Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Công cuộc đổi mới ở Việt Nam được tiến hành từ năm 1986 bằng việc
chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường
theo định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước. Tạo điều kiện phát triển tất
cả các thành phần kinh tế theo định hướng XHCN là một trong những nhiệm vụ
chiến lược trong đường lối phát triển nền kinh tế ở nước ta. Trong quá trình đổi
mới kinh tế ở Việt Nam, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) đã đóng
một vai trò rất quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, tăng
GDP,… Chiếm một tỷ lệ khá lớn trong tổng số lượng doanh nghiệp ở Việt Nam,
các DNNQD hiện nay đang hoạt động trong môi trường kinh tế chưa hoàn toàn
thuận lợi cả về tầm vĩ mô và vi mô, gặp rất nhiều khó khăn về công nghệ, tiếp
cận dịch vụ tài chính, vốn đầu tư, đặc biệt là vốn trung và dài hạn.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam tới năm 2010 là phát
triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong đó chú ý tới khu vực DNNQD.
Việc xem xét thực trạng của các DNNQD hiện nay đang trở nên bức thiết để tìm
ra những biện pháp hữu hiệu nhằm khai thông môi trường đầu tư, tạo điều kiện
DNNQD phát triển các hoạt động kinh doanh, trong đó đặc biệt chú ý tới mối
quan hệ tín dụng giữa các Ngân hàng thương mại (NHTM) và các DNNQD.
Xuất phát từ quan điểm trên và thực trạng của khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh, qua thời gian thực tập tại Ngân hàng No&PTNT Bà Triệu tôi đã mạnh
dạn chọn đề tài: “Mở rộng hoạt động cho vay đối với DNNQD tại chi nhánh
Ngân hàng No&PTNT Bà Triệu”, với kết cấu gồm 3 chương ngoài phần mở
đầu và kết luận:
Chương 1: Tổng quan về cho vay đối với DNNQD của NHTM
Chương 2: Thực trạng cho vay đối với DNNQD tại chi nhánh NH
No&PTNT Bà Triệu
Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay đối với DNNQD tại chi
nhánh Bà Triệu
PHẠM THANH HUYỀN – TCDN 44B 1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước hoạt động theo luật doanh nghiệp, đó
là các công ty Trách nhiệm hữu hạn Nhà nước do Trung ương và địa
phương quản lý.
- Công ty cổ phần vốn trong nước mà Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều
lệ.
+ DNNQD: Là các doanh nghiệp có vốn trong nước, mà nguồn vốn
thuộc sở hữu tập thể, tư nhân, một người hay một nhóm người có sở hữu Nhà
nước nhưng chiếm từ 50% vốn điều lệ trở xuống, gồm:
PHẠM THANH HUYỀN – TCDN 44B 3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Hợp tác xã: Là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu
cầu, lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định
của pháp luật để phát huy sức mạnh tập thể và từng xã viên nhằm giúp
nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh và cải
thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước (Đ1, C1, Luật
HTX).
- Doanh nghiệp tư nhân (DNTN): Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ
và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động
của doanh nghiệp.
1
- Công ty cổ phần tư nhân: Là doanh nghiệp mà vốn điều lệ được chia
thành nhiều phần bằng nhau được gọi là cổ phần, người nắm giữ cổ phần
gọi là cổ đông. Các cổ đông có thể là cá nhân, tổ chức không thuộc Nhà
nước. Số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa.
- Công ty cổ phần có vốn Nhà nước nhỏ hơn hoặc bằng 50% vốn điều lệ:
Là công ty cổ phần tư nhân nhưng có thêm cổ đông là Nhà nước và vốn
đóng góp của Nhà nước nhỏ hơn hoặc bằng 50% vốn điều lệ.
- Công ty hợp danh: Là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất 2 thành viên
là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên
chung (gọi là thành viên hợp danh); ngoài ra có thể có thành viên góp
phát triển nhanh và ổn định của nền kinh tế đất nước.
1.1.2. Vai trò của DNNQD
Loại hình doanh nghiệp nào cũng có vai trò của nó, xác định vai trò của
DNNQD để tạo điều kiện cho các DNNQD ra đời, phát triển và nâng cao hơn
nữa vai trò của mình làm tăng sức mạnh cho đất nước. Vai trò của các DNNQD
thể hiện ở các khía cạnh sau:
1.1.2.1. Tác động mạnh mẽ đến dịch chuyển cơ cấu kinh tế quốc dân theo hướng
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước:
- Theo cơ cấu nghành: Trước đây, DNNQD xuất hiện rất ít, chủ yếu trong
các nghành công nghiệp, còn các nghành khác như du lịch, dịch vụ… rất ít. Đến
nay, DNNQD có mặt ở hầu hết các ngành sản xuất kinh doanh và đặc biệt
DNNQD phát triển mạnh trong lĩnh vực công thương nghiệp và dịch vụ. Hiện
nay, DNNQD tập trung ở khu vực dịch vụ là 56,9%, trong đó thương nghiệp,
khách sạn và nhà hàng chiếm 43,9%. Tiếp đến là khu vực công nghiệp – xây
PHẠM THANH HUYỀN – TCDN 44B 5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
dựng chiếm 37,7%, riêng công nghiệp là 25,2%
1
. Trong thương mại, kinh tế
ngoài quốc doanh đạt mức tăng 26%, cũng là mức cao nhất và chiếm 82% tổng
mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ (năm 2004). Xu hướng tỷ trọng DNNQD sẽ còn
tăng nhanh hơn vì đây là khu vực mà Nhà nước đang khuyến khích đầu tư và
phát triển.
- Theo cơ cấu thành phần kinh tế: Trước đây các doanh nghiệp phát triển
chủ yếu ở khu vực doanh nghiệp Nhà nước, hiện nay chỉ còn hơn 4000 doanh
nghiệp Nhà nước hoạt động trong một số nghành và lĩnh vực trọng yếu của đất
nước. Xu hướng trong tương lai, các doanh nghiệp Nhà nước sẽ tiến hành cổ
phần hóa, số lượng doanh nghiệp Nhà nước sẽ giảm xuống. Trong khi đó
DNNQD tăng rất nhanh, trong đó tăng nhanh nhất là công ty cổ phần, công ty
trách nhiệm hữu hạn. Thành phần doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng
doanh nghiệp đã thu hút và tạo rất nhiều công ăn việc làm mới cho người lao
động. Tổng số lao động làm việc trong các doanh nghiệp đang hoạt động đến
nay đạt gần 5,22 triệu người. Trong đó, lao động trong doanh nghiệp Nhà nước
có 2,26 triệu người, giảm so với năm 2004 (từ 48,5% xuống còn 43,3%). Số lao
động làm việc trong các DNNQD đạt khoảng 2,1 triệu người, chiếm 40% tổng
số lao động, cao hơn tỷ trọng 36.7% (tức tăng 20%) so với năm 2004. Số lao
động làm việc trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt khoảng 86
vạn người, chiếm 16.6%, cao hơn tỷ trọng 14.8% của năm 2004. Ta nhận thấy,
lao động trong khối DNNQD đang tăng mạnh và tăng với tốc độ nhanh nhất so
với 2 khu vực kinh tế còn lại. Điều đó cho thấy DNNQD đang ngày càng chiếm
vị trí quan trọng trong quá trình thu hút lao động và giải quyết việc làm cho một
bộ phận lớn dân cư với tỷ trọng thu hút lao động ngày càng tăng và tốc độ tăng
nhanh nhất so với 2 khu vực còn lại.
PHẠM THANH HUYỀN – TCDN 44B 7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.1.2.3. Góp phần tăng thu nhập quốc dân
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư
1
DNNQD đang ngày càng đóng góp nhiều hơn vào tổng thu nhập quốc dân
của đất nước, tỷ trọng đóng góp vào GDP của DNNQD trong 3 năm 2002, 2003,
2004 chiếm nhiều nhất so với khối kinh tế Nhà nước và khối kinh tế có vốn đầu
nước ngoài. Mặc dù tỷ trọng đóng góp vào GDP của khu vực DNNQD không
thay đổi nhiều, có giảm chút ít qua các năm nhưng dễ dàng nhận thấy vai trò của
khu vực kinh tế DNNQD là rất lớn, luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất qua các năm,
đóng góp 46.86% GDP trong năm 2002, 46.45% GDP năm 2003 và 45.61%
GDP năm 2004. Trong khi đó, doanh nghiệp Nhà nước có đóng góp trung bình
39% GDP hàng năm và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có đóng góp
trung bình 14.5% GDP hàng năm.
1.1.2.4.Tăng thu Ngân sách Nhà nước
không ngừng nâng cao, đầu tư đổi mới tài sản, trang thiết bị, công nghệ - kỹ
thuật. Chính thiết bị kỹ thuật mới, công nghệ mới là động lực cho quá trình phát
triển.
Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nhìn chung năng động, thích ứng
nhanh với những thay đổi của thị trường, góp phần giữ gìn và phát triển các
ngành nghề truyền thống, tạo nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động,
góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội. Nếu được tổ chức tốt, quan tâm
tạo điều kiện phát triển thì các DNNQD sẽ là nơi áp dụng các công nghệ tiên
PHẠM THANH HUYỀN – TCDN 44B 9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tiến, hiện đại tiến tới trở thành khu vực kinh tế có quy mô phát triển lớn mạnh.
Sự phát triển của khu vực ngoài quốc doanh là nhân tố chủ yếu tạo môi trường
cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế, phá bỏ dần tính độc quyền của khu vực
kinh tế Nhà nước. Thể chế kinh tế thị trường ngày càng thích ứng hơn với cơ
chế kinh tế mới. Quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế của nước ta sẽ
không thực hiện được nếu không có sự tham gia của khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh.
1.1.3. Đặc điểm của DNNQD
Các DNNQD ra đời muộn nhưng lại là thành phần kinh tế đang được chú
ý hiện nay. Quá trình hình thành và phát triển của các DNNQD phải luôn được
đặt trong mối quan hệ với các thành phần kinh tế khác, và phải chú ý tới đặc
điểm của các DNNQD để phát triển một cách hiệu quả hơn. Các DNNQD có
một số đặc điểm sau:
- Thành lập và hoạt động chủ yếu dựa trên tính tư hữu về tư liệu sản xuất.
Việc phân loại DNNQD với doanh nghiệp Nhà nước hay doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài thực chất là đề cập tới vấn đề sở hữu. DNNQD là những
doanh nghiệp dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, trong đó bao gồm các
hình thức sở hữu cá nhân, sở hữu gia đình, sở hữu tập thể và sở hữu hỗn hợp.
Việc phân loại thành các hình thức kinh doanh ngoài quốc doanh như công ty
TNHH một thành viên, công ty TNHH 2 thành viên trở lên, công ty cổ phần,
PHẠM THANH HUYỀN – TCDN 44B 11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Ta nhận thấy rằng, khu vực DNNQD chiếm tỷ trọng khá lớn so với doanh
nghiệp Nhà nước, trên 95% tổng số và ngày càng có xu hướng tăng nhanh, khi
mà nền kinh tế đang trên đà phát triển và đang cần sự tham gia mạnh mẽ và
năng động của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Ta cũng nhận thấy tốc độ tăng
của DNNQD tăng nhanh hơn so với doanh nghiệp Nhà nước, bình quân tăng gấp
1.3 lần qua các năm, trong khi đó doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 tăng khá
mạnh gấp 2.2 lần so với năm 2002, năm 2004 tăng gấp 1.1 lần so với năm 2003
và năm 2005 tốc độ tăng chỉ bằng 94% so với năm 2004. DNNQD phát triển rất
nhanh đặc biệt tại các đô thị và các thành phố lớn. Trên địa bàn thành phố Hà
Nội, nếu năm 2001 mới có 2818 doanh nghiệp, thì đến tháng 5/2005 đã có
25479 doanh nghiệp. Như vậy sau hơn 3 năm đã có hơn 22000 DNNQD ra đời.
Bình quân mỗi năm có trên 7000 DNNQD được thành lập. DNNQD phát triển
đã góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội đất nước và ngày
càng trở thành lực lượng kinh tế quan trọng.
- Khả năng tích lũy và huy động vốn còn hạn chế trong khi nhu cầu vốn là
rất lớn. Vì DNNQD ra đời muộn trong môi trường pháp luật mới tạo dựng còn
nhiều vướng mắc và sửa đổi, mặt khác DNNQD với quy mô vốn nhỏ, năng lực
quản lý chưa cao, thường làm ăn nhỏ lẻ chưa có chiến lược phát triển lâu dài nên
khả năng tích lũy vốn từ kinh doanh thấp. Lượng vốn tự có của các DNNQD chỉ
đáp ứng từ 20 – 30% yêu cầu của chính bản thân doanh nghiệp. Các chỉ tiêu
hiệu quả của DNNQD thấp, tỷ suất lợi nhuận/ vốn thấp quá xa so với lãi suất
ngân hàng làm hạn chế khả năng huy động vốn của DNNQD từ các tổ chức tín
dụng, trong khi nhu cầu vốn để đổi mới và trang bị máy móc công nghệ, cơ sở
hạ tầng là rất lớn.
1.2. Hoạt động cho vay của NHTM đối với DNNQD
1.2.1. Khái quát về cho vay của NHTM
Ngân hàng là một trong những tổ chức tín dụng quan trọng nhất của nền
kinh tế, cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là
thiết cho một nền kinh tế phát triển.
PHẠM THANH HUYỀN – TCDN 44B 13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.2.2. Nguyên tắc cho vay của NHTM
Hoạt động cho vay là hoạt động rủi ro nhất của các NHTM nhưng lại là
hoạt động có tỷ trọng lớn nhất tại các NHTM Việt Nam hiện nay. Do đó trong
quá trình hoạt động cần phải quản lý cho vay một cách chặt chẽ, nhằm đảm bảo
an toàn và khả năng sinh lời cao nhất. Ngoài việc đảm bảo các điều kiện cho vay
đối với DNNQD như: Là pháp nhân, có năng lực pháp luật dân sự và chịu trách
nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật; có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ
trong thời hạn cam kết; có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ
khả thi, hiệu quả phù hợp với quy định của pháp luật, NHTM luôn phải đảm bảo
hai nguyên tắc cho vay quan trọng sau:
1.2.2.1. Khách hàng vay vốn phải sử dụng vốn vay đúng mục đích
Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích đã thỏa thuận
với Ngân hàng, không được trái với quy định của pháp luật và quy định của
Ngân hàng cấp trên. Mỗi Ngân hàng có phạm vi, kế hoạch hoạt động khác nhau,
mục đích của việc cho vay được ghi rõ trong hợp đồng tín dụng nhằm đảm bảo
Ngân hàng không tài trợ cho các hoạt động trái phép và việc tài trợ đó phù hợp
với chiến lược phát triển của Ngân hàng cũng như mục tiêu phát triển của đất
nước. Đối với ngân hàng, việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích hay
không có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thu hồi nợ vay của ngân hàng sau này.
Còn về phía khách hàng, việc sử dụng vốn vay đúng mục đích sẽ góp phần nâng
cao hiệu quả vốn vay đồng thời giúp doanh nghiệp đảm bảo khả năng hoàn trả
nợ cho ngân hàng. Từ đó, nâng cao uy tín của khách hàng đối với ngân hàng và
củng cố quan hệ vay vốn giữa khách hàng và ngân hàng sau này.
1.2.2.2. Khách hàng phải cam kết hoàn trả cả vốn và lãi đúng thời hạn
Khách hàng phải cam kết hoàn trả cả vốn và lãi với thời gian xác định
được ghi rõ trong hợp đồng tín dụng. Tùy vào từng loại hình cho vay mà khách
hàng có thể trả vốn và lãi theo những cách thức khác nhau được quy định rõ
PHẠM THANH HUYỀN – TCDN 44B 15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Như vậy cho vay vốn chi phí sản xuất (vốn lưu động) có thể là cho vay
trung, dài hạn, như: cho vay các doanh nghiệp có chức năng đóng mới, sửa chữa
tàu biển, các doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh trên 1 năm. Ngược lại, cho vay
để doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà xưởng, máy móc thiết bị (tài trợ cho tài
sản cố định), nhưng doanh nghiệp có nguồn trả nợ do vậy ngân hàng có thể xem
xét cho doanh nghiệp vay ngắn hạn.
1.2.3.2. Theo mức độ tín nhiệm với khách hàng
Theo mức độ tín nhiệm với khách hàng đề cập đến việc doanh nghiệp có
đủ uy tín để ngân hàng cấp tín dụng yêu cầu có tài sản đảm bảo hay không. Do
đó cho vay theo mức độ tín nhiệm với khách hàng bao gồm cho vay có tài sản
đảm bảo và cho vay không có tài sản đảm bảo.
- Cho vay không có tài sản đảm bảo: Là cho vay không cần tài sản đảm
bảo, tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Đây là hoạt động
cho vay dựa trên uy tín của doanh nghiệp đối với ngân hàng qua quá trình xem
xét khả năng tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh, quản trị có hiệu quả.
Ngân hàng có thể cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp mà không cần nguồn thu
nợ thứ hai bổ sung.
- Cho vay có tài sản đảm bảo: Là loại hình cho vay dựa trên cơ sở các
đảm bảo như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Đối với những
khách hàng không tạo được uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn tại ngân
hàng phải có thêm tài sản đảm bảo. Nguồn đảm bảo này được coi như cơ sở
pháp lý bổ sung cho khoản vốn vay tại ngân hàng.
1.2.3.3. Theo phương thức cho vay
Các NHTM hiện nay đang thực hiện đa dạng hóa các hình thức nghiệp vụ
tín dụng, mở rộng tín dụng có hiệu quả và phù hợp hơn với nhu cầu cũng như thị
hiếu của khách hàng. Theo phương thức cho vay có khá nhiều hình thức cho vay
như: cho vay từng lần, cho vay thấu chi, cho vay theo hạn mức, cho vay luân
chuyển, cho vay hợp vốn.
PHẠM THANH HUYỀN – TCDN 44B 17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ tín dụng dựa trên sự luân chuyển
của hàng hóa. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn và Ngân hàng có thể
cho vay để doanh nghiệp mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán được
hàng. Tuy nhiên, đầu năm hoặc đầu quý doanh nghiệp phải làm đơn xin vay luân
chuyển, thỏa thuận với ngân hàng về phương thức vay, hạn mức tín dụng, các
nguồn cung cấp hàng hóa và khả năng tiêu thụ.
Cho vay luân chuyển thường áp dụng đối với các doanh nghiệp thương
nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ
vay trả thường xuyên và có uy tín đối với ngân hàng.
- Cho vay hợp vốn: Là việc nhiều tổ chức tín dụng (2 tổ chức tín dụng trở
lên) cùng cho vay với một dự án của khách hàng. Cho vay hợp vốn thường xảy
ra các trường hợp sau:
◊ Nhu cầu xin vay của khách hàng vượt giới hạn cho vay của
Ngân hàng (15% vốn tự có).
◊ Khả năng tài chính và nguồn vốn của một ngân hàng không đủ
đáp ứng nhu cầu cho vay của một dự án.
◊ Nhu cầu phân tán rủi ro của ngân hàng.
◊ Bên nhận tài trợ có nhu cầu huy động vốn từ nhiều tổ chức tín
dụng khác nhau.
- Cho vay theo dự án đầu tư: Là việc Ngân hàng cho vay vốn để thực hiện
các dự án đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Trong đó dự án đầu tư
là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc tạo vốn để tạo mới, mở rộng
hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số
lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ
trong khoảng thời gian xác định (chỉ bao gồm hoạt động đầu tư trực tiếp).
Theo Nghị định 51/1999/NĐ – CP các hoạt động đầu tư gồm:
◊ Đầu tư dây chuyền sản xuất, mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ;
đầu tư thành lập phân xưởng sản xuất mới; lắp đặt dây chuyền sản
các khế ước, các chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán. Để
thực hiện việc vay vốn theo hình thức này thì doanh nghiệp đi vay phải có các
giấy tờ có giá và còn thời hạn thanh toán đem đến ngân hàng. Nếu ngân hàng
chấp nhận sẽ đồng ý cấp vốn cho khách hàng và đến thời hạn thanh toán giấy tờ
có giá thì Ngân hàng sẽ đòi nợ chủ thể phát hành giấy tờ có giá đó.
PHẠM THANH HUYỀN – TCDN 44B 19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Cho vay trực tiếp: Là hình thức cho vay chủ yếu của các NHTM. Ngân
hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp
hoàn trả nợ cho ngân hàng.
Ngoài các loại hình cho vay trên, ngân hàng còn thực hiện các nghiệp vụ
bảo lãnh cho khách hàng bằng uy tín của mình. Bảo lãnh là cam kết của ngân
hàng về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân hàng
khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết. Người ta gọi hành
vi cam kết bảo lãnh của ngân hàng là tín dụng bằng chữ ký.
Tóm lại: Các ngân hàng đang thực hiện cho vay theo nhiều cách khác
nhau nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của hàng triệu khách hàng. Các
nghiệp vụ cho vay không ngừng được mở rộng và ngày càng hoàn thiện theo
hướng mang lại tiện ích nhiều hơn cho người sử dụng vốn, đồng thời đảm bảo
an toàn và lợi ích của ngân hàng. Tại ngân hàng No&PTNT Việt Nam đã cùng
với khách hàng doanh nghiệp lựa chọn và đa dạng hóa nhiều hình thức cho vay
trên cơ sở nhu cầu sử dụng từng khoản vốn vay của doanh nghiệp và khả năng
kiểm tra, giám sát việc khách hàng sử dụng vốn vay của Ngân hàng. Hiện nay
ngân hàng No&PTNT Việt Nam chủ yếu áp dụng các phương thức cho vay sau
đối với DNNQD: cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay theo
dự án đầu tư, cho vay hợp vốn, cho vay trả góp, cho vay theo hạn mức thấu chi.
Đây là các hình thức cho vay phổ biến và truyền thống tại các NHTM hiện nay
cũng như tại NH No&PTNT Việt Nam, phù hợp với tính chất hoạt động và nhu
cầu xin vay vốn của khách hàng tại ngân hàng.
1.2.4. Quy trình cho vay đối với doanh nghiệp tại Ngân hàng No&PTNTVN
- Hợp đồng kinh
doanh
- Quản lý
- Số liệu
THƯƠNG LƯỢNG
- Kỳ hạn
- Thanh toán
- Các điều khoản
- Bảo đảm tiền vay
- Các vấn đề khác
PHÊ DUYỆT
- Cán bộ quản
trị rủi ro
-Giám đốc/
Tổng giám đốc
THỦ TỤC HỒ SƠ & GIẢI NGÂN
ĐỀ XUẤT TÍN DỤNG
THỦ TỤC HỒ SƠ
- Dự thảo hợp đồng
- Xem xét hồ sơ
- Kiểm tra tài sản đảm bảo
- Miễn bỏ giấy tờ pháp lý
- Các vấn đề khác
GIẢI NGÂN
- Thủ tục hồ sơ
hoàn tất
- Chuyển tiền
THU NỢ, THANH LÝ VÀ
GIẢI CHẤP TÀI SẢN
ĐẢM BẢO
trong hoạt động cho vay. Về nguyên tắc, các quy trình cho vay của các NHTM
có các nội dung cơ bản tương tự nhau, nhưng nội dung chi tiết lại có nhiều khác
biệt. Điều này phụ thuộc vào quy mô của Ngân hàng, cấu trúc các loại cho vay,
năng lực của đội ngũ nhân sự, mức độ ứng dụng công nghệ ngân hàng. Việc xây
dựng quy trình cho vay hợp lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động cho
vay, giảm thiểu rủi ro và nâng cao doanh lợi. Đối với các DNNQD, việc đảm
bảo đầy đủ các giấy tờ và thủ tục của quy trình cho vay sẽ tạo điều kiện để
doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng hơn với nguồn vốn vay của Ngân hàng.
- Chính sách Marketing: Là việc thực hiện quảng bá các chính sách tín
dụng và điều kiện vay vốn nhằm mục đích giúp người vay hiểu và thực hiện
đúng các bước trong hợp đồng xin vay. Đồng thời, khách hàng có thể giám sát
việc triển khai thực hiện của cán bộ Ngân hàng, sau đó thông tin trở lại cho ngân
PHẠM THANH HUYỀN – TCDN 44B 22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hàng những điều kiện đề xuất, kiến nghị cần chỉnh sửa, hoàn thiện các điều kiện,
chính sách đó. Chính sách Marketing cũng là việc quảng bá hình ảnh ngân hàng
mình với những ưu thế hay những sản phẩm vượt trội về chất lượng và an toàn
hiệu qủa. Chính sách Marketing có thể thực hiện thông qua rất nhiều cách khác
nhau như: thông qua các phương tiện truyền thông, thông qua các hội nghị
khách hàng, qua các bảng hiệu, biểu hiện, hướng dẫn tại trụ sở giao dịch…. Hiệu
quả của chính sách Marketing có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động cho vay
DNNQD tại mỗi Ngân hàng.
- Chính sách ưu đãi khách hàng, mở rộng quan hệ với khách hàng cũng
chính là một phần trong tổng thể chính sách Marketing của Ngân hàng, nhưng
đưa ra thành một chính sách riêng biệt để tiếp cận khách hàng một cách hiệu quả
hơn. Mở rộng quan hệ với Ngân hàng đồng nghĩa với việc tìm cách thu hút
khách hàng mới, giữ chân và mở rộng quan hệ tín dụng với khách hàng cũ. Kết
quả của chính sách quan hệ khách hàng là tăng số lượng khách hàng đồng thời
tăng số lượng và chất lượng các khoản vay. Doanh nghiệp sẽ thấy mình đứng ở
vị chí nào trong mối quan hệ tín dụng với ngân hàng để từ đó ra quyết định có
hàng khi mà hiện nay, công nghệ thông tin ở nước ta đang phát triển với tốc độ
cao trên tất cả các ngành nghề. Sự phát triển của công nghệ thông tin sẽ tạo ra
kênh huy động vốn mới, đồng thời cũng tạo thêm một kênh mới trong việc tìm
kiếm khách hàng. Với hệ thống công nghệ thông tin kết nối giữa các NHTM với
nhau, giữa các chi nhánh trong nội bộ ngân hàng, thông tin sẽ được cập nhập
liên tục với tốc độ nhanh nhất bao gồm những thông tin về khách hàng, môi
trường kinh doanh của khách hàng, những rủi ro khách hàng gặp phải và có thể
gây ra rủi ro tín dụng cho Ngân hàng…. Thông tin càng đầy đủ chính xác thì khả
năng phòng ngừa rủi ro càng lớn, chất lượng tín dụng càng được nâng cao. Mặt
khác, một Ngân hàng càng có nhiều thông tin thì càng có thể đưa ra lời khuyên
hữu ích cho khách hàng của mình, làm cho khách hàng tin tưởng từ đó sẽ mở
rộng hoạt động cho vay.
PHẠM THANH HUYỀN – TCDN 44B 24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.3.1.5. Các nhân tố chủ quan khác
Ngoài những nhân tố trên còn có những nhân tố chủ quan khác ảnh hưởng
tới hoạt động cho vay các DNNQD của Ngân hàng như: Thị trường nơi ngân
hàng hoạt động…. Nơi ngân hàng hoạt động, đặt trụ sở chính hay đặt chi nhánh
có thể là nơi tập trung đông dân cư, nơi tập trung nhiều NHTM với mức độ cạnh
tranh cao… đều ảnh hưởng lớn tới khả năng thu hút khách hàng, thu hút các
DNNQD về doanh số cho vay cũng như số lượng các khoản vay.
1.3.2. Nhân tố khách quan
1.3.2.1. Các nhân tố từ phía doanh nghiệp
- Tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:
Điều này thể hiện sức mạnh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có tình hình
tài chính ổn định, hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả thì với 1 dự án mới
vay vốn trình ngân hàng, doanh nghiệp đã tạo được thiện cảm ban đầu với ngân
hàng là muốn được cộng tác và lập quan hệ tín dụng với doanh nghiệp. Điều này
có lợi cho cả bản thân doanh nghiệp và ngân hàng. Doanh nghiệp sẽ dễ dàng tiếp
cận được với nguồn vốn tín dụng, còn ngân hàng sẽ có thêm 1 khách hàng mới