và bồi dưỡng học sinh khá, giỏi ở các líp
chuyên, chọn Hóa học nhằm phát hiện vấn đề nghiên cứu.
- Trao đổi kinh nghiệm với các giáo viên có nhiều kinh nghiệm trong
bồi dưỡng học sinh khá, giỏi, …
3. Thực nghiệm sư phạm: Nhằm đánh giá hệ thống lí thuyết, bài tập do
chúng tôi sưu tầm, biên soạn khi áp dụng vào thực tế giảng dạy, bồi dưỡng
học sinh giỏi để dự thi học sinh giỏi cấp Tỉnh và cấp Quốc gia.
VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

b. Có năng lực tư duy sáng tạo, suy luận logic. Biết phân tích, tổng hợp,
so sánh, khái quát hoá vấn đề, có khả năng sử dụng linh hoạt phương pháp tư
duy: quy nạp, diễn dịch, loại suy…
4
c. Có kỹ năng thực nghiệm tốt, có năng lực về phương pháp nghiên cứu
khoa học hoá học. Biết nêu ra những lý luận cho những hiện tượng xảy ra
trong thực tế, biết cách dùng thực nghiệm để kiểm chứng lại những lý luận
trên và biết cách dùng lý thuyết để giải thích những hiện tượng đã được kiểm
chứng.
I.1.3. Mét số biện pháp phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi Hoá học [14]
a. Một số biện pháp phát hiện học sinh có năng lực trở thành học sinh
giỏi Hoá học.
a.1. Làm rõ mức độ đầy đủ, chính xác của kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo
theo tiêu chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình và sách giáo khoa. Muốn
vậy phải kiểm tra học sinh ở nhiều phần của chương trình, về kiến thức lý
thuyết, bài tập và thực hành. Có thể thay đổi một vài phần trong chương trình
nhằm mục đích đo khả năng tiếp thu của mỗi học sinh trong líp và giảng dạy
lý thuyết là một quá trình trang bị cho học sinh vốn kiến thức tối thiểu trên cơ
sở đó mới phát hiện được năng lực sẵn có của một vài học sinh thông qua các
câu hỏi củng cố.
a.2. Làm rõ trình độ nhận thức và mức độ tư duy của từng học sinh
bằng nhiều biện pháp và nhiều tình huống về lý thuyết và thực nghiệm để đo
mức độ tư duy của từng học sinh. Đặc biệt đánh giá khả năng vận dụng kiến
thức một cách linh hoạt, sáng tạo.
a.3. Soạn thảo và lùa chọn một số dạng bài tập đáp ứng hai yêu cầu trên
đây để phát hiện học sinh có năng lực trở thành học sinh giỏi Hoá học.
b. Một số biện pháp cơ bản trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi Hoá học.
b.1. Hình thành cho học sinh một kiến thức cơ bản, vững vàng, sâu sắc.
Đó là lý thuyết chủ đạo, là các định luật cơ bản, là các quy luật cơ bản của bộ
môn. Hệ thống kiến thức phải phù hợp với logic khoa học, logic nhận thức

bài tập. Có cơ sở lý thuyết vững vàng trong giảng dạy và học tập, ngay cả ở
bậc phổ thông là kết quả tất yếu của sự phát triển nội tại của khoa học hoá học
trong suốt chiều dài hình thành và phát triển của nã.
I.2.3. Gắn liền với các vấn đề công nghệ, môi trường, kinh tế xã hội, phòng
chống AIDS.
6
Đặc điểm này thể hiện ở chỗ nội dung, phương pháp nghiên cứu hoá
học phải bắt nguồn từ thực tế. Việc thí nghiệm ở mức vi lượng vừa tiết kiệm
vừa tránh ô nhiễm môi trường. Các vấn đề toàn cầu nh lỗ thủng tầng ozon,
mưa axit, điều chế và sử dụng dược phẩm… đều có mặt trong bài tập còng
nh các đề thi. Đặc điểm này xuất phát từ bản chất của khoa học hoá học.
I.2.4. Sù vi tính hoá
Đặc điểm này thể hiện phần nào trong các nội dung bài giảng, bài tập,
đề thi và phần nào đó trong phương pháp, cách thức làm bài dưới dạng câu
hái
trắc nghiệm khách quan.
I.2.5. Phương pháp khoa học
Đặc điểm này thể hiện ở nhiều khía cạnh, nhiều mức độ thông qua nội
dung để dạy phương pháp học tập, phương pháp nghiên cứu mà cốt lõi là tự
lực cá nhân vươn lên đóng góp ở mức nhiều nhất cho xã hôị, cho đất nước.
Đối với học sinh Việt Nam có một ưu điểm đáng được chú ý là sức bật, ý chí
vươn lên, khả năng kiên nhẫn khéo léo, bứt phá trong giai đoạn về đích.
I.3. Bài tập hoá học
I.3.1. Vai trò, mục đích của bài tập hoá học [4]
Bài tập hoá học vừa là mục tiêu, vừa là mục đích, vừa là nội dung vừa
là phương pháp dạy học hữu hiệu do vậy cần được quan tâm, chú trọng trong
các bài học. Nó cung cấp cho học sinh không những kiến thức, niềm say mê
bộ môn mà còn giúp học sinh con đường giành lấy kiến thức, bước đệm cho
quá trình nghiên cứu khoa học, hình thành phát triển có hiệu quả trong hoạt
động nhận thức của học sinh.

việc bồi dưỡng học sinh giỏi Hoá học nói riêng [15]
a) Bài tập hoá học có những tác dụng sau:
- Làm chính xác các khái niệm và định luật đã học
- Giúp học sinh năng động, sáng tạo trong học tập, phát huy khả năng
suy luận, tích cực của học sinh.
- Ôn tập, củng cố và hệ thống hoá kiến thức.
- - Kiểm tra kiến thức, rèn luyện kỹ năng cơ bản của học sinh.
- - RÌn luyện và phát triển tư duy cho học sinh.
b) Ngoài các tác dụng chung trên, trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi
Hóa học, bài tập hóa học còn có những tác dụng sau :
- - Là phương tiện để ôn luyện, kiểm tra, đánh giá nắm bắt kiến thức một
cách chủ động, sáng tạo.
- Là con đường nối liền giữa kiến thức thực tế và lý thuyết tạo ra một
thể hoàn chỉnh và thống nhất biện chứng trong cả quá trình nghiên cứu.
- Phát triển năng lực nhận thức, tăng trí thông minh, là phương tiện để
học sinh tiến tới đỉnh vinh quang, đỉnh cao của tri thức.
II. Cơ sở thực tiễn.
Phân tích nội dung kiến thức hoá học thường được đề cập trong kỳ thi
học sinh giái quốc gia dùa trên chương trình chuyên hoá phổ thông [25] bao
gồm :
II.1. Lý thuyết đại cương :
- Cấu tạo nguyên tử, liên kết hoá học. Sự lai hoá các obitan
- Lý thuyết điện ly. Dung dịch, tính tan của các chất, các loại công thức tính
nồng độ. Các phản ứng axít - bazơ, các loại chỉ thị của phennolphtalein, quỳ
tím.
- Tích sè tan, các hằng số cân bằng axít - bazơ. Tính pH , K
a
, K
b
.

- Thuyết cấu tạo hoá học, định luật Raum, tỉ khối.
Trong chương này chúng tôi đã tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn của
đề tài bao gồm :
1. Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn bồi dưỡng học sinh giỏi Hoá học
ở bậc THPT cụ thể là : tính cấp thiết của vấn đề, năng lực và phẩm chất của
10
một học sinh giỏi Hoá học, một số biện pháp phát hiện và bồi dưỡng học sinh
giỏi Hoá học, các nội dung kiến thức hóa học thường được đề cập đến trong
kì thi học sinh giỏi quốc gia.
2. Nghiên cứu đặc trưng cơ bản của dạy học hoá học hiện nay ở các bậc
học nói chung và bậc phổ thông nói riêng.
3. Nghiên cứu vai trò, mục đích, cách phân loại và tác dụng của bài tập
hoá học đối với việc dạy học nói chung và trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi
Hoá học nói riêng.
TÊt cả các vấn đề trên là cơ sở giúp chúng tôi đề ra nhiệm vụ và
phương pháp tiến hành để thực hiện các nhiệm vụ của đề tài.
11
CHƯƠNG II. HỆ THỐNG LÍ THUYẾT CẤU TẠO NGUYÊN TỬ
VÀ LIÊN KẾT HÓA HỌC DÙNG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI VÀ HỌC
SINH CHUYÊN HÓA HỌC.
A. CẤU TẠO NGUYÊN TỬ.
I. THÀNH PHẦN CẤU TẠO CỦA NGUYÊN TỬ, KÍCH THƯỚC, KHỐI
LƯỢNG NGUYÊN TỬ
I.1. Thành phần cấu tạo nguyên tử.
Nguyên tử gồm hạt nhân mang điện tích dương và líp vỏ nguyên tử
mang điện tích âm.
• Hạt nhân: Gồm các hạt proton (p) mang điện dương và nơtron (n)
không mang điện.
q
p

I.2. Kích thước, khối lượng của nguyên tử.
• Nguyên tử được xem nh mét khối cầu có đường kính d=10
-10
m = 1
• Hạt nhân nguyên tử cũng được xem như là một khối cầu có đường kính
d = 10
-4
nghĩa là bé hơn đường kính nguyên tử 10.000 lần. Đường kính của
proton và electron còn nhỏ hơn nhiều: khoảng 10
-7
. Từ đó ta thấy rằng giữa
electron và hạt nhân có một khoảng trống, nghĩa là nguyên tử có cấu tạo rỗng
• Khối lượng nguyên tử: m
nt
= m
p
+ m
n
+ m
e
Vì khối lượng m
e
<< m
p
, m
n
→ m
nt
= m
p

Ví dô: cho biết nguyên tử Cl có 17p, 18n, 17e và Z = 17+, khối lượng
nguyên tử của clo là 35 đv.C, nằm ở ô thứ 17 trong bảng hệ thống tuần hoàn.
II.3. Đồng vị
II.3.1. Định nghĩa: Đồng vị Là những nguyên tử của cùng một nguyên tố
hóa học, nghĩa là có cùng số proton nhưng số khối khác nhau ( Z giống nhau,
A khác nhau dẫn đến N khác nhau).
Ví dô: Cl có hai đồng vị là và , cả hai đồng vị đều có 17 proton trong
hạt nhân ( và 17 electron trong líp vỏ) nhưng số nơtron lại là 18 và 20.
13
II.3.2. Thang khối lượng nguyên tử tương đối, khối lượng nguyên tử trung
bình của các nguyên tố hóa học [31].
a) Thang khối lượng nguyên tử tương đối: Trước đây, các nhà hóa học không
có phương tiện thực nghiệm để đo khối lượng của mỗi loại nguyên tử nên đã
thiết lập thang khối lượng nguyên tử tương đối (các nhà hóa học quen gọi
nguyên tử lượng và ngày nay vẫn còn được chấp nhận) như: đơn vị H, đơn vị
oxi, đơn vị cacbon (đv.C).
Năm 1962 tổ chức I.U.P.A.C (International Union of Pure and Applied
Chemistry) quyết định thay thang oxi bằng thang cacbon và quy định: Một
đơn vị khối lượng nguyên tử bằng 1/12 khối lượng của một nguyên tử cacbon-
12.
1đv.C = M
C-12
= . = 1,6606.10
-24
g = 1 amu = 1u
Theo thang trên thì m
p
= 1,007276 đv.C ; m
n
= 1,008665 đv.C

= A
1
.x
1
+ A
2
.x
2
+ + A
i
.x
i
Trong đó: A
1
, A
2
, …, A
i
là số khối của đồng vị thứ 1,2, … i.
14
x
1
, x
2
, …, x
i
là % sè lượng đồng vị thứ 1, 2, … i (hoặc là số nguyên tử
của đồng vị thứ i), lấy theo thập phân (x
1
+ x

= 9,108.10
-28
g = 9,108.10
-31
kg; khối lượng hạt proton m
p
=
1836,12m
0
Khối lượng hạt nhân nhỏ hơn khối lượng nguyên tử tương ứng một
lượng là Zm
0
, khối lượng là một đặc trưng cơ bản của hạt nhân.
III.1.3. Bán kính và tỉ trọng hạt nhân
Từ những kết quả thực nghiệm, người ta thấy rằng thể tích của hạt nhân
xấp xỉ tỉ lệ với số cấu tử và do đó bán kính của hạt nhân cũng xấp xỉ tỉ lệ với
căn số bậc ba của số khối: R ≈ k.A
1/3
với hệ số tỉ lệ k ≈ 1,5.10
-13
cm
Đối với hạt nhân của nguyên tử hiđro (A=1) thì R = k ≈ 1,5.10
-13
cm
Đối với hạt nhân nguyên tử
238
U thì: R ≈ 1,5.10
-13
(238)
1/3

∆E = ∆m. c
2
(∆m : độ hụt khối lượng ;
c: tốc độ ánh sáng trong chân không, c = 2,9979.10
8
m/s).
Hạt nhân có Z proton và N nơtron thì khối lượng hạt nhân đó bằng
Zm
p
+ Nm
n
. Khối lượng của hạt nhân đo được là
Z
m
A
hn
.
16
Ta luôn có Zm
p
+ Zm
n
>
Z
m
A
hn
và ∆m = (Zm
p
+ Zm

.10
-24
g.( )= 0,032354.10
-11
J ≈3,235.10
-13
J
(Lưu ý: 1eV = 1,602.10
-19
J; 1MeV =10
6
eV; 1GeV= 10
9
eV; 1MeV=1,602.10
-
6
Ðc)
Người ta còn biểu thị năng lượng liên kết qui về cho mét nucleon. Ta có:
Áp dụng: Với đơtêri có
III.3. Mét số đặc trưng của tính phóng xạ
III.3.1. Tính phóng xạ tự nhiên
Tính phóng xạ tự nhiên là khả năng của các chất chứa các nguyên tố
xác định không cần tác động bên ngoài, tự phát ra bức xạ không nhìn thấy với
thành phần phức tạp. Hiện tượng này được nhà bác học Pháp là Henri
Beckơren phát hiện ra năm 1896. Mari Xkôđôvxka Quiri tiến hành nghiên
cứu có hệ thống cơ sở của tính phóng xạ.
III.3.2. Thành phần của tia phóng xạ
Bức xạ do các tia phóng xạ phát ra có thành phần phức tạp. Các kết quả
nghiên cứu khẳng định bức xạ đó gồm:
- Các hạt tích điện dương (+), gọi là hạt α hay tia α; thực chất đó là hạt nhân

phóng xạ (hay sự phân rã) dịch chuyển hai ô về bên trái nguyên tố mẹ trong
bảng hệ thống tuần hoàn. Có thể diễn tả quá trình đó như sau:
Z
X
A

Z-2
Y
A-4
+
2
He
4
(hạt α)
Ví dô:
88
Ra
226

86
Rn
222
+
2
He
4
• Trong sự phóng xạ phát ra tia
β
thì nguyên tố mẹ không bị thay đổi số
khối nhưng số đơn vị điện tích dương hạt nhân tăng thêm 1. Vậy nguyên tố

)
• Trong sự phân rã phát ra tia γ không kèm theo sự biến đổi nguyên tố
mẹ về mặt hóa học nhưng có sự thay đổi trạng thái năng lượng hạt nhân.
Các nội dung của định luật chuyển rời thực chất bắt nguồn từ Định luật
bảo toàn số khối và bảo toàn điện tích.
III.3.4. Các họ phóng xạ
Trong sự phân rã nguyên tố mẹ, nguyên tố mới được tạo thành lại có
tính phóng xạ; đến lượt nó nguyên tố sản phẩm của sự phân rã lại có tính
phóng xạ …nh vậy ta có một dãy các nguyên tố phóng xạ kế tiếp nhau. Người
ta nói có một họ phóng xạ. Nguyên tố mẹ đầu tiên còn được gọi là nguyên tố
gốc của họ phóng xạ.
Cho đến nay đã biết có ba họ phóng xạ tự nhiên và một dãy phóng xạ
nhân tạo.
a) Họ Uran:
92
U
238
là nguyên tố gốc của họ này, số khối của họ này A= 4n + 2
với n nguyên và 51 ≤ n ≤ 59. Trong họ này có
88
Ra
226
,
86
Rn
222
,
84
Po
208

Np
237
là nguyên tố gốc, số khối của họ này A = 4n + 1. Cuối
cùng của họ này là đồng vị bền của Bitmut
83
Bi
209
. Họ này thu được bằng
phương pháp nhân tạo.
19
Ngoài các họ trên, còn có các nguyên tố phóng xạ riêng lẻ nh:
19
K
40
,
37
Rb
87
,
62
Sm
152
(Samari),
71
Lu
176
(Lutexi) ,
75
Re
187

b) Chu kì bán hủy: Là thời gian chất có ban đầu (a hay N
0
) mất đi một nửa
(a/2 hoặc N
0
/2), được gọi là thời gian bán hủy hay chu kì bán hủy. (trong
phóng xạ hạt nhân thường gọi là thời gian bán rã hay chu kì bán rã). Nó đặc
trưng qua trọng cho từng nguyên tố phóng xạ.
Kí hiệu t
1/2
hay (đọc là tau).
Thay N = N
0
/2 vào (4) ta được (6)
c) Xác định niên đại dùa vào hóa học phóng xạ
• Xác định niên đại các vật cổ, hóa thạch…: Như trên đã xét, họ Uran là
họ phóng xạ tự nhiên. Cuối cùng trong họ đó là đồng vị bền của chì
82
Pb
206
.
Nếu tại thời điểm nghiên cứu, bằng phương pháp khối phổ chẳng hạn, ta thu
20
được U
238
và Pb
206
trong một mẫu đá. Từ số liệu này ta tìm được thời gian cần
để tạo ra lượng Pb
206

Vì rằng
14
C được tạo thành ở thượng tầng khí quyển với một tốc độ
hằng định và nó lại bị phân hủy cũng với một tốc độ hằng định khác, nên
trong khí quyển có một lượng nhỏ nhưng hằng định
14
CO
2
. Thực vật dùng một
lượng
14
CO
2
trong phản ứng quang hợp. Vì vậy cũng có một lượng nhỏ nhưng
hằng định
14
C trong cơ thể động, thực vật sống. Khi một động vật hay thực vật
chết lượng
14
C này dần thoát ra ngoài làm cho lượng
14
C này giảm đều đặn
theo thời gian. Vậy từ lượng
14
C còn lại trong xác chết ta có thể xác định được
khoảng thời gian kể từ lúc sinh vật này chết, tức là xác định được khoảng thời
gian hình thành di vật.
Người ta xác định được rằng: Trong khí quyển, trong mỗi cơ thể động,
thực vật đang sống cứ 1 giây trong 1gam cacbon có 15,3 phân hủy
14

Trên đường đi, nếu gặp các vật chắn sẽ gây ra các biến đổi trong vật chắn đó.
Tác động của bức xạ càng lớn nếu số phân rã xảy ra trong một đơn vị thời
gian càng lớn. Độ phóng xạ A của một mẫu phóng xạ là đại lượng bằng số các
phân rã trong một đơn vị thời gian. Vậy A = = k.N (9) ( k: hằng số phóng
xạ, N: Số hạt nhân phóng xạ) Thực chất đây là tốc độ phân rã của mẫu phóng
xạ đó.
b) Đơn vị: Độ phóng xạ đo bằng đơn vị quyri. 1 quyri là số phân rã do 1 gam
rađi rạo ra. Vì trong 1 gam rađi trong một giây có 3,7.10
10
phân rã. Nên có
thể nói 1 quyri ứng với 3,7.10
10
phân rã trong một giây.
Ta viết: quyri = 3,7.10
10
phân rã/giây ; Các đơn vị khác: 1mquyri
(miliQuyri) = 10
-3
quyri ; 1µquyri(microQuyri) = 10
-6
quyri.
III.3.7. Tính phóng xạ nhân tạo
22
Năm 1934 lần đầu tiên các nhà bác học Pháp là Iren và Fređric Giôliô
Quyri phát hiện ra hiện tượng này. Ban đầu dùng hạt α làm đạn:
5
B
10
+
2

30
+
0
n
1

12
Mg
24
+
2
He
4
→ [
14
Si
28
] →
14
Si
27
+
0
n
1
Sau đó có quá trình phóng xạ thứ cấp là sự phóng xạ của các nguyên tố
được tạo thành:
7
N
13

Chẳng hạn:
27
Co
59
+
0
n
1

27
Co
60
27
Co
60

28
Ni
60
+ β
-
, hν ≈ 1,25MeV
Bức xạ γ này được dùng để chữa ung thư, chụp ảnh, v.v…
III.4. Phản ứng hạt nhân
III.4.1. Khái niệm
Sự tương tác của hai hay nhiều hạt dẫn đến tạo thành nguyên tố mới (và
có thể thêm các phần khác) được gọi là phản ứng hạt nhân.
Phản ứng hạt nhân đầu tiên do Rơzơfo phát hiện vào năm 1919. Hiện
nay đã biết khoảng 1000 phản ứng hạt nhân.
III.4.2. Kí hiệu

7
N
14
(α, p) O
17
). Đôi khi người ta còn viết gọn hơn, chỉ gồm đạn và hạt
tạo thành
Các nguồn hạt cho phản ứng hạt nhân lấy từ:
23
- Máy gia tốc
- Chất phóng xạ (tự nhiên, nhân tạo)
- Các lò phản ứng

Trong phản ứng hạt nhân có định luật bảo toàn: Năng lượng, khối
lượng, xung lượng, điện tích, số khối.
III.5. Sù phân hạch hạt nhân
III.5.1. Khái niệm
Lần đầu tiên vào năm 1938 Quiri và Savit phát hiện ra hiện tượng này
từ thực nghiệm. Đó là hiện tượng khi bắn một hạt nào đó, chẳng hạn hạt α,
hạt nhân làm bia vị vỡ ra thành các mảnh.
III.5.2. Phản ứng phân hạch dây chuyền
Trong một quá trình phân hạch hạt nhân, chẳng hạn với U
235
, tính trung
bình với mỗi hạt nhân này, khi bắn vào một nơtron thì khi phân hạch có tới 2
đến 3 nơtron mới phát ra có năng lượng đủ lớn. Đến lượt chúng các nơtron
này lại làm phân hạch hạt nhân khác.
Vậy, trong những điều kiện xác định phản ứng phân hạch U
235
có thể tự

8
Kenvin. Song do hiệu ứng đường hầm, thực
tế nhiệt độ có thể thấp hơn.
III.6.2. Mét số ví dụ
Người ta thường đề cập đến các phản ứng sau đây:
a)
1
H
1
+
1
T
3

2
He
4
; ∆H = -19,8 MeV
b)
1
D
2
+
1
T
3

2
He
4

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status