MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN 3
1.1. Định nghĩa và các đặc trưng của chất thải rắn y tế 3
1.1.1. Định nghĩa chất thải y tế 3
1.1.2. Nguồn phát sinh và phân loại chất thải rắn y tế 3
1.1.3. Tác hại của chất thải rắn y tế nguy hại 5
1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 6
1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước 8
1.4. Công nghệ khử trùng hơi nước bão hòa kết hợp vi sóng 11
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1. Đối tượng nghiên cứu 16
2.2. Phương pháp nghiên cứu 17
2.2.1. Phương pháp thu thập và phân tích số liệu 17
2.2.2. Phương pháp khảo sát thực địa kết hợp với phỏng vấn 17
2.2.3. Phương pháp định tính 17
2.2.4. Đánh quá hiệu quả xử lý lò hấp bằng test BI theo GEF (Golbal health care
waster Project ) 19
2.2.5. Phương pháp phân tích đánh giá công nghệ 20
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
3.1. Hiện trạng quản lý chất thải y tế tại bệnh viện Lao phổi Trung ương 22
3.1.1. Tổ chức quản lý chất thải y tế 22
3.1.2. Năng lực của nhân viên y tế đối với việc quản lý chất thải y tế 23
3.1.3. Thực trạng phát sinh, thu gom và phân loại CTRYT tại bệnh viện 27
3.2.1. Hiện trạng hệ thống xử lý chất thải rắn y tế của bệnh viện 32
3.2.2. Công nghệ khử khuẩn chất rắn lây nhiễm bằng công nghệ hơi nước bão hòa kết
hợp vi sóng 32
3.3. Đánh giá hiệu quả khử trùng bằng công nghệ hơi nước bão hòa kết hợp vi
sóng 36 KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
BVĐK : Bệnh viện đa khoa
BHLĐ : Bảo hộ lao động
CTMTĐT : Công ty môi trường đô thị
CTRNH : Chất thải rắn nguy hại
CTRYT : Chất thải rắn y tế
CTLN : Chất thải lây nhiễm
CTYT : Chất thải y tế
CTYTLN : Chất thải y tế lây nhiễm
GB : Giường bệnh
PCB : Polyclobiphenyl
PVC : Polyvinylclorua
PE : Polyetylen
NVYT : Nhân viên y tế
PP : Polypropylen
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
VNĐ : Việt Nam Đồng
VSV : Vi sinh vật
WHO : Tổ chức Y tế thế giới
DANH MỤC HÌNH
Hình 1. Sơ đồ phân bố áp suất của thiết bị khử trùng 14
Hình 2. Sơ đồ thiết bị khử trùng CTRYTLN bằng công nghệ hơi nước bão hòa kết
hợp vi sóng 16
Hình 3. Mô tả các vị trí kiểm tra trong lò 20
Hình 4. Sơ đồ hệ thống quản lý chất thải y tế bệnh viện 23
Hình 5. Hiện trạng CTRYT được thu gom và phân loại tại các khoa phòng 33
Hình 6. Quy trình thu gom phân loại và xử lý CTRYTLN tại bệnh viện 34
Hình 7.Thiết bị khử trùng CTRYTLN bằng công nghệ hơi nước bão hòa kết hợp vi
sóng 34
MỞ ĐẦU
Chất thải rắn y tế thường chứa nhiều thành phần nguy hại như mầm bệnh dễ
lây nhiễm, các hoá chất độc hại và các vật sắc nhọn nguy hại. Việc xử lý chất thải
bệnh viện nói chung và chất thải rắn y tế nguy hại nói riêng đã là một vấn đề cấp bách
cần phải quản lý và xử lý an toàn không chỉ tại Việt Nam mà cả thế giới.
Theo báo cáo của Bộ y tế, tính đến tháng 10 năm 2007, cả nước có 1.087 bệnh
viện bao gồm 1.023 bệnh viện nhà nước, 64 bệnh viện tư nhân với tổng số hơn
140.000 giường bệnh. Ngoài ra còn có hơn 10.000 trạm y tế xã, hơn chục ngàn cơ sở
phòng khám tư nhân. Theo ước tính, trung bình mỗi giường bệnh một ngày phát sinh
từ 2,0 đến 2,5 kg chất thải trong đó khoảng từ 10- 25% chất thải nguy hại. Như vậy,
với khoảng trên 140.000 giường bệnh đang hoạt động hết công suất, mỗi ngày có
khoảng 280-350 tấn chất thải phát sinh từ các bệnh viện. Theo ước tính của các
chuyên gia, đến năm 2010 tổng lượng chất thải rắn phát sinh sẽ là 450 tấn/ngày, trong
đó có khoảng 60 - 70 tấn/ngày là chất thải rắn nguy hại phải xử lý. Tỷ lệ gia tăng chất
thải rắn y tế phụ thuộc vào số giường bệnh, tình hình thực hiện các kỹ thuật y tế và
dụng công nghệ khử trùng chất thải rắn y tế lây nhiễm bằng công nghệ hơi nước bão
hòa kết hợp vi sóng. Để có số liệu khoa học xem xét đến hiệu quả cũng như những
ưu điểm của công nghệ này với việc khử trùng, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài
"Nghiên cứu hiệu quả khử trùng chất thải rắn y tế lây nhiễm bằng công nghệ hơi
nước bão hòa kết hợp vi sóng". Địa điểm nghiên cứu được chọn tại bệnh viện Lao
phổi Trung ương với nội dung chủ yếu gồm:
1. Đánh giá thực trạng nhận thức và quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện
Lao phổi Trung ương.
2. Đánh giá hiệu quả khử trùng của công nghệ hơi nước bão hòa kết hợp vi
sóng đối với chất thải rắn y tế lây nhiễm.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Định nghĩa và các đặc trưng của chất thải rắn y tế
1.1.1. Định nghĩa chất thải y tế
Chất thải y tế là chất thải từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét
nghiệm, nghiên cứu, đào tạo về khám chữa bệnh CTYT lây nhiễm là chất thải có
các thành phần như: máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận, cơ quan, bơm kim
tiêm, vật sắc nhọn, dược phẩm, hóa chất, chất phóng xạ thường ở dạng rắn, lỏng,
khí. CTYTLN được xếp là chất thải nguy hại, cần có phương thức lưu giữ, xử lý, thải
bỏ đặc biệt, có quy định riêng; gây nguy hại sức khỏe, an toàn môi trường hay gây
cảm giác thiếu thẩm mỹ [2].
1.1.2. Nguồn phát sinh và phân loại chất thải rắn y tế
Căn cứ vào đặc điểm lý học, hoá học, sinh học và tính chất nguy hại, CTRYT
được phân thành 5 nhóm sau[2] :
1. Chất thải lây nhiễm:
a) Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc
thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền,
lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thuỷ tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác
Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hoá học
nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
a) Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách
ly).
b) Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thuỷ
tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín. Những
chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hoá học nguy hại.
c) Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu
đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim.
d) Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh.
Các chất thải được thu gom vào các thùng và túi theo màu quy định tại Quyết
định số 43/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế.
- Màu vàng đựng chất thải lây nhiễm.
- Màu đen đựng chất thải hoá học nguy hại và chất thải phóng xạ.
- Màu xanh đựng chất thải thông thường và các bình áp suất nhỏ.
- Màu trắng đựng chất thải tái chế.
Theo kết quả điều tra của Bộ Y tế năm 1998 - 1999 thành phần CTYT ở một
số bệnh viện Việt Nam gồm:
+ Chất thải rắn y tế: Giấy các loại, kim loại, vỏ hộp; thuỷ tinh, ống tiêm, chai
lọ thuốc, bơm kim tiêm nhựa, bông băng, bột bó gãy xương; chai, túi nhựa các loại,
bệnh phẩm, rác hữu cơ, đất đá và các vật rắn khác.
+ Chất thải lỏng bệnh viện: nước thải từ khoa Xét nghiệm, X quang, khoa lâm
sàng, cận lâm sàng, bộ phận phục vụ trong bệnh viện và nước mưa.
- Chất thải khí: khí thải từ các công trình, thiết bị xử lý, tiêu huỷ CTYT
1.1.3. Tác hại của chất thải rắn y tế nguy hại
Trong chất thải y tế nguy hại có khả năng chứa đựng tất cả các loại vi sinh vật
như: vi khuẩn, vi rút, nấm, ký sinh trùng, tụ cầu vàng. Đặc biệt là những VSV có sức
đề kháng cao với môi trường như vi khuẩn đường ruột, vi khuẩn nhiễm trùng bệnh
viện, các loại virut đường ruột, virut viêm gan, HIV [3].
Việc tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn
1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Đã có nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới về quản lý và xử lý chất thải
y tế. Theo nghiên cứu của Awad, A.R., M. Obeidat, and M. Al-Shareef tại thành phố
Irbid, Jordan tại 3 bệnh viện đã sử dụng mô hình thống kê toán học để tính ra lượng
chất thải rắn phát sinh tại 3 bệnh viện. Lượng chất thải phát sinh được tính bằng
kg/bệnh nhân/ngày/giường bệnh cho các khoa như khoa phẫu thuật, khoa nội, khoa
sản [26].
Nghiên cứu tại Mỹ cho thấy mỗi ngày các bệnh viện thải ra 6600 tấn chất thải
và xấp xỉ 85% chất thải là lượng chất thải rắn không độc hại như thức ăn, bìa cứng
và chất dẻo. Việc xử lý các chất thải này có thể dẫn tới các vấn đề về môi trường đối
với cộng đồng. Do vậy, để giảm lượng chất thải xử lý cần có chương trình giảm thiểu
lượng chất thải ở các bệnh viện [39].
Xu hướng của thế giới hiện nay là tăng cường các biện pháp nhằm giảm thiểu
lượng chất thải y tế nguy hại thông qua thực hành phân loại tốt và nâng cao tỷ lệ tái
sử dụng, tái chế chất thải y tế, xử lý chất thải y tế theo hướng thân thiện hơn. Tổ chức
Y tế thế giới đã ban hành chính sách quản lý an toàn chất thải y tế, theo đó việc xử lý
an toàn để tái sử dụng, tái chế chất thải y tế rất được khuyến khích [43].
Theo các chuyên gia của ngành y tế, hiện nay trên thế giới đang loại bỏ công
nghệ đốt chất thải rắn y tế, bởi khó kiểm soát khí thải độc hại phát sinh [8].
Khối lượng CTYT phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa và phụ
thuộc vào các yếu tố khách quan như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại, quy mô bệnh
viện, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, chữa bệnh và
chăm sóc bệnh nhân và thải rác của bệnh nhân ở các khoa phòng [20].
Nghiên cứu thực hiện 51 cơ sở y tế ở Alexandria cho thấy 31,4% có lò đốt rác
thải y tế, song hầu hết các lò đốt rác các chất được đốt cháy không hoàn toàn [38].
Đối với chất thải y tế có thể dùng tái chế người ta thường áp dụng các công
nghệ không đốt như: Khử khuẩn bằng hoá chất, xử lý bằng nhiệt ướt, lò vi sóng. Công
nghệ xử lý bằng hoá chất có hiệu quả xử lý cao nếu thực hiện theo đúng các điều kiện
vận hành, không tốn kém về kinh tế nhưng không hiệu quả đối với chất thải hoá học
nguy hại và một số loại chất thải lây nhiễm đặc biệt [42]. Công nghệ xử lý nhiệt ướt
Kết quả thanh tra, kiểm tra của Bộ Y tế (2004) về CTYT ở 175 bệnh viện tại
14 tỉnh, thành phố cho thấy số bệnh viện có thùng chứa chất thải chiếm 76%, có bể
chứa rác chiếm 9,6%, có nắp đậy thùng rác hoặc mái che bể chứa rác chiếm 43%, rác
được để riêng biệt chiếm 19,3% trong tổng số bệnh viện, nơi chứa rác thải đảm bảo
vệ sinh chiếm 35,5%; 29% bệnh viện chôn CTR trong bệnh viện; có 3,2% bệnh viện
vừa chôn, vừa đốt trong bệnh viện. Hầu hết các CTR trong bệnh viện đều không được
xử lý trước khi đem đốt hoặc chôn. Một số ít bệnh viện có lò đốt CTYT nhưng lại
quá cũ và gây ô nhiễm môi trường [12].
Hiện nay cả nước có trên 13.000 cơ sở y tế, trong đó các bệnh viện trung bình
mỗi ngày thải ra khoảng 450 tấn chất thải, trong đó 47 tấn/ngày là chất thải rắn y tế
nguy hại phải được xử lý bằng những biện pháp phù hợp [9]. Việc xử lý rác thải y tế
còn quá nhiều bất cập bởi nguy cơ lây lan mầm bệnh nếu không có phương tiện vận
chuyển chuyên dụng và nếu chôn lấp có thể gây ô nhiễm nguồn nước và đến một lúc
nào đó sẽ không còn đất để chôn lấp. Mặt khác, việc xử lý rác thải nguy hại bằng lò
thiêu ngoài trời, thủ công đã và đang gây ra tình trạng ô nhiễm cũng như thải ra rất
nhiều chất độc hại ảnh hưởng tới sức khoẻ người dân [7].
Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), cả nước đã có gần 200 lò đốt CTYT (chiếm
73,3%). Trong số các bệnh viện có lò đốt, ở tuyến trung ương có 5/5 hoạt động thường
xuyên và có bảo dưỡng định kỳ theo đúng quy định; tuyến tính là 79/106 lò. Nhưng
chưa có một nghiên cứu thống kê cụ thể nào về các loại lò đốt hiện đang hoạt động
tại các bệnh viện ở Việt Nam và hiệu quả xử lý của các lò đốt thiết kế và chế tạo trong
nước và cũng chưa có số liệu về số lò đốt đạt tiêu chuẩn khí thải. Thiết kế cơ bản của
các lò đốt hiện có đều thiếu hệ thống xử lý khí thải, gây ô nhiễm môi trường, công
suất lò đốt sử dụng chưa hợp lý [11].
+ Thiêu đốt CTYT bằng lò thủ công hoặc đốt ngoài trời: hiện nay phần lớn
các bệnh viện trong cả nước, nhất là bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện thiêu đốt
CTYT bằng các lò đốt thủ công không có hệ thống xử lý khí thải hoặc đốt ngoài trời.
Nghiên cứu 6 bệnh viện tuyến tỉnh năm 2003 cho thấy: chỉ có 2/6 bệnh viện xử lý rác
bằng lò đốt chuyên dụng, còn 4/6 bệnh viện chôn lấp hoặc sử dụng lò đốt thủ công
và tuyến huyện là 97/201 lò đốt. Tuy nhiên chỉ có 197 lò đốt 2 buồng, còn lại là lò
thu gom, công suất lò đốt. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của một số công trình nghiên
cứu trong nước về tổng lượng CTYT phát sinh trên địa bàn cả nước có sự sai lệch:
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Khiển 50 - 70 tấn/ngày, kết quả nghiên cứu của
Nguyễn Huy Nga (Bộ Y tế) là 16,5 tấn/ngày [20]; kết quả nghiên cứu của Lê Doãn
Diên 37,5 tấn/ngày; theo báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2004 là 57,5
tấn/ngày [10]. Sở dĩ có sự chệnh lệch như vậy vì một số đề tài khi nghiên cứu về
lượng CTYT phát sinh có xét đến cả chất thải xây dựng, bùn bể phốt, hoặc thời điểm
nghiên cứu.
Theo quy chế hướng dẫn Quản lý chất thải y tế - QĐ số 43/2007/QĐ-BYT -
ngày 30/11/2007, những chất thải được phép thu gom phục vụ mục đích tái chế là các
vật liệu thuộc chất thải thông thường, không dính, không chứa các thành phần nguy hại
như lây nhiễm, chất hoá học nguy hại, chất phóng xạ, thuốc gây độc tế bào [5].
Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới và các chuyên gia thì Việt Nam
cần nghiên cứu các công nghệ mới để xử lý chất thải y tế tái chế, ưu tiên các công
nghệ thân thiện với môi trường như hấp khử khuẩn nhiệt ướt, vi sóng [44].
Các nghiên cứu về xử lý chất thải rắn y tế cho thấy các công nghệ xử lý CTRYT
hiện hành đều là công nghệ đốt. Công nghệ xử lý chất thải rắn bằng phương pháp khử
tiệt khuẩn bằng vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa chưa có một nghiên cứu tổng thể nào
để đánh giá, phân tích ưu nhược điểm của công nghệ khi áp dụng tại Việt Nam.
1.4. Công nghệ khử trùng hơi nước bão hòa kết hợp vi sóng [ 35 ].
a. Nguyên lý
Bản chất của sóng vi ba là sóng điện tử trường với tần số trong khoảng 300
Mhz đến 300 Ghz. Sóng vi ba được ứng dụng rộng rãi trên nhiều lĩnh vực như radar,
truyền tín hiệu và truyền năng lượng.
Sóng vi ba ở 2450 Mhz truyền nhiệt chủ yếu qua các phân tử nước trong rác
thải. Phân tử nước được hình thành bởi một nguyên tử oxy và hai nguyên tử hydro và
được liên kết với nhau bằng hai liên kết cộng hóa trị. Do ái lực với electron của oxy
lớn hơn so với hydro nên các electron dùng chung trong liên kết cộng hóa trị sẽ được
kéo về phía nguyên tử oxy nhiều hơn gây ra hiện tượng phân cực. Điều này khiến
nguyên tử oxy âm hơn còn đầu hai nguyên tử hydro dương hơn. Hay nói cách khác,
o
C và áp suất tương ứng từ 2 đến 3 bar
phải ổn định trong 1 khoảng thời gian nhất định để xử lý rác cùng với các loại rác có
hình thù, kích thước và tính chất khác nhau trong 1 khoang.
Quy trình khử khuẩn hơi nước bão hòa kết hợp vi sóng diễn ra theo 3 giai đoạn
chính được thể hiện trên hình sau:
Hình 1. Sơ đồ phân bố áp suất của thiết bị khử trùng
Giai đoạn 1: Hút chân không
Đây là giai đoạn cơ bản đối với tất cả các thiết bị khử khuẩn có sử dụng hơi
nước bão hòa. Bước hút chân không có tác dụng đưa hết không khí ra ngoài, tạo điều
kiện cho hơi nước bão hòa có thể điền đầy thể tích. Do hơi nước nhẹ hơn không khí
(phân tử khối của hơi nước là 18, trong khi của không khí là 29) nên trong trường
hợp không rút không khí trước khi đưa hơi nước bão hòa, hơi nước sẽ bay lên phía
trên của khoang khử khuẩn. Điều đó hạn chế đáng kể khả năng tiếp xúc của hơi nước
vào rác thải. Tại giai đoạn này thiết bị sẽ hút chân không xuống đến 0,15 bar để hút
tất cả khí còn sót tại các ống dài, tránh trường hợp sau này khí chiếm chỗ hơi nước
và không thể làm ẩm được toàn bộ chất thải.
Giai đoạn 2: Bơm hơi nước
Sau đó cấp hơi nước vào áp suất lên đến 1,2 bar, quá trình này hơi nước xâm
nhập để kéo theo một số khí có thể còn sót lại và làm ẩm lần 1. Để đảm bảo an toàn
thêm một lần nữa hút tiếp hơi nước lần 2, khi áp suất giảm xuống 0,3 bar là thiết bị
đã đạt hiệu quả chạy. Tiếp tục cấp hơi nước lần hai bão hòa lên đến khi áp suất lên
đến 2,9 bar lúc này nhiệt độ đạt 132
o
C.
Giai đoạn 3: Phát vi sóng
Ở nhiệt độ 132
o
C thiết bị sẽ phát vi sóng để duy trì nhiệt độ và khử khuẩn từ
Thời gian tối thiểu ( phút)
116
30
60
118
18
36
121
12
24
125
8
16
132
2
4
138
1
2
Tiêu chuẩn: 121
o
C trong 30 phút
Commented [NMK1]: Việt hóa hình này
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Khảo sát chất thải rắn y tế
Nghiên cứu phân loại và quản lý chất thải rắn y tế được tiến hành tại bệnh viện Lao
phổi Trung ương - Số 463 Đường Hoàng Hoa Thám, Quận Ba Đình, Thành phố Hà
Nội. Tại bệnh viện này, các nội dung được tiến hành khảo sát bao gồm:
Số liệu liên quan đến công tác quản lý chất thải y tế của bệnh viện (tại thời
- Hồi cứu số liệu số liệu liên quan đến công tác quản lý chất thải y tế của bệnh
viện. Lấy số liệu thứ cấp về công tác khử khuẩn chất thải rắn lây nhiễm bằng công
nghệ hơi nước bão hòa kết hợp vi sóng.
- Đánh giá hiệu quả khử trùng của công nghệ hơi nước bão hòa kết hợp vi
sóng: Để đánh giá hiệu quả khử trùng của thiết bị khóa luận sử dụng 2 phương pháp
đánh giá như sau:
2.2.3. Phương pháp định tính
Phương pháp này dùng để đánh giá hiệu quả xử lý của lò hấp thông qua chất
thải rắn y tế lây nhiễm.
- Quy trình thực hiện cho một mẻ hấp
+ Bước 1: Dùng pank và kéo vô trùng gắp và cắt nhỏ chất thải rắn lấy tại túi
chất thải lây nhiễm được phân loại tại nguồn cho vào 6 hộp nhựa vô khuẩn .
+ Bước 2: Lấy ngẫu nhiên 3 hộp nhựa có chất thải lây nhiễm sẽ được đưa vào
thiết bị khử trùng, đặt ở 3 vị trí nắp lò, giữa lò và đáy lò cùng với các chất thải chưa
xử lý.
+ Bước 3: Sau khi khử khuẩn song, vận chuyển 6 hộp (3 hộp đã qua hấp khử
trùng và 3 hộp chất thải chưa xử lý), bảo quản lạnh vận chuyển về phòng thí nghiệm
ngay trong ngày).
+ Các chỉ tiêu vi sinh vật thường gặp được lựa chọn để đánh giá dựa theo giảm
sức đề kháng của nhóm vi sinh vật đối với nhiệt và hóa chất khử trùng theo hướng
dẫn của GEF [34]. Nhóm có sức đề kháng cao nhất lựa chọn là nhóm vi sinh vật có
khả năng sinh nha bào, đại diện là vi khuẩn Geobacillus stearothermophilus và nhóm
có sức đề kháng trung bình hay gặp: Coliforms, Streptococcus Faecalis, Ps.
aeruginosa, Salmonella, Shigella, V.Cholera.
Bảng 2. Danh sách vi sinh vật theo thứ tự giảm sức đề kháng với nhiệt độ và
hóa chất khử trùng
Nhóm vi sinh vật
Loài
Vi sinh vật có khả năng sinh nha bào
( sức đề kháng cao nhất)
đếm khuẩn đường ruột.
+ Staphylococci: Kỹ thuật xét nghiệm vi sinh y học, NXBVH 1991.
+ Pseudomonas aeruginosa theo TCVN 8888: 2011 phương pháp phát hiện
và đếm Pseudomonas aeginosa - phương pháp màng lọc
+ Salmonella theo Standard Method 9260B
+ Shigella theo Standard Method 9260C
+ V.Cholera theo Standard Method 9260H
2.2.4. Đánh quá hiệu quả xử lý lò hấp bằng test BI theo GEF (Golbal health care
waster Project )
- Tiêu chí đánh giá hiệu quả lò hấp theo STAATT III (QCVN 55:2013/
BTNMT)
- Sử dụng Biological Indicator (BI) do hãng Raven sản xuất gồm:
+ BI Geobacillus stearothermophilus nồng độ 10
5
, 10
6
+ Đánh số các BI và lắp đặt các BI trong 3 hộp nhựa có chất thải chưa xử lý ở
ba vị trí: nắp lò, giữa lò và đáy lò
+ Khi quá trình hấp tiệt trùng kết thúc, lấy BI ra, ấn đầu BI vào theo hướng
dẫn sử dụng BI.
+ Trước khi để BI vào trong tủ ấm, bóp mạnh vào thân BI theo hướng dẫn sử
dụng BI
Nhiệt độ của tủ 55 – 60
o
C trong thời gian 24 giờ
- Số lượng mẫu CTLN được lấy để xác định thành phần vi sinh vật trước và
sau xử lý: 108 mẫu (54 mẫu trước xử lý và 54 mẫu sau xử lý) và 54 test BI.
+ Mẫu được lấy trong 3 ngày liên tiếp.
+ Mỗi ngày lấy vào 2 thời điểm sáng và chiều.
+ Mỗi thời điểm lấy mẫu ở 3 mẻ xử lý liên tiếp.